1. Vài nét về chế độ làm việc cho người khuyết tật ở Nhật Bản Tính đến cuối năm 2012, dân số Nhật Bản là khoảng 127,5 triệu người. Trong đó, số người khuyết tật trên 7,5 triệu người, chiếm gần 6% dân số. Người khuyết tật ở Nhật Bản được phân làm hai loại: người khuyết tật cơ thể và người khuyết tật trí tuệ. Trong hơn 1/4 thế kỷ qua, Chính phủ Nhật Bản đã quan tâm nhiều đến người khuyết tật, dành một khoản tài chính lớn để trợ cấp cho những người khuyết tật nặng. Chính phủ cũng đã ban hành nhiều đạo luật liên quan đến lĩnh vực này. Trong đó, Bộ luật “Xúc tiến lao động là người khuyết tật” có quy định mỗi doanh nghiệp phải tiếp nhận 1,8% lao động là người khuyết tật trong tổng số biên chế của đơn vị. Tuy nhiên, hiện nay con số này trung bình là khoảng 1,5%, những doanh nghiệp nào không nhận đủ 1,8% đều bị phạt. Bởi vậy, các doanh nghiệp Nhật Bản luôn chú trọng tới vấn đề này trong hoạt động quản lý nguồn nhân lực. Tại Nhật, các tập đoàn lớn đều có “Công ty con” với 100% người khuyết tật làm việc và hầu hết làm gia công cho các “Công ty mẹ” nhằm đảm bảo tỷ lệ lao động là người khuyết tật tại các tập đoàn. Do có nhiều hình thức như vậy nên các tập đoàn lớn đã đảm bảo tỷ lệ lao động là người khuyết tật vào làm việc. Trong toàn quốc có khoảng 176 “công ty con” để đảm bảo cho 176 tập đoàn “Công ty mẹ” có đủ tỷ lệ người khuyết tật làm việc[1]. Tỉ lệ lao động là người khuyết tật trong tổng số lao động của từng công ty (%) Tỉ lệ nhân viên là người khuyết tật (%) 2008 2009 2010 2011 2012 1. Toshiba   2,22 2,21 2,13 2,17 2. Sharp 2,02 2,09 2,19 2,28   3. Mitsubishi 2,05 2,11 2,23     4. Fujitsu 1,81 1,9 2,01 2,05   5. Hitachi 2,06 2,01 2,05 2,00   6. Sony 2,22 2,27 2,31 2,43   Tỉ lệ trung bình tại tất cả các công ty tư nhân (dựa theo điều tra của Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi Nhật Bản) 1,59 1,63 1,68 1,65   2. Một số biện pháp tuyển dụng và sử dụng lao động là người khuyết tật tại Nhật Tháng 2/2005, Toshiba With được thành lập như một công ty con đặc biệt, phù hợp với chính sách cơ bản của Toshiba nhằm tuyển dụng lao động là người khuyết tật. Công ty được đặt tên là “With” với hy vọng tạo ra môi trường làm việc mà người khuyết tật và người không có khuyết tật có thể sống và làm việc cùng nhau. Hiện tại có 25 nhân viên, đa số là người khuyết tật về tinh thần đang làm việc tại 5 bộ phận kinh doanh của tập đoàn Toshiba. Năm 2010, công ty thành lập một hệ thống liên kết 7 bộ phận hỗ trợ lao động người khuyết tật, bao gồm Phòng Quản lý và Nhân lực và Trung tâm thiết kế Toshiba. Hệ thống này giúp công ty thiết kế và triển khai các giải pháp toàn diện để hỗ trợ lao động là người khuyết tật. Công ty Sharp đã lập một website đưa các thông tin về sáng kiến tuyển dụng người khuyết tật vào tập đoàn Sharp. Công ty cũng thực các bài giảng ngôn ngữ ký hiệu nhằm tuyển dụng người lao động có vấn đề về thính giác. Tại Mitsu, công ty đã thành lập Công ty TNHH Mitsui Bussan Business Partners (trước đây là công ty trách nhiệm hữu hạn Bussan Servive), là một công ty con đầu tiên tuyển dụng lao động là người khuyết tật. Một số lượng lớn người khuyết tật đang làm việc tại các bộ phận quản lý và hành chính như in ấn, thư từ, xử lý dữ liệu, xây dựng và bố trí du lịch kinh doanh, nhân sự và quản lý văn phòng, phúc lợi và bảng lương… Được thành lập vào năm 1983, Công ty TNHH Mitsubishi Shoji & Sun là một công ty con được chỉ định đặc biệt của Tập đoàn Mitsubishi. Hoạt động theo triết lý “chung sống” giữa người khuyết tật và không khuyết tật, “nổi bật” như một công ty và “giá trị doanh nghiệp” mới, công ty cung cấp các dịch vụ như hệ thống bảo trì và quản lý thông tin, đó là một lĩnh vực hiếm giành cho một công ty con. Trong năm 2009, công ty được lựa chọn “mô hình doanh nghiệp tăng cường việc làm cho người khuyết tật tinh thần” của Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi, được công nhận là công ty đóng góp vào bí quyết giải quyết việc làm và cung cấp nơi làm việc cho những người bị thiểu năng về trí tuệ. Ở Fujitsu, nhiều người khuyết tật đang làm việc tại các vị trí, bao gồm các nhà nghiên cứu, các nhà phát triển, nhân viên bán hàng và kỹ sư hệ thống. Khi tuyển dụng nhân viên mới, ngoài việc tổ chức các cuộc hội thảo, Fujitsu cố gắng để nhiều người khuyết tật tới Fujitsu phỏng vấn bằng cách tham gia vào các sự kiện việc làm do các công ty chuyên tìm kiếm việc làm tổ chức. Fujitsu cũng đưa ra thông báo thực tế tuyển người khuyết tật làm việc tại Fujitsu trong tờ rơi và trên các trang web. Trong việc xác định nhiệm vụ nơi làm việc, công ty Fujitsu cùng thảo luận để tạo khả năng tốt nhất cho cá nhân, và sau khi xác định xong sẽ tổ chức các cuộc phỏng vấn. Vì vậy, công ty thực hiện theo dõi lâu dài từ phát triển nguồn nhân lực ban đầu cho đến khi tuyển lao động. Ngoài ra, Fujitsu tổ chức các diễn đàn hình thành các mạng lưới người lao động khuyết tật và tạo ra môi trường làm việc nơi mọi người có thể tạo ra kết quả bất kỳ không kể đến khuyết tật mà họ có thể có. Hơn nữa, công ty công bố công khai trên các mô hình vai trò của mạng nội bộ và hướng dẫn sử dụng cho những nơi làm việc có thể chấp nhận người lao động khuyết tật. Công ty Hitachi đang phát triển một cơ sở làm việc mà bất kỳ ai cũng có thể đóng góp hết sức mình. Công ty tiếp tục tuyển dụng người khuyết tật và thúc đẩy sự hiểu biết về người khuyết tật trong toàn tập đoàn tại Nhật Bản. Trong năm tài chính 2011, công ty tiếp tục thuê lao động là người khuyết tật. Công ty tổ chức các hội chợ việc làm cho người khuyết tật 2 lần, tăng 1 lần so với trước đây. Công ty đã tổ chức 5 hội thảo nghiên cứu trong năm để tuyển dụng lao động khuyết tật; mục tiêu là để làm sâu sắc thêm sự hiểu biết và chia sẻ thông tin giữa các công ty.   3. Vài nét về công ty con đặc biệt thuộc tập đoàn Hitachi Bốn công ty con đặc biệt trong Tập đoàn Hitachi được dành riêng để tạo ra việc làm cho người khuyết tật. Trong năm tài chính 2011 - 2012 người khuyết tật về thể chất, tinh thần đã làm việc tại các công ty con, tăng từ con số 180 người so với năm 2010. Những người này làm việc với các nhân viên của công ty mẹ và các công ty chi nhánh trong cùng một địa điểm, thu thập và gửi thư, vệ sinh văn phòng, làm việc trong nhà ăn và xử lý công việc văn phòng. Một công ty con đặc biệt của công ty TNHH Hitachi Mentals có trụ sở tại Kumagaya, tỉnh Saitama. Ở đây, nhân viên khuyết tật về thể chất, tinh thần đã làm việc trong các quy trình sản xuất kể từ khi sáng lập của công ty vào năm 1998: tham gia sản xuất nam châm vĩnh cửu, hoàn thiện bánh xe bằng nhôm và làm sạch.   4. Thúc đẩy việc làm và hiểu biết của người khuyết tật tâm thần Xây dựng mạng nội bộ cho các dự án thúc đẩy việc làm của người khuyết tật tinh thần. Tháng 3/2010 chứng kiến ​​sự hoàn thành mô hình dự án của Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi mang tên “Thúc đẩy Việc làm cho người khuyết tật tinh thần”. Công ty Hitachi đã tham gia trong dự án đó và hiện vẫn còn sử dụng các trang web của dự án và mạng nội bộ để tiếp tục nâng cao sự hiểu biết giữa các nhân viên trong Tập đoàn về những nhu cầu của người khuyết tật tinh thần. Số người "ủng hộ tự nhiên", hoặc những người đã cung cấp hỗ trợ tự nhiên cho người khuyết tật tinh thần, tăng lên 278 người trong năm 2011 từ con số 110 người so với năm 2010. Kể từ khi dự án mô hình kết thúc, công ty đã tiếp tục các hoạt động, bao gồm tổ chức các buổi tập huấn cho những người hỗ trợ. Công ty tiếp tục xây dựng trên thành tích tăng số lượng nhân viên bị khuyết tật tinh thần trong Tập đoàn Hitachi là 33 người trong năm 2011. Ngoài ra, công ty tham gia vào các bài giảng bên ngoài và hội thảo về sử dụng lao động khuyết tật, chia sẻ kinh nghiệm học được từ các dự án mô hình với nhiều công ty khác. Công ty Hitachi sẽ tiếp tục phát huy sáng kiến ​​giúp cải thiện việc làm cho người khuyết tật tinh thần tại Nhật Bản. Tống Thùy Linh   Viện Nghiên cứu Đông Bắc Á.
(TBKTSG) - LTS: Bài Bí ẩn ngân sách trên TBKTSG số 38-2015 ra ngày 17-9 cho thấy tình trạng báo cáo ngân sách được đưa vào dạng tài liệu “mật”, hay hạn chế công khai với người dân bằng rất nhiều lý do. Bài viết này cho thấy minh bạch ngân sách là thước đo tính chính đáng của một chính phủ như thế nào. Ở trên các tuyến đường hay những chỗ đông dân cư người ta thường xuyên bắt gặp những tấm biển có in những câu “quảng cáo” như: “Nộp thuế là nghĩa vụ và quyền lợi của người dân”. Thế nhưng hiếm ai có thể tìm thấy những biển hiệu hay khẩu hiệu “tuyên truyền” cho trách nhiệm sử dụng đồng thuế hiệu quả dành cho các cơ quan chính phủ, các tổ chức, đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước (NSNN). Như thế là chưa công bằng, bởi trong khi Nhà nước đòi hỏi người dân phải làm tròn nghĩa vụ (nộp thuế) của mình đối với Nhà nước thì Nhà nước có lẽ vẫn chưa làm tròn trách nhiệm của họ đối với người dân, trong đó trách nhiệm công khai, minh bạch là yêu cầu tối thượng và tối thiểu mà Chính phủ cần phải và có thể đáp ứng. Minh bạch như là lẽ tự nhiên Đây không phải là đòi hỏi “vô căn cứ” bởi nó thể hiện quyền cơ bản của công dân về “tiếp cận thông tin” được ghi rõ trong Hiến pháp (2013) và trách nhiệm của Chính phủ trước người dân về yêu cầu công khai và minh bạch NSNN. Điều 55 Hiến pháp 2013 ghi rõ: “Ngân sách nhà nước, dự trữ quốc gia, quỹ tài chính nhà nước và các nguồn tài chính công khác do Nhà nước thống nhất quản lý và phải được sử dụng hiệu quả, công bằng, công khai, minh bạch, đúng pháp luật”. Điều 8 Luật Ngân sách 2015 cũng thể chế hóa cụ thể yêu cầu này: “Ngân sách nhà nước được quản lý thống nhất, tập trung dân chủ, hiệu quả, tiết kiệm, công khai, minh bạch, công bằng”. Đây càng không phải là sáng kiến “đặc trưng” của Việt Nam bởi hầu hết các nước trên thế giới đều có những yêu cầu và chuẩn mực rất cao về minh bạch hóa thông tin ngân sách. Sở dĩ có sự “hội tụ” này là do xuất phát từ lẽ tự nhiên, khi người dân trích thu nhập của mình để chuyển giao cho Chính phủ, điều này cần được hiểu là người dân ủy thác trách nhiệm cung cấp hàng hóa công cho Chính phủ và để Chính phủ có thể thực hiện nhiệm vụ đó, người dân sẽ cấp tiền để Chính phủ thực hiện. Chính vì vậy, bên cạnh đòi hỏi trách nhiệm sử dụng tiền thuế hiệu quả thì công khai và minh bạch việc sử dụng tiền thuế của dân là yêu cầu đơn giản nhất mà Chính phủ có thể thực hiện. Khi Chính phủ né tránh trách nhiệm công khai, minh bạch hoặc có công khai, minh bạch nhưng không đầy đủ, không kịp thời thì không chỉ Chính phủ đã không đáp ứng đòi hỏi của người dân về tính công khai, minh bạch. Việc huy động, phân bổ và sử dụng NSNN không phải là chuyện mang tính cá nhân, gia đình nên không thể viện cớ “xấu khoe tốt che” hay “đóng cửa bảo nhau”, cũng không phải là thẩm quyền độc tôn của Chính phủ mà là quyền lợi của mọi người dân, do đó cần phải được trả về đúng vị trí của nó, tức là phải đảm bảo đúng nguyên tắc “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. Cũng chính vì tình trạng kém minh bạch và trách nhiệm giải trình không đầy đủ đã khiến cho Chính phủ luôn gặp phải những phản ứng của người dân trước mỗi đề nghị cải cách thuế cũng như mỗi khi đề xuất các dự án đầu tư có sử dụng vốn NSNN. Rõ ràng nếu người dân nhìn thấy những đồng thuế mà họ nộp cho Nhà nước được chi tiêu một cách có trách nhiệm và hiệu quả thì có lẽ họ đã không phản ứng, đôi khi, đến mức cực đoan. Không những vậy, sự ủng hộ của người dân còn là tiền đề quan trọng cho sự thành công trong các chính sách chi tiêu của Chính phủ cũng như cho mọi cải cách. Kém minh bạch không phải là tự nhiên Nỗ lực của Bộ Tài chính cũng như của Chính phủ trong những năm qua nhằm làm tăng tính minh bạch vấn đề huy động và sử dụng NSNN cho thấy những cải cách đang đi đúng hướng và bước đầu có những kết quả nhất định. Chẳng hạn như Bộ Tài chính thời gian qua luôn công bố những báo cáo hàng tháng về tình hình thực hiện nhiệm vụ tài chính - NSNN và công bố kế hoạch, nhiệm vụ công tác trọng tâm cho tháng tiếp theo của ngành tài chính; công bố báo cáo sơ kết tình hình tài chính nửa năm; công khai các báo cáo dự toán và quyết toán NSNN hàng năm; và nhiều chuyên mục thông cáo báo chí khác. Những báo cáo này trước đây thường chỉ được gửi trực tiếp cho cấp có thẩm quyền và được sử dụng nội bộ, hiếm khi được công khai. Việc công khai hóa các báo cáo này trên các phương tiện thông tin đại chúng, trang thông tin của Bộ Tài chính rõ ràng là một kết quả tích cực bước đầu đáng ghi nhận. Tuy nhiên, nội dung các báo cáo này chủ yếu phù hợp cho công tác và chức năng điều hành, quản lý kinh tế của Chính phủ chứ chưa đáp ứng được kỳ vọng và yêu cầu của người dân về phạm vi và chất lượng thông tin công bố. Những thông tin công bố trong các báo cáo này chủ yếu chỉ mới dừng lại ở mức độ khái lược với các số liệu tài chính - ngân sách tổng quát, thiếu những phụ lục chi tiết và nhiều nội dung cần phải được giải trình khác. Chẳng hạn như số liệu công bố mới chỉ dừng ở mức độ tổng thu, tổng chi và cân đối ngân sách, tiến thêm một chút là số liệu về cơ cấu thu và chi ở cấp độ đơn giản nhất trong khi hoàn toàn không thấy những báo cáo chi tiết và minh họa đính kèm về tình hình phân bổ ngân sách phân theo cấp, ngành, lĩnh vực, đối tượng, đơn vị... Nếu căn cứ theo bản Quy tắc Thực hành tốt nhất để minh bạch ngân sách của OECD (OECD Best Practices for Budget Transparency) thì những công bố thông tin về tình hình ngân sách của Việt Nam hiện nay còn rất lạc hậu và đơn giản, không đáp ứng được phần lớn các nội dung của những quy tắc này. Để chứng minh điều này chúng ta có thể sử dụng Chỉ số Ngân sách mở (Open Budget Index - OBI) hay còn gọi là Chỉ số Minh bạch ngân sách do tổ chức Đối tác ngân sách quốc tế (IBP) khảo sát nhằm so sánh mức độ minh bạch ngân sách của các quốc gia trên thế giới. IBP đã tiến hành cuộc khảo sát ở hơn 100 quốc gia, sử dụng 140 chỉ báo tổng hợp để tính toán chỉ số OBI với thang điểm từ 0-100. Kết quả được phân thành năm hạng gồm: (i) rộng rãi (extensive) có điểm số từ 81-100, (ii) đáng kể (substantial) có điểm số từ 61-80, (iii) hạn chế (limited) có điểm số từ 41-60, (iv) rất ít (minimal) có điểm số từ 21-40, và (v) hiếm hoi (scant and none) có điểm số từ 0-20. Kết quả xếp hạng chỉ số OBI 2015 của Việt Nam chỉ là 18 điểm, xếp ở nhóm cuối trong năm nhóm kể trên. Nếu so với năm 2008 thì điểm số của Việt Nam đã cải thiện ít nhiều, từ 10 lên 18 điểm, nhưng so với năm 2012 (19 điểm) thì hầu như không cải thiện gì nếu không nói là có phần tụt xuống. So với các nước, Việt Nam chỉ xếp trên vài nước như Trung Quốc (14), Campuchia (8), Venezuela (8), Iraq (3), Myanmar (2)... trong khi lại xếp sau, đặc biệt với điểm số rất chênh lệch so với nhiều nước khác trên thế giới và ngay cả trong khu vực (xem biểu đồ).   Kết quả này cho thấy còn quá nhiều thách thức để Việt Nam có thể thu hẹp khoảng cách với các nước về mức độ minh bạch ngân sách quốc gia. Bộ Tài chính cần xem đây như là thước đo để đánh giá kết quả của nỗ lực cải cách minh bạch hóa ngân sách của mình, đồng thời sử dụng bộ quy tắc thực hành về minh bạch ngân sách của OECD như là chuẩn mực cho những định hướng cải cách ngân sách sắp tới. Minh bạch ngân sách là bước đi cơ bản nhưng cũng là bước đi xuyên suốt trong nỗ lực cải cách tài khóa của Chính phủ. Nó thử thách tính chính đáng (legitimacy) của Chính phủ trước niềm tin và sự ủy thác quyền lợi của người dân. Đỗ Thiên Anh Tuấn (*)   (*) Chương trình Giảng dạy kinh tế Fulbright
Từ nhiều năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm xây dựng và tổ chức thực hiện các chính sách xã hội; coi đây vừa là mục tiêu, vừa là động lực để phát triển bền vững, ổn định chính trị - xã hội, thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ ta. Điều đó cũng bác bỏ những ý kiến sai trái cho rằng Nhà nước ta thiếu quan tâm đến quyền con người. Thực vậy, Nghị quyết Trung ương 5 (khóa XI) chỉ rõ: “Chính sách xã hội có vai trò đặc biệt quan trọng, là mục tiêu, là động lực để phát triển nhanh và bền vững trong mọi giai đoạn phát triển”[1]. Mục tiêu cơ bản của chính sách xã hội là bảo đảm ổn định xã hội, tạo điều kiện cho sự tăng trưởng và phát triển, hướng tới sự công bằng, tiến bộ xã hội, không ngừng cải thiện, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và cuộc sống tốt đẹp, bình đẳng, hạnh phúc của nhân dân. Chính sách xã hội bao trùm trên mọi mặt của đời sống con người, như: điều kiện lao động, sinh hoạt, giáo dục, văn hóa, chăm sóc sức khỏe… và luôn gắn chặt, phụ thuộc rất lớn vào quá trình phát triển kinh tế, bản chất chính trị - xã hội của mỗi quốc gia, dân tộc. Chính sách xã hội và quyền con người có mối quan hệ chặt chẽ. Thực hiện tốt chính sách xã hội là một trong những bảo đảm quan trọng về quyền con người ở nước ta. Bởi, quyền con người luôn gắn bó mật thiết với các quyền cơ bản của dân tộc, với quyền công dân; phụ thuộc vào các điều kiện phát triển kinh tế - xã hội, lịch sử, văn hóa, dân tộc. Đảng ta xác định: "Chăm lo cho con người, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tất cả mọi người; tôn trọng và thực hiện các điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã ký kết tham gia"[2]. Thực hiện chính sách xã hội chính là quá trình cụ thể hóa quyền con người đã được ghi nhận và bảo vệ trong Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước cũng như các thỏa thuận pháp lý quốc tế[3]. Thông qua chính sách xã hội mà quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được bảo đảm ngày càng đầy đủ, hoàn thiện hơn, góp phần tạo động lực to lớn trong sự nghiệp xây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Cùng với quá trình đổi mới, phát triển kinh tế - xã hội, Đảng, Nhà nước ta đã nhận thức ngày càng cụ thể, đầy đủ hơn tầm quan trọng, mục tiêu và nội dung của việc giải quyết vấn đề xã hội, đặc biệt là an sinh xã hội, phúc lợi xã hội, bảo đảm toàn diện và tốt hơn quyền con người; khẳng định mục tiêu chính sách xã hội là nhằm xây dựng và phát triển con người, đem lại cuộc sống hạnh phúc cho con người, góp phần lành mạnh hóa xã hội và phát triển bền vững đất nước. Với nhận thức đó, trong những năm qua, nhất là trong thời kỳ đổi mới, Đảng, Nhà nước ta không ngừng hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về lĩnh vực xã hội; nguồn lực đầu tư được tăng cường và đa dạng hóa; phát huy được sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân thực hiện chính sách xã hội, chăm lo cho con người, tạo động lực xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Khám bệnh, cấp thuốc miễn phí cho đối tượng chính sách và người có hoàn cảnh khó khăn Nhìn lại 30 năm đổi mới, có thể nhận thấy, chính sách xã hội ở nước ta được triển khai tích cực, toàn diện, với hệ thống văn bản pháp lý đồng bộ, ngày  càng hoàn thiện; phản ánh tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa, đáp ứng được nguyện vọng của nhân dân và đã đạt được những thành tựu hết sức quan trọng trong việc chăm lo cho con người. Thứ nhất, các chính sách về lao động và việc làm của Nhà nước đã chuyển biến theo hướng ngày càng phù hợp hơn với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Bộ luật Lao động ban hành năm 1994 được sửa đổi nhiều lần (2002, 2006, 2007, 2012) đã tạo hành lang pháp lý cho việc hoàn thiện các tiêu chuẩn lao động, thiết lập quan hệ lao động giữa các chủ thể, điều chỉnh các quan hệ xã hội có liên quan đến quan hệ lao động, như: hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể, tiền lương, bảo hiểm xã hội, thời gian làm việc, vệ sinh lao động, kỷ luật lao động, giải quyết tranh chấp lao động, đình công, v.v. Việc xây dựng, triển khai thực hiện Luật Việc làm và Chương trình việc làm công đã góp phần định hướng nghề nghiệp, ổn định và phát triển thị trường lao động ở Việt Nam. Bình quân mỗi năm, nước ta đã tạo ra được từ 1,5 đến 1,6 triệu việc làm mới. Chất lượng lao động qua đào tạo không ngừng tăng lên, cơ cấu ngày càng phù hợp thị trường lao động. Năm 2014, lao động trong khu vực chính thức đạt trên 30% tổng số lao động. Thứ hai, Đảng và Nhà nước ta luôn nhất quán về chính sách giảm nghèo bền vững đi đôi với khuyến khích làm giàu hợp pháp. Đẩy mạnh việc triển khai thực hiện các nghị quyết của Chính phủ và Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo, những năm qua, nước ta thường xuyên chú trọng chính sách giảm nghèo đa chiều và khắc phục nguy cơ tái nghèo, nhất là đối với các huyện, xã nghèo, ở khu vực biên giới, biển, đảo còn nhiều khó khăn; thu hẹp chênh lệch về mức sống và an sinh xã hội so với bình quân cả nước. Đồng thời, tiến hành điều chỉnh chuẩn nghèo theo từng thời kỳ phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước. Nhờ đó, thành tựu về giảm nghèo của Việt Nam được Liên hợp quốc và cộng đồng quốc tế đánh giá cao; tỷ lệ hộ nghèo cả nước hằng năm giảm từ 1,5 đến 2%; các huyện, xã đặc biệt khó khăn giảm 4% theo tiêu chuẩn nghèo từng giai đoạn. Năm 1993, tỷ lệ hộ nghèo cả nước là 58,1%, đến năm 2014 giảm xuống còn 5,8 - 6%; phấn đấu đến năm 2015, tỷ lệ hộ nghèo còn dưới 5%, vùng đặc biệt khó khăn dưới 3%. Thứ ba, việc quan tâm chăm sóc sức khỏe cho nhân dân có nhiều tiến bộ. Hệ thống cơ sở y tế đã được hình thành trong cả nước; số bác sĩ, số giường bệnh trên một vạn dân tăng nhanh; hệ thống dịch vụ y tế ngày càng mở rộng và nâng cao chất lượng. Trong 10 năm gần đây, các quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng đã được thể chế hóa trong Hiến pháp năm 2013 và 20 luật liên quan đến lĩnh vực y tế, dân số, tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc chăm sóc sức khỏe người dân. Các chủ trương, giải pháp phát triển hệ thống y tế tương đối toàn diện, coi trọng cả về xây dựng thể chế và phát triển đồng bộ: y tế dự phòng, y học cổ truyền, quản lý thuốc, khám, chữa bệnh, phục hồi chức năng, vệ sinh an toàn thực phẩm... Tỷ lệ người tham gia bảo hiểm y tế hiện nay là trên 70% dân số (khoảng trên 61 triệu người); phấn đấu đến năm 2020, cơ bản hoàn thành lộ trình bảo hiểm y tế toàn dân. Thứ tư, chính sách ưu đãi người có công được Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm và ngày càng mở rộng đối tượng, mức thụ hưởng với chế độ ưu đãi toàn diện hơn. Cả nước hiện có khoảng 8,8 triệu người có công, chiếm khoảng 10% dân số, trong đó có khoảng 1,4 triệu người có công và thân nhân được hưởng trợ cấp thường xuyên, với mục tiêu là bảo đảm mức sống của người có công bằng hoặc cao hơn mức sống trung bình của dân cư trên địa bàn. Cùng với chính sách ưu đãi người có công, các đối tượng tham gia các thời kỳ kháng chiến, chiến tranh bảo vệ Tổ quốc (quân nhân, thanh niên xung phong, dân quân du kích, dân công hỏa tuyến,…) tiếp tục được hưởng các chế độ, chính sách và hỗ trợ của Nhà nước và cộng đồng. Các thiết chế chăm sóc người có công, tri ân các anh hùng, liệt sĩ ngày càng hoàn thiên và được quan tâm đầu tư. Công tác tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ được chú trọng, thể hiện tinh thần “Hiếu nghĩa bác ái”, “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc ta trong điều kiện mới. Thứ năm, xây dựng và từng bước hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội toàn diện, đa dạng, ngày càng mở rộng, hiệu quả. Nhà nước giữ vai trò chủ đạo kết hợp với xã hội hóa, mở rộng sự chia sẻ của cộng đồng; đồng thời, phát triển mạnh hệ thống bảo hiểm (bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp), khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để người lao động tiếp cận và tham gia. Đến năm 2014, cả nước có hơn 11 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, 190 nghìn người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện và hơn 9 triệu người tham gia bảo hiểm thất nghiệp. Hệ thống an sinh xã hội không ngừng phát triển phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội, khả năng huy động và cân đối nguồn lực của đất nước trong từng thời kỳ; trong đó, ưu tiên những người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, người nghèo và đồng bào dân tộc thiểu số. Chính sách bảo trợ xã hội được xây dựng và từng bước hoàn thiện, đối tượng hưởng đa dạng, mức hưởng ngày càng nâng lên; mở rộng các hình thức cứu trợ xã hội, giảm thiểu rủi ro, v.v. Thứ sáu, từng bước bảo đảm cung ứng với chất lượng ngày càng cao hơn một số dịch vụ xã hội cơ bản cho người dân. Người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn và đồng bào dân tộc thiểu số được bảo đảm nhu cầu tối thiểu về giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch, thông tin. Nhà nước đã quan tâm xây dựng, thực hiện chiến lược phát triển nhà ở quốc gia và chương trình xóa nhà tạm, phát triển nhà ở xã hội; xây dựng, ban hành và thực hiện nhiều chính sách, pháp luật về bình đẳng giới, chăm sóc bà mẹ và trẻ em, hôn nhân và gia đình, chăm sóc người cao tuổi, phòng, chống tệ nạn xã hội, bạo lực gia đình; tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về dân tộc, tôn giáo; tăng cường đầu tư về kết cấu hạ tầng, kinh phí cho miền núi, vùng sâu, vùng xa; bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các dân tộc và các tôn giáo trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Có thể khẳng định, những thành tựu về chính sách xã hội trong thời gian qua thể hiện sự nỗ lực vượt bậc của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Điều đó góp phần không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, nhất là những người có công, gia đình chính sách. Đồng thời, phản ánh truyền thống nhân văn của dân tộc và bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa luôn lấy con người làm trung tâm, vì sự phát triển tự do và toàn diện của con người, phù hợp với điều kiện của đất nước ta trong thời kỳ đầu quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Những thành tựu đó là tiền đề rất quan trọng để tạo sự đồng thuận trong xã hội, đưa nước ta ngày càng phát triển, tiến nhanh, tiến vững chắc trên con đường chủ nghĩa xã hội; khẳng định vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Điều đáng chú ý là, những kết quả đạt được nói trên càng trở nên quan trọng trong bối cảnh đất nước còn nhiều khó khăn (nước có thu nhập trung bình thấp). Qua đó, mới thấy hết được những cố gắng của Đảng, Nhà nước ta trong việc chăm lo đến quyền con người; đồng nghĩa với việc bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động cho rằng quyền con người ở Việt Nam không được bảo đảm. Quyền con người mặc dù mang giá trị phổ quát, nhưng việc bảo đảm quyền ấy đến đâu, đến mức độ nào còn tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa, tôn giáo và phong tục tập quán… của mỗi nước, mỗi dân tộc. Vì vậy, không thể đem điều kiện của nước này để áp vào quyền con người của nước khác để so sánh và phê phán. Cách làm đó không những không phù hợp với thực tiễn và dư luận quốc tế mà còn vi phạm nhân quyền, hơn thế là quyền của một quốc gia - dân tộc. Việt Nam không phủ nhận trong thực hiện bảo đảm quyền con người còn có mặt hạn chế, nhưng xét một cách tổng thể thì mặt được, mặt ưu việt là chủ yếu. Để bảo đảm quyền con người ở nước ta ngày càng tốt hơn, thời gian tới, các cấp, các ngành và địa phương cần tiếp tục quán triệt sâu sắc và thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 5, Trung ương 7 (khóa XI) về chính sách xã hội đến năm 2020; bám sát mọi mặt đời sống xã hội, gắn bó mật thiết với nhân dân để những thành tựu về chính sách, an sinh xã hội sẽ được tiếp tục phát huy, đời sống của người dân ngày càng được cải thiện./.             Thiếu tướng, TS. TRẦN VĂN MINH Cục trưởng Cục Chính sách     [1]- Nghị quyết Trung ương 5 (khoá XI), Nxb CTQG, H. 2012, tr. 68. [2]- ĐCSVN - Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb CTQG, H. 2001, tr. 134. [3]-Việt Nam đã tham gia 8 Công ước, 2 Nghị định thư quốc tế về quyền con người và là thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2014 - 2016.    
Trong khuôn khổ chương trình Hội thảo “An sinh xã hội cho người khuyết tật, kinh nghiệm quốc tế và phương pháp tiếp cận ở Việt Nam”, Ts.Matthias Meissner - Giảng viên Đại học Bochum, Cộng hòa Liên bang Đức đã chia sẻ một số kinh nghiệm của Đức trong việc thực hiện các chính sách an sinh xã hội với người khuyết tật. Tạp chí Người Bảo trợ xin giới thiệu đến quý độc giả.   Một tỷ người, tương đương 15% dân số thế giới là NKT (nhóm thiểu số lớn nhất thế giới) đây là một thách thức cho nhiều quốc gia, nhiều Chính phủ. NKT thường có xu hướng bị ảnh hưởng nặng nề hơn do những hậu quả của kinh tế xã hội so với người bình thường như: thường có tỷ lệ giáo dục thấp hơn, sức khỏe kém hơn, ít có khả năng tìm kiếm việc làm (toàn thời gian), chủ yếu làm việc trong khu vực kinh tế phi chính thức và có tỉ lệ nghèo cao hơn.   Bản tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền năm 1948 và Công ước quốc tế về Quyền kinh tế, xã hội, văn hóa năm 1966 đã khẳng định quyền về an sinh xã hội. Công ước Liên Hiệp Quốc về Quyền của NKT khuyến khích người khuyết tật có thể hòa nhập đầy đủ trong xã hội. Quyền về an sinh xã hội cho NKT được thể hiện thông qua việc đưa ra các tiêu chuẩn cao nhất về sức khỏe, tiếp cận các dịch vụ phù hợp một cách bình đẳng, hỗ trợ đáp ứng nhu cầu của NKT, an sinh xã hội và giảm nghèo, hỗ trợ chi phí liên quan đến NKT, chương trình nhà ở công cộng, chương trình và phúc lợi hưu trí…   Tại Đức, an sinh xã hội cho NKT được kết hợp với chính sách thị trường lao động chủ động, chính sách bảo hiểm xã hội, chính sách trợ giúp xã hội, chính sách về giáo dục và dịch vụ xã hội cơ bản.   Trong 80,8 triệu người Đức, chúng tôi có khoảng 10,2 triệu NKT (tương đương 13% dân số). Trong đó có 7,5 triệu người (chiếm 9,4% dân số) bị khuyết tật nặng. Quan điểm của Chính phủ Đức trong vấn đề an sinh xã hội với NKT là sự kết hợp các quy định và chính sách trong mọi lĩnh vực (thị trường lao động, trợ giúp xã hội, bảo hiểm xã hội…) tuy nhiên vẫn phải chú trọng đến quyền tự quyết của NKT.   Chúng tôi có ngân sách cá nhân dành cho NKT. Theo đó, đối tượng được hưởng lợi từ nguồn quỹ phục hồi chức năng được phép chọn tham gia dịch vụ hoặc nhận trợ cấp bằng hiện vật (giống như lựa chọn người cung cấp dịch vụ). Thường thì NKT sẽ chọn hình thức nhận tiền trợ cấp và tự tổ chức các dịch vụ của mình, xây dựng các dịch vụ định hướng khác. Họ có quyền sử dụng tiền trợ cấp và quyết định lấy dịch vụ ở đâu chứ không phải phụ thuộc vào chính phủ.   Chúng tôi có các chính sách hỗ trợ việc làm cho NKT đang tìm kiếm việc làm chính thức (đào tạo tại chỗ và các hình thức khác). Đây là chính sách thị trường lao động chủ động rất mạnh của Đức. Sự hỗ trợ với NKT có thể bằng hình thức cung cấp người trợ giúp hoặc phần mềm hỗ trợ.   Tại Đức, chúng tôi có chương trình Quản lý hòa nhập tại nơi làm việc, áp dụng bắt buộc đối với tất cả lao động không thể làm việc liên tục 6 tuần/năm. Khi xuất hiện trường hợp người lao động không thể làm việc liên tục trong 6 tuần vì lý do khuyết tật, ốm đau, người sử dụng lao động, người lao động và thành viên Hội đồng lao động phải ngồi lại với nhau trong một cuộc họp mở (có sự tham gia của nhiều người lao động khác nữa) để đánh giá khả năng làm việc, mức độ thích nghi của NKT, xem xét cách thức tốt nhất để giúp người lao động khuyết tật vượt qua thời điểm này và xác định hình thức hỗ trợ cần thiết để hạn chế tình trạng ngưng việc nhằm duy trì vị trí công việc của họ.   Bảo hiểm tai nạn lao động (hay Bảo hiểm xã hội) có vai trò quan trọng ở Đức trong việc ngăn ngừa tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và mối nguy hiểm sức khỏe tại nơi làm việc thông qua thông tin, quy định và kiểm tra. Đặc biệt, chúng tôi có Quỹ Phục hồi chức năng sau tai nạn lao động thuộc bảo hiểm tai nạn lao động, được sử dụng để điều trị y tế và phục hồi chức năng lao động và xã hội sau tai nạn lao động để giảm thiểu khuyết tật và giúp người lao động nhanh chóng quay trở lại làm việc. Ngoài ra, bảo hiểm tai nạn lao động cũng được sử dụng để trợ cấp tiền mặt hoặc hiện vật đối với lao động bị bệnh và lao động khuyết tật.   Để giảm thiểu tình trạng khuyết tật do tai nạn lao động, kinh nghiệm của chúng tôi là cần thực hiện phục hồi chức năng lao động ngay sau tai nạn lao động để hỗ trợ người lao động quay trở lại làm việc sớm nhất có thể. Khi một người bị tai nạn lao động, họ sẽ được điều trị y tế tại Bệnh viện/Trạm y tế gần nhất. Nếu cần thiết, họ sẽ được chuyển trực tiếp lên Bệnh viện chuyên khoa có bảo hiểm tai nạn lao động. Họ sẽ được tiếp tục điều trị tại Trung tâm Phục hồi chức năng để giúp sớm quay trở lại làm việc. Nếu cần thiết, Giám đốc doanh nghiệp sẽ can thiệp giải quyết các vấn đề về hòa nhập tại nơi làm việc, lợi ích, trợ cấp…Thường thì sau vài tháng điều trị, người lao động có thể quay lại làm việc bình thường. Nếu không thể tiếp tục công việc, cán bộ công tác xã hội trong Bệnh viện, Trung tâm Phục hồi chức năng sẽ liên lạc với cơ quan Nhà nước để đảm bảo chính sách tìm việc làm mới, phương pháp giải quyết giúp người lao động quay lại thị trường lao động. Trong các trường hợp này, vai trò của người quản lý ca đặc biệt quan trọng.   ở bất kỳ đâu, NKT dù là phụ nữ hay đàn ông cũng muốn trở thành người có ích cho xã hội. Nhưng không phải ai cũng có thể cạnh tranh trong thị trường lao động trong lần đầu tiên. Phần lớn có thể nhưng không thể nhận được trợ cấp phù hợp. Việc làm thể hiện địa vị và mức độ tham gia xã hội của NKT, đồng thời việc làm cũng đóng góp vào GDP cũng như chương trình bảo hiểm. ở cả quốc gia phát triển và đang phát triển, việc thúc đẩy hòa nhập xã hội và cơ hội việc làm cho NKT đòi hỏi việc tiếp cận giáo dục cơ bản và dạy nghề, thừa nhận các kỹ năng, quyền lợi và khả năng của NKT.   Để giúp NKT hòa nhập cần thiết phải có sự nỗ lực chung của tất cả các thành phần trong xã hội. Tại khu vực công (luật, hành chính…) cần có quy định và quy trình về an sinh xã hội cho NKT (nhằm chống lại phân biệt đối xử, tạo ra thị trường lao động tích cực, xây dựng bảo hiểm xã hội/trợ giúp xã hội và dịch vụ xã hội). Vai trò của khu vực tư nhân/chủ sử dụng lao động cần quy định nơi làm việc và cơ hội làm việc phù hợp cho NKT, tự bản thân phải tiến bộ trong việc nhìn nhận khả năng của NKT. Các đoàn thể, nhóm tự lực và tổ chức phi chính phủ cần quan sát quyền của NKT, trung gian hòa giải giữa các bên liên quan, phản hồi từ cấp cơ sở tới nhà hoạch định chính sách đồng thời thiết kế, thực hiện chính sách tại địa phương. Đối với NKT, điều quan trọng nhất là phải hiểu và đấu tranh đòi quyền lợi và hòa nhập xã hội.     Nguồn: Tạp chí Người bảo trợ      
Tóm tắt: Bài viết trình bày kết quả nghiên cứu về các rào cản trẻ khuyết tật (TKT) đến trường và những rào cản TKT học có chất lượng trong các cơ sở giáo dục phổ thông ở Việt Nam. Những rào cản TKT đến trường bao gồm nhận thức của cha mẹ h ạn chế, gia đình khó khăn, hoặc do công tác tuyên truyền, vận động của địa phương, đặc biệt TKT còn có thể bị từ chối được vào học ở các cơ sở giáo dục dưới các hình thức khác nhau.
Vấn đề quan tâm đến những nhóm người yếu thế trong xã hội, bảo đảm và thực hiện các quyền bình đẳng, phòng, chống phân biệt đối xử luôn là trách nhiệm của mỗi cá nhân, tổ chức và cộng đồng xã hội. Đây cũng là yếu tố thể hiện rõ nét nhất tinh thần nhân đạo cũng như mục tiêu mà Việt Nam đang hướng tới “xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”.
  Thực hiện mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, cho đến nay, đã hình thành hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về mọi mặt của đời sống chính trị, kinh tế, xã hội. Từ khi tiến hành công cuộc Đổi mới vào năm 1986 đến nay, Quốc hội đã ban hành 305 văn bản luật và 208 pháp lệnh[1]. Trong số này có những đạo luật trực tiếp điều chỉnh quyền con người, quyền công dân như Bộ luật hình sự, Bộ luật dân sự, Bộ luật lao động, Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân, Luật Bảo hiểm y tế, Luật Dược, Luật hôn nhân và gia đình, Luật phòng, chống mua bán người, Luật bình đẳng giới, Luật khám bệnh, chữa bệnh, Luật phòng, chống bạo lực gia đình, Luật cư trú, Luật tiếp công dân, Luật việc làm… Đáng chú ý, Quốc hội đã ban hành những đạo luật riêng cho nhóm đối tượng dễ bị tổn thương như Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, Luật người cao tuổi, Luật người khuyết tật.
Bài viết đề cập đến vấn đề việc làm của phụ nữ khuyết tật, trong đó chỉ ra những khó khăn, thuận lợi của phụ nữ khuyết tật trong công việc cũng như trên con đường tìm kiếm việc làm và đề xuất những chính sách mang tính đặc thù đối với việc làm cho phụ nữ khuyết tật.
Công ước LHQ về quyền trẻ em đã được hầu hết các quốc gia trên thế giới ký và phê chuẩn, trong đó có Việt Nam. Chính vì vậy mà vấn đề quyền của trẻ em đã được các quốc gia đặt lên hàng đầu trong chương trình lập pháp và được đưa vào chiến lược hoặc chương trình phát triển kinh tế xã hội 5 năm và hàng năm. Công ước về quyền trẻ em cũng đã mở đường cho việc tăng cường bảo vệ trẻ em theo quan điểm hệ thống, bảo đảm cho trẻ em quyền được bảo vệ, không bị xâm hại, xao nhãng, bạo lực, bóc lột và phân biệt đối xử. Trong xu thế hội nhập và toàn cầu hóa, Việt Nam đã có một số đổi mới trong chính sách phát triển xã hội liên quan đến bảo vệ, chăm sóc trẻ em nhằm cả thiện môi trường sống an toàn, lành mạnh, thân thiện cho mọi trẻ em. 1. Đánh giá chung Thứ nhất, Chính sách Bảo vệ, chăm sóc trẻ em chuyển từ xây dựng luật pháp, chính sách, chương trình đến từng nhóm đối tượng trẻ em yếu thế trong xã hội sang xây dựng khung pháp lý toàn diện. Chính sách Bảo vệ, chăm sóc trẻ em trước kia chỉ tập trung giải quyết hậu quả, chăm sóc, giáo dục trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt[1], tuy nhiên trong những năm gần đây đã chú trọng đến việc chủ động phòng ngừa, can thiệp sớm, loại bỏ những nguy cơ cho mọi trẻ em trước khi bị tổn hại. Ví dụ: từ các chính sách phân tán, nhỏ lẻ như Quyết định 19/2004/QĐ-TTg của Chính phủ tập trung giải quyết tình trạng trẻ em lang thang, trẻ em bị xâm hại tình dục, trẻ em lao động trong điều kiện nặng nhọc nguy hiểm, Quyết định 84/2009/QĐ-TTg của Chính phủ về kế hoạch hành động vì trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDs, Quyết định 589/QĐ-LĐTBXH của Bộ LĐ-TBXH về phòng ngừa tai nạn thương tích trẻ em… nay chuyển sang xây dựng Chương trình quốc gia Bảo vệ trẻ em giai đoạn 2011-2015 (Quyết định 267/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 22/2/2011) nhằm phát triển Hệ thống bảo vệ trẻ em trong đó có hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, bao gồm: luật pháp quốc gia, các văn bản quy phạm pháp luật, dưới luật liên quan đến bảo vệ trẻ em và các chính sách xã hội. Đặc biệt, Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em giai đoạn 2012-2020 (Quyết định 1555/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 17/10/2012) đã đưa ra khung chương trình, chính sách đầu tư cho trẻ em trung hạn và dài hạn nhằm hướng tới một khung chính sách toàn diện cho trẻ em. Tuy nhiên, mức chuẩn trợ cấp xã hội và các mức chuẩn khác trong hệ thống an sinh xã hội chưa được nghiên cứu, gắn kết trong một hệ thống để tạo nên mái nhà an sinh (mức chuẩn trợ cấp người có công, mức chuẩn bảo hiểm xã hội, mức sống tối thiểu, chuẩn nghèo…). Tuy gọi là hệ thống an sinh xã hội, nhưng trên thực tế nó mới chỉ là hệ thống về mặt hình thức, chưa mang tính hệ thống về mặt nội hàm; điều này cũng có thể gây nên tình trạng bất bình đẳng xã hội từ khâu hoạch định chính sách an sinh xã hội. Hệ thống chính sách, chương trình trợ giúp xã hội đối với trẻ em gồm: (1) hỗ trợ nuôi dưỡng, chăm sóc thay thế bằng tiền mặt để duy trì mức sống tối thiểu; (2) Trợ giúp tiếp cận giáo dục; (3) Trợ giúp tiếp cận y tế, chỉnh hình, phục hồi chức năng; (4) Trợ giúp học nghề, tạo việc làm; (5) Trợ giúp tiếp cận công trình công cộng; (6) Trợ giúp các hoạt động văn hóa; (7) Trợ giúp đột xuất khác … đang nằm phân tán ở nhiều đơn vị quản lý thuộc nhiều bộ ngành theo nhóm vấn đề khác nhau liên quan đến trẻ em. Quản lý nhà nước còn nhiều bất cập, chồng chéo. Chính sách xã hội còn chậm đổi mới so với chính sách kinh tế. Một trẻ em yếu thế hoặc gia đình nuôi dưỡng trẻ có thể nhận được nhiều chính sách trong khi nhóm trẻ em yếu thế khác lại không được hưởng chính sách nào. Trợ giúp xã hội ở cộng đồng: năm 2011 trợ cấp 1,673 triệu người (trong đú cú trẻ em), chiếm gần 2% dõn số.  Phân bổ nguồn lực an sinh xã hội không đồng đều, chưa tính đến yếu tố tự an sinh của gia đình trẻ yếu thế. Tình trạng "rò rỉ” đối tượng trợ giúp xã hội là khá phổ biến, mức độ rò rỉ do xác định đối tượng chưa đúng dẫn đến khoảng 14-17% số người được hưởng trợ cấp xã hội chưa đúng đối tượng trợ giúp; ngược lại cũng còn một số đối tượng cần được trợ giúp thì lại bị “bỏ sót”. Nguyên nhân chính là thiếu đội ngũ cán bộ xã hội mang tính chuyên nghiệp ở cộng đồng. Thứ hai, Xây dựng được hệ thống chính sách và chương trình toàn diện theo hướng tiếp cận từ đáp ứng nhu cầu trẻ em sang đảm bảo quyền cho mọi trẻ em trong xã hội. Các đối tượng được hưởng chính sách xã hội và dịch vụ công không giới hạn trong 10 nhóm trẻ em có HCĐB quy định trong Luật BVCSGDTE mà mở rộng ra các nhóm có nguy cơ rơi vào hoàn cảnh đặc biệt[2] hướng tới một môi trường pháp lý và hành chính gọn nhẹ, dịch vụ mang tính chuyên nghiệp, từng bước hội nhập với quốc tế; Tiết kiệm được chi phí xã hội trong việc chi tiêu xử lý các vấn đề xã hội liên quan đến trẻ em và thúc đẩy nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong tương lai Tuy nhiên, do điều kiện kinh tế -xã hội còn khó khăn, thiên tai xảy ra thường xuyên, nguồn lực thực hiện các chính sách xã hội cho trẻ em còn rất hạn hẹp, chủ yếu dựa vào ngân sách nhà nước; chưa động viên, thu hút được nhiều sự tham gia của xã hội và khuyến khích gia đình trẻ yếu thế tự vươn lên. Mức trợ cấp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt còn thấp so với mức sống trung bình của cộng đồng dân cư (ước tình chỉ bằng 30%), so chuẩn nghèo trong từng giai đoạn (khoảng) 36-45% chuẩn nghèo. Chưa bảo đảm được mức tối thiểu các dịch vụ xã hội cơ bản như giáo dục, chăm sóc sức khỏe, đặc biệt ở khu vực miền núi, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn rất thấp; Chênh lệch các chỉ số về an sinh xã hội giữa miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số với mức trung bình của cả nước còn lớn. Một số tỉnh nghèo thu không đủ chi, thu không kịp nhu cầu chi dẫn đến tình trạng chi trả trợ cấp chậm thậm chí dồn 2-3 tháng mới chi trả một lần; như vậy đời sống của các đối tượng này càng khó khăn hơn. Bên cạnh đó, điều kiện địa lý đa dạng, trải dài với văn hóa nhiều sắc tộc dẫn đến hạn chế về nhận thức của người dân ở các vùng miền khác nhau. Vì vậy, hướng tiếp cận xây dựng hệ thống chính sách chưa thể đảm bảo quyền ngay được mà vẫn tập trung chính vào đáp ứng nhu cầu. Thứ ba, Định hướng chính sách phát triển xã hội về lĩnh vực BVCSTE đến năm 2020 Theo Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, một số vấn đề có liên quan đế chính sách phát triển xã hội liên quan đến BVCSTE như sau: - Về trợ giúp xã hội trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn: tiếp tục mở rộng đối tượng thụ hưởng với hình thức hỗ trợ thích hợp; nâng dần mức trợ cấp xã hội thường xuyên phù hợp với khả năng ngân sách nhà nước. Xây dựng mức sống tối thiểu phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội làm căn cứ xác định người thuộc diện được hưởng trợ giúp xã hội. Tiếp tục hoàn thiện chính sách trợ giúp xã hội. Củng cố, nâng cấp hệ thống cơ sở bảo trợ xã hội, phát triển mô hình chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt tại cộng đồng, khuyến khích sự tham gia của khu vực tư nhân vào triển khai các mô hình chăm sóc trẻ mồ côi, người khuyết tật. Phấn đấu đến năm 2020 có khoảng 2,5 triệu người được hưởng trợ giúp xã hội thường xuyên, trong đó có trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt. - Bảo đảm mức tối thiểu về một số dịch vụ xã hội cơ bản cho trẻ em, đặc biệt trẻ em nghèo, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn và trẻ em dân tộc thiểu số: a) Bảo đảm giáo dục tối thiểu: Tăng số lượng học sinh trong các trường dân tộc nội trú, mở rộng mô hình trường bán trú; xây dựng và củng cố nhà trẻ trong khu công nghiệp và vùng nông thôn. Xây dựng đề án phổ cập mầm non cho trẻ dưới 5 tuổi. Nâng cao chất lượng phổ cập trung học cơ sở, đặc biệt là đối với con em hộ nghèo, dân tộc thiểu số và trẻ em có hoàn cảnh khó khăn. Phấn đấu đến năm 2020 có 99% trẻ em đi học đúng độ tuổi ở bậc tiểu học, 95% ở bậc trung học cơ sở; 98% người trong độ tuổi từ 15 trở lên biết chữ; trên 70% lao động qua đào tạo; b) Bảo đảm y tế tối thiểu: Cải thiện dịch vụ chăm sóc sức khỏe nhân dân ở các tuyến cơ sở, ưu tiên các huyện nghèo, xã nghèo, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Nâng cao chất lượng công tác chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em. Đến năm 2020, trên 90% trẻ dưới 1 tuổi được tiêm chủng đầy đủ; tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi thể nhẹ cân 10%; c)Nâng cao hiệu quả sử dụng bảo hiểm y tế đối với đồng bào dân tộc thiểu số, vùng miền núi, các hộ nghèo. Đến năm 2020 trên 80% dân số tham gia bảo hiểm y tế. d) Bảo đảm nhà ở tối thiểu; e) Bảo đảm nước sạch; f) Bảo đảm thông tin - Đảm bảo Quyền trẻ em cho mọi trẻ em được sống trong môi trường an toàn, lành mạnh và thân thiện; Giảm thiểu bất bình đẳng về mức sống, về cơ hội phát triển giữa các nhóm trẻ em khác nhau; Tập trung giải quyết những vấn đề bức xúc trong xã hội liên quan đến ngược đãi, xâm hại, bạo lực, bóc lột, xao nhãng trẻ em, mại dâm trẻ em, trẻ em nghiên ma túy, vi phạm phát luật... dảm bảo ổn định trật tự xã hội. 2. Khung phân tích chính sách liên quan đến bảo vệ, chăm sóc trẻ em   CHÍNH SÁCH & CHƯƠNG TRÌNH          PHÂN TÍCH/KHUYẾN NGHỊ Văn bản         Mục tiêu/đối tượng hưởng lợi         Phân tích        Khuyến nghị CHÍNH SÁCH TRỢ GIÚP XÃ HỘI Nghị định số 67/2007/NĐ-CP ngày 13/4/2007 của Chính phủ về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội Nghị định số 13/2010/NĐ-CP ngày ngày 27/02/2010 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung Nghị định 67 Quyết định số 38/2004/QĐ-TTg ngày 17/3/2004 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách trợ giúp kinh phí cho gia đình, cá nhân nhận nuôi dưỡng trẻ em mồ côi và trẻ em bị bỏ rơi · gồm 7 nhóm đối tượng liên quan đến trẻ em: (1) Trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi, mất nguồn nuôi dưỡng thuộc hộ gia đình nghèo (2) Trẻ em khuyết tật nặng, (3) Trẻ em khuyết tật đặc biệt nặng, (4) Hộ gia đình có NKT đặc biệt nặng, (5) Trẻ em nhiễm HIV/AIDS thuộc hộ gia đình nghèo, (6) Người nhận nuôi dưỡng trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi, (7) Người đơn thân hộ nghèo, đang nuôi con nhỏ dưới 16 tuổi. · Mức trợ cấp: cho trẻ em 180.000 – 270.000 – 360.000/em/tháng tuỳ theo từng loại đối tượng, độ tuổi;cho gia đình nuôi dưỡng 270.000 – 360.000 – 450.000 – 540.000 đồng/tháng tuỳ theo từng loại đối tượng; sống trong các cơ sở bảo trợ xã hội 360.000 - 450.000 đồng/em/tháng tuỳ theo từng đối tượng, độ tuổi · Ngoài ra, được cấp thẻ bảo hiểm y tế và hưởng thêm các khoản trợ giúp như: các đối tượng học văn hoá, học nghề được miễn, giảm học phí, được cấp sách, vở, đồ dùng học tập theo quy định của pháp luật; khi chết được hỗ trợ kinh phí mai táng. Các đối tượng ở cơ sở bảo trợ xã hội của Nhà nước, ngoài các khoản trợ giúp trên còn được trợ cấp để mua sắm tư trang, vật dụng phục vụ cho sinh hoạt đời sống thường ngày; trợ cấp để mua thuốc chữa bệnh thông thường; riêng người nhiễm HIV/AIDS được hỗ trợ điều trị nhiễm trùng cơ hội… khi chết được mai tang phí - Trợ giúp xã hội ở cộng đồng: năm 2011 trợ cấp 1,673 triệu người (trong đó có trẻ em), chiếm gần 2% dân số. - Mức trợ cấp xã hội khá thấp so với mức sống trung bình của cộng đồng dân cư (ước tình chỉ bằng 30%), so chuẩn nghèo trong từng giai đoạn (khoảng) 36-45% chuẩn nghèo - Nuôi dưỡng, chăm sóc trong cơ sở trợ giúp trẻ em: số lượng trẻ em được nuôi dưỡng trong các cơ sở của là 22.597 em, trong đó có 10.222 em hiện đang được chăm sóc, nuôi dưỡng trong 313 cơ sở do nhà nước thành lập và có 12359 em sống trong 341 cơ sở do các tổ chức xã hội và tư nhân thành lập. - Các địa phương đã đẩy mạnh các hoạt động xã hội hóa huy động nguồn lực và khuyến khích thành lập cơ sở tư nhân, từng bước giảm bớt gánh nặng ngân sách nhà nước. - Tăng đối tượng hưởng trợ cấp xã hội lên khoảng 4-5% dân số - mức trợ cấp xã hội đáp ứng 70% nhu cầu chi tiêu của mức sống tối thiểu (tức là khoảng 350 ngàn đồng một tháng) - Mở rộng trẻ em trong các hộ gia đình nghèo, gia đình thu nhập thấp (trước mắt có thể tạm coi là hộ cận nghèo) phải gắn với điều kiện bắt là gia đình và trẻ em phải cam kết đến trường học, trừ trường hợp do khuyết tật nặng trẻ em không có khả năng đến trường học); đặc thù đối với đồng bào dân tộc thiểu số cư trú ở vùng cao, biên giới, hải đảo. Nghị định 118/2010/NĐ-CP của Thủ tướng Chính phủ Trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS ở các cơ sở giáo dục và trường giáo dưỡng: Chế độ ăn, mặc, nghỉ, chữa bệnh               Quyết định số 17/2007/QĐ-TTg ngày 29 tháng 01 năm 2007 ban hành quy chế tiếp nhận và hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng cho phụ nữ, trẻ em bị buôn bán từ nước ngoài trở về Chế độ trợ cấp: Nạn nhân sau khi tiếp nhận được cấp một lần quần áo, chăn màn, vật dụng cá nhân cần thiết; Định mức ăn hàng tháng của nạn nhân tại cơ sở tiếp nhận nạn nhân và cơ sở hỗ trợ nạn nhân được áp dụng như đối tượng tại các cơ sở xã hội do ngành Lao động - Thương binh và Xã hội quản lý; Trong thời gian lưu trú tại cơ sở tiếp nhận, nạn nhân được sắp xếp chỗ ở phù hợp với lứa tuổi, giới tính và tình trạng sức khỏe; Nạn nhân khi trở về địa phương được hỗ trợ tiền tàu xe, trợ cấp tiền ăn trong thời gian đi đường, được hưởng các chính sách hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng theo quy định. Chế độ hỗ trợ về y tế: Đối với nạn nhân phải điều trị để phục hồi sức khoẻ thì được xem xét hỗ trợ chi phí khám bệnh, tiền thuốc chữa trị; Chi phí điều trị trong thời gian nằm viện do Sở Lao động – Thương binh và Xã hội chi trả từ nguồn ngân sách hỗ trợ nạn nhân theo quy định về mức thu một phần viện phí tại các cơ sở y tế công lập. Quy chế quy định hỗ trợ về tâm lý:Các cơ quan chức năng khi thực hiện công tác tiếp nhận và hỗ trợ nạn nhân cần có các biện pháp nhằm giúp nạn nhân ổn định về tâm lý ngay từ khi tiếp nhận và trong suốt quá trình hỗ trợ tái hoà nhập cộng đồng; Quy chế quy định Hỗ trợ về thủ tục pháp lý: Nạn nhân trở về nơi cư trú được xem xét cấp lại hộ khẩu, chứng minh nhân dân. Trẻ em là con của nạn nhân đi cùng mẹ nếu chưa có giấy khai sinh thì được làm thủ tục khai sinh theo quy định của pháp luật hiện hành. Quy chế quy định Hỗ trợ học văn hóa, học nghề: Nạn nhân là trẻ em nếu tiếp tục đi học thì được hỗ trợ tiền mua sách giáo khoa và đồ dùng học tập trong năm học đầu tiên; Nạn nhân khi trở về địa phương thì được xem xét, hỗ trợ học nghề. Việc tổ chức dạy nghề do hệ thống các Trung tâm Dạy nghề tại địa phương thực hiện. CHÍNH SÁCH CHĂM SÓC SỨC KHỎE Luật Bảo hiểm y tế số 25/2008/QH12 ngày 14 tháng 11 năm 2008; Nghị định số 62/2009/NĐ-CP ngày 27 tháng 7 năm 2009 của Chính phủ Quyết định số 797/QĐ-TTg ngày 26 tháng 6 năm 2012 Nhà nước đóng bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 6 tuổi trong đó có trẻ mồ côi, bỏ rơi, khuyết tật ...và được chi trả 100% chi phí khám, chữa bệnh theo quy định của Bảo hiểm y tế. Trẻ em được hưởng trợ cấp xã hội; trẻ em thuộc hộ gia đình nghèo; người dân tộc thiểu số đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn được nhà nước mua thẻ bảo hiểm y tế và được hưởng 95% chi phí khám bệnh, chữa bệnh phần còn lại do người bệnh tự thanh toán với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh. Nâng mức hỗ trợ đóng bảo hiểm y tế cho người thuộc hộ gia đình cận nghèo, Trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS thuộc hộ cận nghèo được nhà nước hỗ trợ tối thiểu bằng 70% mức đóng bảo hiểm y tế (theo chuẩn nghèo quốc gia) Mở rộng hỗ trợ trẻ em mắc bệnh hiểm nghèo có hoàn cảnh kinh thế khó khăn, Luật phòng, chống nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS) Nhà nước có chính sách hỗ trợ phòng, chống lây nhiễm HIV từ mẹ sang con, nuôi dưỡng trẻ em dưới 6 tháng tuổi sinh ra từ người mẹ nhiễm HIV bằng sữa thay thế. + Phụ nữ mang thai tự nguyện xét nghiệm HIV được miễn phí. + Phụ nữ nhiễm HIV được tạo điều kiện tiếp cận các biện pháp dự phòng lây nhiễm HIV từ mẹ sang con. + Phụ nữ nhiễm HIV trong thời kỳ mang thai, cho con bú được tư vấn về phòng, chống HIV/AIDS. + Cơ sở y tế có trách nhiệm theo dõi, điều trị và thực hiện các biện pháp nhằm giảm sự lây nhiễm HIV từ mẹ sang con cho phụ nữ nhiễm HIV trong thời kỳ mang thai. + Ưu tiên cấp miễn phí cho trẻ em từ đủ 6 tuổi đến dưới 16 tuổi nhiễm HIV được sử dụng thuốc kháng HIV do ngân sách nhà nước chi trả, thuốc do tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài tài trợ tại các cơ sở điều trị HIV/AIDS. Quyết định số 1019/QĐ-TTg về Phê duyệt Đề án trợ giúp người khuyết tật giai đoạn 2012 – 2020            Hằng năm 70% người khuyết tật tiếp cận các dịch vụ y tế dưới các hình thức khác nhau; 70% trẻ em từ sơ sinh đến 6 tuổi được sàng lọc phát hiện sớm khuyết tật bẩm sinh, rối loạn phát triển và được can thiệp sớm các dạng khuyết tật; khoảng 60.000 trẻ em và người khuyết tật được phẫu thuật chỉnh hình, phục hồi chức năng và cung cấp dụng cụ trợ giúp phù hợp; CHÍNH SÁCH GIÁO DỤC Nghị định số 49/2010/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2010 quy định miễn giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập và cơ chế thu, sử dụng học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân từ năm học 2010 - 2011 đến năm học 2014 – 2015            Đối tượng không phải đóng học phí: học sinh tiểu học; học sinh, sinh viên sư phạm; Học sinh sống thường trú tại các xã biên giới, vùng cao, hải đảo và các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; Thuộc đối tượng bảo trợ xã hội; Con của hạ sĩ quan và binh sĩ, chiến sĩ đang phục vụ có thời hạn trong lực lượng vũ trang nhân dân; Đối tượng được giảm học phí bao gồm: Các đối tượng được giảm 70% học phí gồm: học sinh, sinh viên các chuyên ngành nhã nhạc cung đình, chèo, tuồng, cải lương, múa, xiếc và một số chuyên ngành, nghề nặng nhọc, độc hại. Các đối tượng được giảm 50% học phí gồm: Trẻ em là con CBCNVC mà cha hoặc mẹ bị tai nạn lao động hoặc mắc bệnh nghề nghiệp được hưởng trợ cấp thường xuyên; Trẻ em thuộc hộ nghèo, cận nghèo; Học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở đi học nghề. Đối tượng được hỗ trợ chi phí học tập: Trẻ em thường trú tại các xã biên giới, vùng cao, hải đảo và các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; Trẻ em thuộc đối tượng bảo trợ xã hội Quyết định số 239/QĐ-TTg ngày 09 tháng 02 năm 2010 về phê duyệt Đề án Phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi giai đoạn 2010 – 2015 Quyết định số 60/2011/QĐ-TTG ngày 26 tháng 10 năm 2011 Quy định một số chính sách phát triển giáo dục mầm non giai đoạn 2011 - 2015 Hỗ trợ trẻ năm tuổi ở các cơ sở giáo dục mầm non có cha mẹ thư­ờng trú tại các xã biên giới, núi cao, hải đảo và các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; mồ côi cả cha lẫn mẹ không nơi n­ương tựa hoặc bị tàn tật, khuyết tật có khó khăn về kinh tế; cha mẹ thuộc diện hộ nghèo theo quy định của nhà nư­ớc Hỗ trợ 120 nghìn đồng/tháng (một năm học 9 tháng) để duy trì bữa ăn trưa tại trường; Trẻ em có hoàn cảnh khó khăn học tại các trường mầm non tư thục được nhà nước hỗ trợ một phần học phí, nhằm tăng tỷ lệ huy động trẻ đên trường; Tổ chức các loại hình trường lớp phù hợp, tạo cơ hội cho trẻ em năm tuổi được đến trường: các vùng khó khăn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo, các tỉnh vùng Tây Bắc, Tây Nguyên và đồng bằng sông Cửu Long, 100% số trẻ em năm tuổi được học tại các trường công lập từ năm 2010. Vùng nông thôn đồng bằng, phần lớn trẻ em được học tại các trường công lập có thu học phí. Duy trì, giữ vững số trẻ dưới năm tuổi ra lớp công lập không thấp hơn mức hiện có, phát triển giáo dục mầm non ngoài công lập ở những nơi có điều kiện. Thông tư số 39/2009/TT-BGDĐT ngày 29/12/2009 của Bộ Giáo dục – Đào tạo ban hành quy định giáo dục hòa nhập cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn Có quyền nhập học tại các cơ sở giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân. Tuổi đi học của trẻ em có hoàn cảnh khó khăn có thể cao hơn tuổi quy định. Được quan tâm giúp đỡ và cung cấp thông tin; được tôn trọng và đối xử bình đẳng trong học tập và trong các hoạt động khác. Được học tập phù hợp với trình độ, năng lực cá nhân; được giúp đỡ đặc biệt để đạt được các kỹ năng cần thiết trong học tập và sinh hoạt (nếu cần). Trẻ em có hoàn cảnh khó khăn không thể đáp ứng yêu cầu của môn học, hoặc hoạt động giáo dục thì người đứng đầu cơ sở giáo dục quyết định việc miễn, giảm môn học, hoạt động giáo dục đó. Được xét miễn, giảm học phí và các khoản đóng góp khác; được cấp sách giáo khoa, học phẩm, hỗ trợ sinh hoạt khác theo quy định của Nhà nước. Quyết định số 2123/QĐ-TTg ngày 22 tháng 11 năm 2010 phê duyệt Đề án Phát triển giáo dục đối với các dân tộc rất ít người giai đoạn 2010 - 2015 Hoàn thiện cơ chế, chính sách đặc thù cho trẻ em, học sinh, sinh viên các dân tộc rất ít người. Bảo đảm: 95% trẻ mẫu giáo 3-5 tuổi dân tộc rất ít người được học 2 buổi/ngày theo Chương trình giáo dục mầm non mới tại các trường, lớp mẫu giáo thôn bản công lập; 100% học sinh dân tộc rất ít người cấp tiểu học được học tại các điểm trường ở thôn bản và ở các trường phổ thông dân tộc bán trú; 100% học sinh dân tộc rất ít người hoàn thành chương trình tiểu học được vào học tại các trường phổ thông dân tộc nội trú huyện hoặc trường phổ thông dân tộc bán trú; 100% học sinh dân tộc rất ít người tốt nghiệp trung học cơ sở ở các trường phổ thông dân tộc nội trú huyện, trường phổ thông dân tộc bán trú được vào học tại trường phổ thông dân tộc nội trú tỉnh hoặc trường phổ thông dân tộc nội trú huyện liên cấp trung học cơ sở và trung học phổ thông hoặc vào học tại các trường trung cấp chuyên nghiệp; 95% học sinh dân tộc rất ít người sau khi tốt nghiệp trung học phổ thông được ưu tiên cử tuyển, xét tuyển đặc biệt vào các trường, khoa dự bị đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp, dạy nghề; 100% trẻ em, học sinh, sinh viên các dân tộc rất ít người thuộc hộ nghèo được hưởng chế độ, chính sách đặc thù về hỗ trợ học tập. Chính sách hỗ trợ rất thiết thực, nhưng chỉ giải quyết được tương đối những vấn đề có tính cấp thiết để động viên, khuyến khích trẻ em tới trường. Nguyên nhân sâu xa (có tính bản chất) vẫn là kinh tế gia đình khó khăn, hủ tục lạc hậu, đồng bào chưa thay đổi được nhận thức về thói quen trong ăn, ở, sinh hoạt và canh tác, chưa ý thức được việc cần phải đầu tư cho con em học hành mới thay đổi được cuộc sống         hướng dẫn một số chế độ tài chính đối với học sinh các trường PTDTNT và PTDTBT Quyết định số 82/2006/QĐ-TTg ngày 14/4/2006 của Thủ tướng Chính phủ và Thông tư liên tịch số 43/TTLT-BTC-BGD&ĐT ngày 2/5/2007 của Liên Bộ Tài Chính và Bộ Giáo dục và Đào tạo); các chế độ khác được quy định tại Thông tư liên tịch số 119/2009/TTLT-BTC-BGD&ĐT ngày 29/5/1999 của Liên Bộ Tài Chính và Giáo dục và Đào tạo Quyết định số 85/2010/QĐ-TTg Ban hành một sô chính sách hỗ trợ học sinh bán trú và trường phổ thông dân tộc bán trú Học sinh trường PTDTNT được cấp học bổng bằng 80% mức lương tối thiểu Hỗ trợ tiền ăn: học sinh bán trú, mỗi tháng được hỗ trợ bằng 40% mức lương tối thiểu chung và được hưởng không quá 9 tháng/năm học/học sinh; Hỗ trợ nhà ở: học sinh bán trú được ở trong khu bán trú của nhà trường; đối với những học sinh phải tự lo chỗ ở, mỗi tháng được hỗ trợ bằng 10% mức lương tối thiểu chung và được hưởng không quá 9 tháng/năm học/học sinh; Đối với học sinh bán trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nếu có nhiều mức hỗ trợ cho cùng một chính sách thì học sinh bán trú chỉ được hưởng một mức hỗ trợ cao nhất Chính sách hỗ trợ học sinh có hoàn cảnh khó khăn đi học phải đi đôi với các điều kiện: con hộ nghèo, vùng khó khăn, hoặc tính theo quãng đường từ nhà đến trường của trẻ em,...có nhiều địa phương không hỗ trợ được các thiết bị đun, nấu, ăn uống,...vì vậy nhà trường không tổ chức nấu ăn trưa cho các em được, số tiền này giáo viên chi trả trực tiếp cho gia đình và thường bị gia đình các em chi tiêu vào việc khác. Có địa phương tổ chức cho trẻ em ăn được tại lớp học nhưng trong lớp còn một số trẻ em không được hưởng chế độ, giáo viên phải cho các trẻ này ăn chung với các em có chế độ, gây thắc mắc trong đồng bào. Quyết định số 267/2005/QĐ-TTg, ngày 31 tháng 10 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ chính sách dạy nghề đối với học sinh dân tộc thiểu số nội trú quy định chính sách và tổ chức dạy nghề đối với học sinh dân tộc thiểu số nội trú, theo đó, học sinh dân tộc thiểu số tốt nghiệp các trường PTDTNT học nghề được hưởng học bổng, trợ cấp xã hội và các chính sách khác như học sinh phổ thông dân tộc nội trú. Chính sách hỗ trợ cho học sinh có hoàn cảnh khó khăn thường chỉ theo từng giai đoạn nhất định và không đi cùng với các hệ thống chính sách phát triển kinh tế, xã hội khác, khi hết chính sách hỗ trợ tình hình kinh tế của đồng bào phần lớn chưa được cải thiện nên hiệu quả của chính sách hỗ trợ học sinh đến trường không đạt được kết quả như mong đợi.            [1] Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt: Theo Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em thì trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt là những trẻ em có hoàn cảnh không bình thường (về cá nhân và môi trường chăm sóc) bao gồm: Trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi; trẻ lang thang; trẻ em phải làm việc nặng nhọc, nguy hiểm, tiếp xuác với chất độc hại; trẻ em khuyết tật, tàn tật; trẻ em làm việc xa gia đình; trẻ em bị ảnh hưởng chất độc hoá học; Trẻ em nhiễm HIV/AIDS; trẻ em bị xâm hại tình dục; trẻ em nghiện ma tuý; trẻ em vi phạm pháp luật. [2]Trẻ em có nguy cơ rơi vào hoàn cảnh đặc biệt: là những trẻ em ở trong những điều kiện, hoàn cảnh mà nếu không được can thiệp kịp thời thì sẽ trở thành trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt. Các yếu tố nguy cơ khiến cho trẻ em rơi vào hoàn cảnh đặc biệt có thể bao gồm các yếu tố bên ngoài (gia đình, nhà trường, cộng đồng, xã hội) và những yếu tố cá nhân của trẻ em (như thiếu kỹ năng xã hội, thiếu kỹ năng sống, lêu lổng, bỏ học  Nguồn: http://treem.molisa.gov.vn/
Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng người khuyết tật sống nghèo khổ, bị kỳ thị, xem thường, thậm chí bị hành hạ, bị chà đạp phẩm giá... là do họ gặp rất nhiều khó khăn trong việc tiếp cận việc làm và không có nguồn thu nhập cần thiết để trang trải cho cuộc sống hàng ngày của bản thân. Đảm bảo việc làm và thu nhập cho người khuyết tật sẽ giúp dần xóa bỏ sự kỳ thị, thiếu tôn trọng đối với người khuyết tật trong xã hội. 

Đặt câu hỏi

Họ tên:
Email:
Điện thoại:
Tiêu đề:
Nội dung:

Tư vấn pháp luật