Thực hiện mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, cho đến nay, đã hình thành hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về mọi mặt của đời sống chính trị, kinh tế, xã hội. Từ khi tiến hành công cuộc Đổi mới vào năm 1986 đến nay, Quốc hội đã ban hành 305 văn bản luật và 208 pháp lệnh[1]. Trong số này có những đạo luật trực tiếp điều chỉnh quyền con người, quyền công dân như Bộ luật hình sự, Bộ luật dân sự, Bộ luật lao động, Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân, Luật Bảo hiểm y tế, Luật Dược, Luật hôn nhân và gia đình, Luật phòng, chống mua bán người, Luật bình đẳng giới, Luật khám bệnh, chữa bệnh, Luật phòng, chống bạo lực gia đình, Luật cư trú, Luật tiếp công dân, Luật việc làm… Đáng chú ý, Quốc hội đã ban hành những đạo luật riêng cho nhóm đối tượng dễ bị tổn thương như Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, Luật người cao tuổi, Luật người khuyết tật.
Bài viết đề cập đến vấn đề việc làm của phụ nữ khuyết tật, trong đó chỉ ra những khó khăn, thuận lợi của phụ nữ khuyết tật trong công việc cũng như trên con đường tìm kiếm việc làm và đề xuất những chính sách mang tính đặc thù đối với việc làm cho phụ nữ khuyết tật.
Công ước LHQ về quyền trẻ em đã được hầu hết các quốc gia trên thế giới ký và phê chuẩn, trong đó có Việt Nam. Chính vì vậy mà vấn đề quyền của trẻ em đã được các quốc gia đặt lên hàng đầu trong chương trình lập pháp và được đưa vào chiến lược hoặc chương trình phát triển kinh tế xã hội 5 năm và hàng năm. Công ước về quyền trẻ em cũng đã mở đường cho việc tăng cường bảo vệ trẻ em theo quan điểm hệ thống, bảo đảm cho trẻ em quyền được bảo vệ, không bị xâm hại, xao nhãng, bạo lực, bóc lột và phân biệt đối xử. Trong xu thế hội nhập và toàn cầu hóa, Việt Nam đã có một số đổi mới trong chính sách phát triển xã hội liên quan đến bảo vệ, chăm sóc trẻ em nhằm cả thiện môi trường sống an toàn, lành mạnh, thân thiện cho mọi trẻ em. 1. Đánh giá chung Thứ nhất, Chính sách Bảo vệ, chăm sóc trẻ em chuyển từ xây dựng luật pháp, chính sách, chương trình đến từng nhóm đối tượng trẻ em yếu thế trong xã hội sang xây dựng khung pháp lý toàn diện. Chính sách Bảo vệ, chăm sóc trẻ em trước kia chỉ tập trung giải quyết hậu quả, chăm sóc, giáo dục trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt[1], tuy nhiên trong những năm gần đây đã chú trọng đến việc chủ động phòng ngừa, can thiệp sớm, loại bỏ những nguy cơ cho mọi trẻ em trước khi bị tổn hại. Ví dụ: từ các chính sách phân tán, nhỏ lẻ như Quyết định 19/2004/QĐ-TTg của Chính phủ tập trung giải quyết tình trạng trẻ em lang thang, trẻ em bị xâm hại tình dục, trẻ em lao động trong điều kiện nặng nhọc nguy hiểm, Quyết định 84/2009/QĐ-TTg của Chính phủ về kế hoạch hành động vì trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDs, Quyết định 589/QĐ-LĐTBXH của Bộ LĐ-TBXH về phòng ngừa tai nạn thương tích trẻ em… nay chuyển sang xây dựng Chương trình quốc gia Bảo vệ trẻ em giai đoạn 2011-2015 (Quyết định 267/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 22/2/2011) nhằm phát triển Hệ thống bảo vệ trẻ em trong đó có hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, bao gồm: luật pháp quốc gia, các văn bản quy phạm pháp luật, dưới luật liên quan đến bảo vệ trẻ em và các chính sách xã hội. Đặc biệt, Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em giai đoạn 2012-2020 (Quyết định 1555/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 17/10/2012) đã đưa ra khung chương trình, chính sách đầu tư cho trẻ em trung hạn và dài hạn nhằm hướng tới một khung chính sách toàn diện cho trẻ em. Tuy nhiên, mức chuẩn trợ cấp xã hội và các mức chuẩn khác trong hệ thống an sinh xã hội chưa được nghiên cứu, gắn kết trong một hệ thống để tạo nên mái nhà an sinh (mức chuẩn trợ cấp người có công, mức chuẩn bảo hiểm xã hội, mức sống tối thiểu, chuẩn nghèo…). Tuy gọi là hệ thống an sinh xã hội, nhưng trên thực tế nó mới chỉ là hệ thống về mặt hình thức, chưa mang tính hệ thống về mặt nội hàm; điều này cũng có thể gây nên tình trạng bất bình đẳng xã hội từ khâu hoạch định chính sách an sinh xã hội. Hệ thống chính sách, chương trình trợ giúp xã hội đối với trẻ em gồm: (1) hỗ trợ nuôi dưỡng, chăm sóc thay thế bằng tiền mặt để duy trì mức sống tối thiểu; (2) Trợ giúp tiếp cận giáo dục; (3) Trợ giúp tiếp cận y tế, chỉnh hình, phục hồi chức năng; (4) Trợ giúp học nghề, tạo việc làm; (5) Trợ giúp tiếp cận công trình công cộng; (6) Trợ giúp các hoạt động văn hóa; (7) Trợ giúp đột xuất khác … đang nằm phân tán ở nhiều đơn vị quản lý thuộc nhiều bộ ngành theo nhóm vấn đề khác nhau liên quan đến trẻ em. Quản lý nhà nước còn nhiều bất cập, chồng chéo. Chính sách xã hội còn chậm đổi mới so với chính sách kinh tế. Một trẻ em yếu thế hoặc gia đình nuôi dưỡng trẻ có thể nhận được nhiều chính sách trong khi nhóm trẻ em yếu thế khác lại không được hưởng chính sách nào. Trợ giúp xã hội ở cộng đồng: năm 2011 trợ cấp 1,673 triệu người (trong đú cú trẻ em), chiếm gần 2% dõn số.  Phân bổ nguồn lực an sinh xã hội không đồng đều, chưa tính đến yếu tố tự an sinh của gia đình trẻ yếu thế. Tình trạng "rò rỉ” đối tượng trợ giúp xã hội là khá phổ biến, mức độ rò rỉ do xác định đối tượng chưa đúng dẫn đến khoảng 14-17% số người được hưởng trợ cấp xã hội chưa đúng đối tượng trợ giúp; ngược lại cũng còn một số đối tượng cần được trợ giúp thì lại bị “bỏ sót”. Nguyên nhân chính là thiếu đội ngũ cán bộ xã hội mang tính chuyên nghiệp ở cộng đồng. Thứ hai, Xây dựng được hệ thống chính sách và chương trình toàn diện theo hướng tiếp cận từ đáp ứng nhu cầu trẻ em sang đảm bảo quyền cho mọi trẻ em trong xã hội. Các đối tượng được hưởng chính sách xã hội và dịch vụ công không giới hạn trong 10 nhóm trẻ em có HCĐB quy định trong Luật BVCSGDTE mà mở rộng ra các nhóm có nguy cơ rơi vào hoàn cảnh đặc biệt[2] hướng tới một môi trường pháp lý và hành chính gọn nhẹ, dịch vụ mang tính chuyên nghiệp, từng bước hội nhập với quốc tế; Tiết kiệm được chi phí xã hội trong việc chi tiêu xử lý các vấn đề xã hội liên quan đến trẻ em và thúc đẩy nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong tương lai Tuy nhiên, do điều kiện kinh tế -xã hội còn khó khăn, thiên tai xảy ra thường xuyên, nguồn lực thực hiện các chính sách xã hội cho trẻ em còn rất hạn hẹp, chủ yếu dựa vào ngân sách nhà nước; chưa động viên, thu hút được nhiều sự tham gia của xã hội và khuyến khích gia đình trẻ yếu thế tự vươn lên. Mức trợ cấp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt còn thấp so với mức sống trung bình của cộng đồng dân cư (ước tình chỉ bằng 30%), so chuẩn nghèo trong từng giai đoạn (khoảng) 36-45% chuẩn nghèo. Chưa bảo đảm được mức tối thiểu các dịch vụ xã hội cơ bản như giáo dục, chăm sóc sức khỏe, đặc biệt ở khu vực miền núi, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn rất thấp; Chênh lệch các chỉ số về an sinh xã hội giữa miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số với mức trung bình của cả nước còn lớn. Một số tỉnh nghèo thu không đủ chi, thu không kịp nhu cầu chi dẫn đến tình trạng chi trả trợ cấp chậm thậm chí dồn 2-3 tháng mới chi trả một lần; như vậy đời sống của các đối tượng này càng khó khăn hơn. Bên cạnh đó, điều kiện địa lý đa dạng, trải dài với văn hóa nhiều sắc tộc dẫn đến hạn chế về nhận thức của người dân ở các vùng miền khác nhau. Vì vậy, hướng tiếp cận xây dựng hệ thống chính sách chưa thể đảm bảo quyền ngay được mà vẫn tập trung chính vào đáp ứng nhu cầu. Thứ ba, Định hướng chính sách phát triển xã hội về lĩnh vực BVCSTE đến năm 2020 Theo Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, một số vấn đề có liên quan đế chính sách phát triển xã hội liên quan đến BVCSTE như sau: - Về trợ giúp xã hội trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn: tiếp tục mở rộng đối tượng thụ hưởng với hình thức hỗ trợ thích hợp; nâng dần mức trợ cấp xã hội thường xuyên phù hợp với khả năng ngân sách nhà nước. Xây dựng mức sống tối thiểu phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội làm căn cứ xác định người thuộc diện được hưởng trợ giúp xã hội. Tiếp tục hoàn thiện chính sách trợ giúp xã hội. Củng cố, nâng cấp hệ thống cơ sở bảo trợ xã hội, phát triển mô hình chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt tại cộng đồng, khuyến khích sự tham gia của khu vực tư nhân vào triển khai các mô hình chăm sóc trẻ mồ côi, người khuyết tật. Phấn đấu đến năm 2020 có khoảng 2,5 triệu người được hưởng trợ giúp xã hội thường xuyên, trong đó có trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt. - Bảo đảm mức tối thiểu về một số dịch vụ xã hội cơ bản cho trẻ em, đặc biệt trẻ em nghèo, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn và trẻ em dân tộc thiểu số: a) Bảo đảm giáo dục tối thiểu: Tăng số lượng học sinh trong các trường dân tộc nội trú, mở rộng mô hình trường bán trú; xây dựng và củng cố nhà trẻ trong khu công nghiệp và vùng nông thôn. Xây dựng đề án phổ cập mầm non cho trẻ dưới 5 tuổi. Nâng cao chất lượng phổ cập trung học cơ sở, đặc biệt là đối với con em hộ nghèo, dân tộc thiểu số và trẻ em có hoàn cảnh khó khăn. Phấn đấu đến năm 2020 có 99% trẻ em đi học đúng độ tuổi ở bậc tiểu học, 95% ở bậc trung học cơ sở; 98% người trong độ tuổi từ 15 trở lên biết chữ; trên 70% lao động qua đào tạo; b) Bảo đảm y tế tối thiểu: Cải thiện dịch vụ chăm sóc sức khỏe nhân dân ở các tuyến cơ sở, ưu tiên các huyện nghèo, xã nghèo, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Nâng cao chất lượng công tác chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em. Đến năm 2020, trên 90% trẻ dưới 1 tuổi được tiêm chủng đầy đủ; tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi thể nhẹ cân 10%; c)Nâng cao hiệu quả sử dụng bảo hiểm y tế đối với đồng bào dân tộc thiểu số, vùng miền núi, các hộ nghèo. Đến năm 2020 trên 80% dân số tham gia bảo hiểm y tế. d) Bảo đảm nhà ở tối thiểu; e) Bảo đảm nước sạch; f) Bảo đảm thông tin - Đảm bảo Quyền trẻ em cho mọi trẻ em được sống trong môi trường an toàn, lành mạnh và thân thiện; Giảm thiểu bất bình đẳng về mức sống, về cơ hội phát triển giữa các nhóm trẻ em khác nhau; Tập trung giải quyết những vấn đề bức xúc trong xã hội liên quan đến ngược đãi, xâm hại, bạo lực, bóc lột, xao nhãng trẻ em, mại dâm trẻ em, trẻ em nghiên ma túy, vi phạm phát luật... dảm bảo ổn định trật tự xã hội. 2. Khung phân tích chính sách liên quan đến bảo vệ, chăm sóc trẻ em   CHÍNH SÁCH & CHƯƠNG TRÌNH          PHÂN TÍCH/KHUYẾN NGHỊ Văn bản         Mục tiêu/đối tượng hưởng lợi         Phân tích        Khuyến nghị CHÍNH SÁCH TRỢ GIÚP XÃ HỘI Nghị định số 67/2007/NĐ-CP ngày 13/4/2007 của Chính phủ về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội Nghị định số 13/2010/NĐ-CP ngày ngày 27/02/2010 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung Nghị định 67 Quyết định số 38/2004/QĐ-TTg ngày 17/3/2004 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách trợ giúp kinh phí cho gia đình, cá nhân nhận nuôi dưỡng trẻ em mồ côi và trẻ em bị bỏ rơi · gồm 7 nhóm đối tượng liên quan đến trẻ em: (1) Trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi, mất nguồn nuôi dưỡng thuộc hộ gia đình nghèo (2) Trẻ em khuyết tật nặng, (3) Trẻ em khuyết tật đặc biệt nặng, (4) Hộ gia đình có NKT đặc biệt nặng, (5) Trẻ em nhiễm HIV/AIDS thuộc hộ gia đình nghèo, (6) Người nhận nuôi dưỡng trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi, (7) Người đơn thân hộ nghèo, đang nuôi con nhỏ dưới 16 tuổi. · Mức trợ cấp: cho trẻ em 180.000 – 270.000 – 360.000/em/tháng tuỳ theo từng loại đối tượng, độ tuổi;cho gia đình nuôi dưỡng 270.000 – 360.000 – 450.000 – 540.000 đồng/tháng tuỳ theo từng loại đối tượng; sống trong các cơ sở bảo trợ xã hội 360.000 - 450.000 đồng/em/tháng tuỳ theo từng đối tượng, độ tuổi · Ngoài ra, được cấp thẻ bảo hiểm y tế và hưởng thêm các khoản trợ giúp như: các đối tượng học văn hoá, học nghề được miễn, giảm học phí, được cấp sách, vở, đồ dùng học tập theo quy định của pháp luật; khi chết được hỗ trợ kinh phí mai táng. Các đối tượng ở cơ sở bảo trợ xã hội của Nhà nước, ngoài các khoản trợ giúp trên còn được trợ cấp để mua sắm tư trang, vật dụng phục vụ cho sinh hoạt đời sống thường ngày; trợ cấp để mua thuốc chữa bệnh thông thường; riêng người nhiễm HIV/AIDS được hỗ trợ điều trị nhiễm trùng cơ hội… khi chết được mai tang phí - Trợ giúp xã hội ở cộng đồng: năm 2011 trợ cấp 1,673 triệu người (trong đó có trẻ em), chiếm gần 2% dân số. - Mức trợ cấp xã hội khá thấp so với mức sống trung bình của cộng đồng dân cư (ước tình chỉ bằng 30%), so chuẩn nghèo trong từng giai đoạn (khoảng) 36-45% chuẩn nghèo - Nuôi dưỡng, chăm sóc trong cơ sở trợ giúp trẻ em: số lượng trẻ em được nuôi dưỡng trong các cơ sở của là 22.597 em, trong đó có 10.222 em hiện đang được chăm sóc, nuôi dưỡng trong 313 cơ sở do nhà nước thành lập và có 12359 em sống trong 341 cơ sở do các tổ chức xã hội và tư nhân thành lập. - Các địa phương đã đẩy mạnh các hoạt động xã hội hóa huy động nguồn lực và khuyến khích thành lập cơ sở tư nhân, từng bước giảm bớt gánh nặng ngân sách nhà nước. - Tăng đối tượng hưởng trợ cấp xã hội lên khoảng 4-5% dân số - mức trợ cấp xã hội đáp ứng 70% nhu cầu chi tiêu của mức sống tối thiểu (tức là khoảng 350 ngàn đồng một tháng) - Mở rộng trẻ em trong các hộ gia đình nghèo, gia đình thu nhập thấp (trước mắt có thể tạm coi là hộ cận nghèo) phải gắn với điều kiện bắt là gia đình và trẻ em phải cam kết đến trường học, trừ trường hợp do khuyết tật nặng trẻ em không có khả năng đến trường học); đặc thù đối với đồng bào dân tộc thiểu số cư trú ở vùng cao, biên giới, hải đảo. Nghị định 118/2010/NĐ-CP của Thủ tướng Chính phủ Trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS ở các cơ sở giáo dục và trường giáo dưỡng: Chế độ ăn, mặc, nghỉ, chữa bệnh               Quyết định số 17/2007/QĐ-TTg ngày 29 tháng 01 năm 2007 ban hành quy chế tiếp nhận và hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng cho phụ nữ, trẻ em bị buôn bán từ nước ngoài trở về Chế độ trợ cấp: Nạn nhân sau khi tiếp nhận được cấp một lần quần áo, chăn màn, vật dụng cá nhân cần thiết; Định mức ăn hàng tháng của nạn nhân tại cơ sở tiếp nhận nạn nhân và cơ sở hỗ trợ nạn nhân được áp dụng như đối tượng tại các cơ sở xã hội do ngành Lao động - Thương binh và Xã hội quản lý; Trong thời gian lưu trú tại cơ sở tiếp nhận, nạn nhân được sắp xếp chỗ ở phù hợp với lứa tuổi, giới tính và tình trạng sức khỏe; Nạn nhân khi trở về địa phương được hỗ trợ tiền tàu xe, trợ cấp tiền ăn trong thời gian đi đường, được hưởng các chính sách hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng theo quy định. Chế độ hỗ trợ về y tế: Đối với nạn nhân phải điều trị để phục hồi sức khoẻ thì được xem xét hỗ trợ chi phí khám bệnh, tiền thuốc chữa trị; Chi phí điều trị trong thời gian nằm viện do Sở Lao động – Thương binh và Xã hội chi trả từ nguồn ngân sách hỗ trợ nạn nhân theo quy định về mức thu một phần viện phí tại các cơ sở y tế công lập. Quy chế quy định hỗ trợ về tâm lý:Các cơ quan chức năng khi thực hiện công tác tiếp nhận và hỗ trợ nạn nhân cần có các biện pháp nhằm giúp nạn nhân ổn định về tâm lý ngay từ khi tiếp nhận và trong suốt quá trình hỗ trợ tái hoà nhập cộng đồng; Quy chế quy định Hỗ trợ về thủ tục pháp lý: Nạn nhân trở về nơi cư trú được xem xét cấp lại hộ khẩu, chứng minh nhân dân. Trẻ em là con của nạn nhân đi cùng mẹ nếu chưa có giấy khai sinh thì được làm thủ tục khai sinh theo quy định của pháp luật hiện hành. Quy chế quy định Hỗ trợ học văn hóa, học nghề: Nạn nhân là trẻ em nếu tiếp tục đi học thì được hỗ trợ tiền mua sách giáo khoa và đồ dùng học tập trong năm học đầu tiên; Nạn nhân khi trở về địa phương thì được xem xét, hỗ trợ học nghề. Việc tổ chức dạy nghề do hệ thống các Trung tâm Dạy nghề tại địa phương thực hiện. CHÍNH SÁCH CHĂM SÓC SỨC KHỎE Luật Bảo hiểm y tế số 25/2008/QH12 ngày 14 tháng 11 năm 2008; Nghị định số 62/2009/NĐ-CP ngày 27 tháng 7 năm 2009 của Chính phủ Quyết định số 797/QĐ-TTg ngày 26 tháng 6 năm 2012 Nhà nước đóng bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 6 tuổi trong đó có trẻ mồ côi, bỏ rơi, khuyết tật ...và được chi trả 100% chi phí khám, chữa bệnh theo quy định của Bảo hiểm y tế. Trẻ em được hưởng trợ cấp xã hội; trẻ em thuộc hộ gia đình nghèo; người dân tộc thiểu số đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn được nhà nước mua thẻ bảo hiểm y tế và được hưởng 95% chi phí khám bệnh, chữa bệnh phần còn lại do người bệnh tự thanh toán với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh. Nâng mức hỗ trợ đóng bảo hiểm y tế cho người thuộc hộ gia đình cận nghèo, Trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS thuộc hộ cận nghèo được nhà nước hỗ trợ tối thiểu bằng 70% mức đóng bảo hiểm y tế (theo chuẩn nghèo quốc gia) Mở rộng hỗ trợ trẻ em mắc bệnh hiểm nghèo có hoàn cảnh kinh thế khó khăn, Luật phòng, chống nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS) Nhà nước có chính sách hỗ trợ phòng, chống lây nhiễm HIV từ mẹ sang con, nuôi dưỡng trẻ em dưới 6 tháng tuổi sinh ra từ người mẹ nhiễm HIV bằng sữa thay thế. + Phụ nữ mang thai tự nguyện xét nghiệm HIV được miễn phí. + Phụ nữ nhiễm HIV được tạo điều kiện tiếp cận các biện pháp dự phòng lây nhiễm HIV từ mẹ sang con. + Phụ nữ nhiễm HIV trong thời kỳ mang thai, cho con bú được tư vấn về phòng, chống HIV/AIDS. + Cơ sở y tế có trách nhiệm theo dõi, điều trị và thực hiện các biện pháp nhằm giảm sự lây nhiễm HIV từ mẹ sang con cho phụ nữ nhiễm HIV trong thời kỳ mang thai. + Ưu tiên cấp miễn phí cho trẻ em từ đủ 6 tuổi đến dưới 16 tuổi nhiễm HIV được sử dụng thuốc kháng HIV do ngân sách nhà nước chi trả, thuốc do tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài tài trợ tại các cơ sở điều trị HIV/AIDS. Quyết định số 1019/QĐ-TTg về Phê duyệt Đề án trợ giúp người khuyết tật giai đoạn 2012 – 2020            Hằng năm 70% người khuyết tật tiếp cận các dịch vụ y tế dưới các hình thức khác nhau; 70% trẻ em từ sơ sinh đến 6 tuổi được sàng lọc phát hiện sớm khuyết tật bẩm sinh, rối loạn phát triển và được can thiệp sớm các dạng khuyết tật; khoảng 60.000 trẻ em và người khuyết tật được phẫu thuật chỉnh hình, phục hồi chức năng và cung cấp dụng cụ trợ giúp phù hợp; CHÍNH SÁCH GIÁO DỤC Nghị định số 49/2010/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2010 quy định miễn giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập và cơ chế thu, sử dụng học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân từ năm học 2010 - 2011 đến năm học 2014 – 2015            Đối tượng không phải đóng học phí: học sinh tiểu học; học sinh, sinh viên sư phạm; Học sinh sống thường trú tại các xã biên giới, vùng cao, hải đảo và các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; Thuộc đối tượng bảo trợ xã hội; Con của hạ sĩ quan và binh sĩ, chiến sĩ đang phục vụ có thời hạn trong lực lượng vũ trang nhân dân; Đối tượng được giảm học phí bao gồm: Các đối tượng được giảm 70% học phí gồm: học sinh, sinh viên các chuyên ngành nhã nhạc cung đình, chèo, tuồng, cải lương, múa, xiếc và một số chuyên ngành, nghề nặng nhọc, độc hại. Các đối tượng được giảm 50% học phí gồm: Trẻ em là con CBCNVC mà cha hoặc mẹ bị tai nạn lao động hoặc mắc bệnh nghề nghiệp được hưởng trợ cấp thường xuyên; Trẻ em thuộc hộ nghèo, cận nghèo; Học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở đi học nghề. Đối tượng được hỗ trợ chi phí học tập: Trẻ em thường trú tại các xã biên giới, vùng cao, hải đảo và các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; Trẻ em thuộc đối tượng bảo trợ xã hội Quyết định số 239/QĐ-TTg ngày 09 tháng 02 năm 2010 về phê duyệt Đề án Phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi giai đoạn 2010 – 2015 Quyết định số 60/2011/QĐ-TTG ngày 26 tháng 10 năm 2011 Quy định một số chính sách phát triển giáo dục mầm non giai đoạn 2011 - 2015 Hỗ trợ trẻ năm tuổi ở các cơ sở giáo dục mầm non có cha mẹ thư­ờng trú tại các xã biên giới, núi cao, hải đảo và các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; mồ côi cả cha lẫn mẹ không nơi n­ương tựa hoặc bị tàn tật, khuyết tật có khó khăn về kinh tế; cha mẹ thuộc diện hộ nghèo theo quy định của nhà nư­ớc Hỗ trợ 120 nghìn đồng/tháng (một năm học 9 tháng) để duy trì bữa ăn trưa tại trường; Trẻ em có hoàn cảnh khó khăn học tại các trường mầm non tư thục được nhà nước hỗ trợ một phần học phí, nhằm tăng tỷ lệ huy động trẻ đên trường; Tổ chức các loại hình trường lớp phù hợp, tạo cơ hội cho trẻ em năm tuổi được đến trường: các vùng khó khăn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo, các tỉnh vùng Tây Bắc, Tây Nguyên và đồng bằng sông Cửu Long, 100% số trẻ em năm tuổi được học tại các trường công lập từ năm 2010. Vùng nông thôn đồng bằng, phần lớn trẻ em được học tại các trường công lập có thu học phí. Duy trì, giữ vững số trẻ dưới năm tuổi ra lớp công lập không thấp hơn mức hiện có, phát triển giáo dục mầm non ngoài công lập ở những nơi có điều kiện. Thông tư số 39/2009/TT-BGDĐT ngày 29/12/2009 của Bộ Giáo dục – Đào tạo ban hành quy định giáo dục hòa nhập cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn Có quyền nhập học tại các cơ sở giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân. Tuổi đi học của trẻ em có hoàn cảnh khó khăn có thể cao hơn tuổi quy định. Được quan tâm giúp đỡ và cung cấp thông tin; được tôn trọng và đối xử bình đẳng trong học tập và trong các hoạt động khác. Được học tập phù hợp với trình độ, năng lực cá nhân; được giúp đỡ đặc biệt để đạt được các kỹ năng cần thiết trong học tập và sinh hoạt (nếu cần). Trẻ em có hoàn cảnh khó khăn không thể đáp ứng yêu cầu của môn học, hoặc hoạt động giáo dục thì người đứng đầu cơ sở giáo dục quyết định việc miễn, giảm môn học, hoạt động giáo dục đó. Được xét miễn, giảm học phí và các khoản đóng góp khác; được cấp sách giáo khoa, học phẩm, hỗ trợ sinh hoạt khác theo quy định của Nhà nước. Quyết định số 2123/QĐ-TTg ngày 22 tháng 11 năm 2010 phê duyệt Đề án Phát triển giáo dục đối với các dân tộc rất ít người giai đoạn 2010 - 2015 Hoàn thiện cơ chế, chính sách đặc thù cho trẻ em, học sinh, sinh viên các dân tộc rất ít người. Bảo đảm: 95% trẻ mẫu giáo 3-5 tuổi dân tộc rất ít người được học 2 buổi/ngày theo Chương trình giáo dục mầm non mới tại các trường, lớp mẫu giáo thôn bản công lập; 100% học sinh dân tộc rất ít người cấp tiểu học được học tại các điểm trường ở thôn bản và ở các trường phổ thông dân tộc bán trú; 100% học sinh dân tộc rất ít người hoàn thành chương trình tiểu học được vào học tại các trường phổ thông dân tộc nội trú huyện hoặc trường phổ thông dân tộc bán trú; 100% học sinh dân tộc rất ít người tốt nghiệp trung học cơ sở ở các trường phổ thông dân tộc nội trú huyện, trường phổ thông dân tộc bán trú được vào học tại trường phổ thông dân tộc nội trú tỉnh hoặc trường phổ thông dân tộc nội trú huyện liên cấp trung học cơ sở và trung học phổ thông hoặc vào học tại các trường trung cấp chuyên nghiệp; 95% học sinh dân tộc rất ít người sau khi tốt nghiệp trung học phổ thông được ưu tiên cử tuyển, xét tuyển đặc biệt vào các trường, khoa dự bị đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp, dạy nghề; 100% trẻ em, học sinh, sinh viên các dân tộc rất ít người thuộc hộ nghèo được hưởng chế độ, chính sách đặc thù về hỗ trợ học tập. Chính sách hỗ trợ rất thiết thực, nhưng chỉ giải quyết được tương đối những vấn đề có tính cấp thiết để động viên, khuyến khích trẻ em tới trường. Nguyên nhân sâu xa (có tính bản chất) vẫn là kinh tế gia đình khó khăn, hủ tục lạc hậu, đồng bào chưa thay đổi được nhận thức về thói quen trong ăn, ở, sinh hoạt và canh tác, chưa ý thức được việc cần phải đầu tư cho con em học hành mới thay đổi được cuộc sống         hướng dẫn một số chế độ tài chính đối với học sinh các trường PTDTNT và PTDTBT Quyết định số 82/2006/QĐ-TTg ngày 14/4/2006 của Thủ tướng Chính phủ và Thông tư liên tịch số 43/TTLT-BTC-BGD&ĐT ngày 2/5/2007 của Liên Bộ Tài Chính và Bộ Giáo dục và Đào tạo); các chế độ khác được quy định tại Thông tư liên tịch số 119/2009/TTLT-BTC-BGD&ĐT ngày 29/5/1999 của Liên Bộ Tài Chính và Giáo dục và Đào tạo Quyết định số 85/2010/QĐ-TTg Ban hành một sô chính sách hỗ trợ học sinh bán trú và trường phổ thông dân tộc bán trú Học sinh trường PTDTNT được cấp học bổng bằng 80% mức lương tối thiểu Hỗ trợ tiền ăn: học sinh bán trú, mỗi tháng được hỗ trợ bằng 40% mức lương tối thiểu chung và được hưởng không quá 9 tháng/năm học/học sinh; Hỗ trợ nhà ở: học sinh bán trú được ở trong khu bán trú của nhà trường; đối với những học sinh phải tự lo chỗ ở, mỗi tháng được hỗ trợ bằng 10% mức lương tối thiểu chung và được hưởng không quá 9 tháng/năm học/học sinh; Đối với học sinh bán trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nếu có nhiều mức hỗ trợ cho cùng một chính sách thì học sinh bán trú chỉ được hưởng một mức hỗ trợ cao nhất Chính sách hỗ trợ học sinh có hoàn cảnh khó khăn đi học phải đi đôi với các điều kiện: con hộ nghèo, vùng khó khăn, hoặc tính theo quãng đường từ nhà đến trường của trẻ em,...có nhiều địa phương không hỗ trợ được các thiết bị đun, nấu, ăn uống,...vì vậy nhà trường không tổ chức nấu ăn trưa cho các em được, số tiền này giáo viên chi trả trực tiếp cho gia đình và thường bị gia đình các em chi tiêu vào việc khác. Có địa phương tổ chức cho trẻ em ăn được tại lớp học nhưng trong lớp còn một số trẻ em không được hưởng chế độ, giáo viên phải cho các trẻ này ăn chung với các em có chế độ, gây thắc mắc trong đồng bào. Quyết định số 267/2005/QĐ-TTg, ngày 31 tháng 10 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ chính sách dạy nghề đối với học sinh dân tộc thiểu số nội trú quy định chính sách và tổ chức dạy nghề đối với học sinh dân tộc thiểu số nội trú, theo đó, học sinh dân tộc thiểu số tốt nghiệp các trường PTDTNT học nghề được hưởng học bổng, trợ cấp xã hội và các chính sách khác như học sinh phổ thông dân tộc nội trú. Chính sách hỗ trợ cho học sinh có hoàn cảnh khó khăn thường chỉ theo từng giai đoạn nhất định và không đi cùng với các hệ thống chính sách phát triển kinh tế, xã hội khác, khi hết chính sách hỗ trợ tình hình kinh tế của đồng bào phần lớn chưa được cải thiện nên hiệu quả của chính sách hỗ trợ học sinh đến trường không đạt được kết quả như mong đợi.            [1] Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt: Theo Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em thì trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt là những trẻ em có hoàn cảnh không bình thường (về cá nhân và môi trường chăm sóc) bao gồm: Trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi; trẻ lang thang; trẻ em phải làm việc nặng nhọc, nguy hiểm, tiếp xuác với chất độc hại; trẻ em khuyết tật, tàn tật; trẻ em làm việc xa gia đình; trẻ em bị ảnh hưởng chất độc hoá học; Trẻ em nhiễm HIV/AIDS; trẻ em bị xâm hại tình dục; trẻ em nghiện ma tuý; trẻ em vi phạm pháp luật. [2]Trẻ em có nguy cơ rơi vào hoàn cảnh đặc biệt: là những trẻ em ở trong những điều kiện, hoàn cảnh mà nếu không được can thiệp kịp thời thì sẽ trở thành trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt. Các yếu tố nguy cơ khiến cho trẻ em rơi vào hoàn cảnh đặc biệt có thể bao gồm các yếu tố bên ngoài (gia đình, nhà trường, cộng đồng, xã hội) và những yếu tố cá nhân của trẻ em (như thiếu kỹ năng xã hội, thiếu kỹ năng sống, lêu lổng, bỏ học  Nguồn: http://treem.molisa.gov.vn/
Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng người khuyết tật sống nghèo khổ, bị kỳ thị, xem thường, thậm chí bị hành hạ, bị chà đạp phẩm giá... là do họ gặp rất nhiều khó khăn trong việc tiếp cận việc làm và không có nguồn thu nhập cần thiết để trang trải cho cuộc sống hàng ngày của bản thân. Đảm bảo việc làm và thu nhập cho người khuyết tật sẽ giúp dần xóa bỏ sự kỳ thị, thiếu tôn trọng đối với người khuyết tật trong xã hội. 
Luật Bảo hiểm xã hội sửa đổi được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 20/11/2014 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2016. Quan điểm sửa đổi Luật Bảo hiểm xã hội là nhằm tiếp tục thể chế hóa quan điểm của Đảng, quy định của Hiến pháp về quyền được bảo đảm an sinh xã hội của công dân và trách nhiệm của Nhà nước tại Điều 34 và Điều 59, khắc phục những bất cập của luật hiện hành, đáp ứng nguyện vọng của người lao động và góp phần hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về an sinh xã hội phù hợp với quá trình phát triển đất nước
Tóm tắt: Bài viết này phân tích và đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam hiện hành về dạy nghề cho người khuyết tật (NKT) trên các phương diện: Chính sách đối với cơ sở dạy nghề, chính sách đối với NKT học nghề và chính sách đối với giáo viên dạy nghề cho NKT; đồng thời đưa ra một số khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả việc học nghề đối với NKT cả ở phương diện hoàn thiện pháp luật và biện pháp tổ chức thực hiện.
Dụng cụ chỉnh hình phục hồi chức năng (PHCN) là những dụng cụ có thể hỗ trợ người khuyết tật phục hồi những chức năng đã bị suy giảm, hoặc thay thế những bộ phận cơ thể bị khiếm khuyết. Tuy nhiên, vai trò thực sự của các dụng cụ chỉnh hình PHCN thì không phải người khuyết tật nào cũng hiểu rõ và có cơ hội tìm hiểu về những dụng cụ này.
Ghi nhận quyền bình đẳng trước pháp luật của người khuyết tật (NKT), tuyên bố NKT có năng lực pháp lí trên cơ sở bình đẳng như những người khác trong tất cả các mặt của đời sống xã hội, Công ước về quyền của NKT đã quy định quyền tiếp cận công lí (TCCL)của NKT tại Điều 12 vàĐiều13.([1])Nghiên cứu, so sánh, đánh giá sự tương thích giữa pháp luật Việt Nam với pháp luật quốc tế về bảo đảm quyền TCCL, quyền được TGPL của NKT có ý nghĩa cả về học thuật và thực tiễn, trên bình diện quốc tế cũng như ở Việt Nam hiện nay. Thông qua nội dung, tinh thần các quy định của pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, nghiên cứu này chỉ rõ những điểm khác biệt giữa pháp luật Việt Nam với pháp luật quốc tế, đặc biệt là những quy định của Công ước về quyền của NKT trong việc bảo đảm quyền TCCL, quyền được TGPL của NKT, từ đó đề xuất một số ý kiến nhằm hoàn thiện pháp luật, thực hiện tròn vẹn nghĩa vụ quốc gia khi Việt Nam phê chuẩn và trở thành thành viên chính thức của Công ước. 1. Quyền tiếp cận công lí của người khuyết tật theo pháp luật quốc tế 1.1. Khái niệm quyền TCCL của NKT TCCL với tính cách là quyền cơ bản của con người đã được pháp luật quốc tế hiện đại ghi nhận.([2]) Từ thời cổ đại, quyền TCCL được hình thành, phát triển theo tiến trình vận động của lịch sử văn minh nhân loại,nền dân chủ, sự tiến bộ và công bằng xã hội.([3])Ngày nay, tuy khái niệm quyền TCCL theo giới khoa học pháp lí ở các quốc gia trên thế giới có những nét riêng tuỳ theo đặc điểm xã hội, bản sắc văn hoá chính trị-pháp lí của mỗi quốc gia, dân tộc nhưng đều mang những giá trị chung với ý nghĩa là quyền của tất cả mọi người được tôn trọng phẩm giá, được thụ hưởng hoặc đối xử theo lẽ phải, chính nghĩa, công bằng, bình đẳng, hợp lí và nhân văn. Công lí còn là các giá trị hay cách hành xử đúng đắn, mang tính người như nghiêm minh, chính trực, là lương tâm, lòng nhân ái, bao dung… Có thể nói tiếp cận công lí là tiếp cận được để thụ hưởng các giá trị nhân bản, tiến bộ, văn minh, đạo đức trong đời sống xã hội loài người. Công lí, đó là khát vọng vĩnh cửu của con người và cũng là mục tiêu phấn đấu không ngừng của mỗi quốc gia, dân tộc và cộng đồng quốc tế để tồn tại và phát triển bền vững, nhất là trong điều kiện toàn cầu hoá hiện nay. Với ý nghĩa đó mà nói thì công bằng, bình đẳng…. là các biểu hiện cụ thể của công lí, mặt khác tuy pháp luật đóng vai trò là phương thức ghi nhận, phản ánh, hàm chứa, bảo đảm công lí nhưng cũng không đồng nhất với công lí. Do vậy, để bảo đảm, bảo vệ, hiện thực hoá quyền con người nói chung, quyền của NKT nói riêng chúng ta không chỉ dựa vào pháp luật mà điều quan trọng hơn là phải thông qua xây dựng, hoàn thiện pháp luật, thực hiện pháp luật để tiến đến mục tiêu cao hơn là củng cố, duy trì, bảo vệ, vun đắp cho nền công lí. Bởi lẽ trên phương diện nhất định, chỉ có công lí mới có thể được coi là giá trị tương đồng với phẩm giá, các quyền và tự do của con người. Công lí được quan niệm là hệ giá trị tự nhiên, vốn có, còn pháp luật là sản phẩm của con người (chính quyền nhà nước) làm ra trong những điều kiện kinh tế-xã hội nhất định. Tuy nhiên, nếu pháp luật tốt và thực hiện pháp luật tốt thì đó chính là điều kiện cần thiết để bảo đảm cho mọi người tiếp cận được công lí. Từ những quan niệm như vậy, qua nghiên cứu chúng tôi cho rằng công lí là phạm trù có tính khái quát cao, phản ánh hệ giá trị tổng hợp, liên quan đến đạo đức xã hội, nền chính trị, pháp luật và hoạt động của bộ máy nhà nước. Vì thế, để tiếp cận công lí thì NKT phải sử dụng được tổng thể các yếu tố như: hệ thống pháp luật (nhận thức được về quyền và pháp luật về quyền của NKT; cả luật nội dung và luật tố tụng), các thiết chế thực thi pháp luật (tư pháp, hành chính, các thiết chế bổ trợ, các tổ chức, đơn vị cung cấp dịch vụ công). Ngoài ra, đối với NKT (là những người có đặc điểm riêng), để họ tiếp cận được đến công lí, bên cạnh sự nỗ lực vượt khó của bản thân thì nhất thiết cần có sự điều chỉnh hợp lí hoặc “thiết kế phổ cập” từ phía nhà nước, xã hội cũng như sự trợ giúp của cộng đồng. Sự điều chỉnh hay sự trợ giúp này không bị coi là vi phạm nguyên tắc công bằng, bình đẳng giữa người với người. Ngược lại, đây là cách thức, là biện pháp cần thiết của một xã hội hài hoà, văn minh để xoá bỏ mọi rào cản, loại trừ sự phân biệt đối xử nhằm bảo đảm cho công lí được hiện hữu. 1.2. Quy định của pháp luật quốc tế về quyền TCCL của NKT Các văn bản pháp lí quốc tế về nhân quyền trước đây chưa đề cập trực tiếp đến quyền của NKT. Do vậy, cũng như mọi quyền khác, quyền tiếp cận công lí của NKT được suy ra từ những nguyên tắc chung về quyền con người (công bằng, bình đẳng và không phân biệt đối xử). Tuy nhiên, như chúng ta biết, sự ra đời của Công ước về quyền của NKT là một sự chuyển biến mang tính cách mạng, một thành tựu lớn lao của sự nghiệp đấu tranh, thúc đẩy quyền con người trên phạm vi toàn cầu. Với tiêu đề “Công nhận bình đẳng trước pháp luật” Điều 12 Công ước ghi: “1. Các quốc gia thành viên tái khẳng định rằng NKT có quyền được công nhận ở tất cả mọi nơi là những con người trước pháp luật; 2. Các quốc gia thành viên công nhận người khuyết tật có năng lực pháp lí, trên cơ sở bình đẳng như công dân khác, trong tất cả các mặt của đời sống; 3. Các quốc gia thành viên tiến hành các biện pháp thích hợp để NKT có thể tiếp cận tới những hỗ trợ mà họ cần khi thực thi năng lực pháp lí của họ; 4. Các quốc gia thành viên đảm bảo rằng tất cả các biện pháp có liên quan đến việc thực thi năng lực pháp lí, sẽ bảo vệ thích hợp và hiệu quả, phù hợp với luật nhân quyền quốc tế, để ngăn ngừa sự lạm dụng. Sự bảo vệ này sẽ bảo đảm rằng những biện pháp có liên quan tới việc thực hiện năng lực pháp lí sẽ tôn trọng quyền, ý nguyện và sở thích của NKT, không bị tranh chấp về quyền lợi và không chịu ảnh hưởng, là các biện pháp tương thích và thiết kế riêng cho hoàn cảnh của một người, áp dụng trong một thời gian ngắn nhất có thể và là đối tượng đánh giá thường xuyên của một cơ quan xét xử hay một cơ quan pháp luật có thẩm quyền, độc lập và công minh. Sự bảo vệ này phù hợp với mức độ mà các biện pháp này ảnh hưởng tới quyền và lợi ích của một con người; 5. Theo các quy định trong Điều này, các quốc gia thành viên thực thi các biện pháp phù hợp và hiệu quả để đảm bảo quyền bình đẳng của NKT về sở hữu hoặc thừa kế tài sản, kiểm soát các vấn đề tài chính của họ, tiếp cận bình đẳng tới việc vay vốn ngân hàng, thế chấp và các hình thức tín dụng tài chính khác và đảm bảo rằng NKT không bị tuỳ tiện tước mất tài sản của họ.” Điều 13 Công ước tuyên bố: “1. Các quốc gia thành viên đảm bảo NKT tiếp cận luật pháp có hiệu quả, trên cơ sở bình đẳng với những người khác, bao gồm thông qua việc cung cấp những điều chỉnh hợp lí về thủ tục và độ tuổi, nhằm phát huy vai trò thực sự của họ như những người tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp, bao gồm cả việc ra làm nhân chứng, trong tất cả các thủ tục pháp lí, bao gồm giai đoạn điều tra và các giai đoạn sơ bộ khác. 2. Nhằm đảm bảo NKT tiếp cận một cách có hiệu quả tới luật pháp, các quốc gia thành viên đẩy mạnh tập huấn thích hợp cho những người làm việc trong lĩnh vực hành chính luật pháp, bao gồm cảnh sát và các nhân viên của trại giam.” Như vậy, theo quy định trên có thể thấy Công ước đã chú trọng ghi nhận quyền TCCL([4])của NKT theo một phương thức đặc biệt: với tính cách là những người thuộc nhóm xã hội dễ bị tổn thương, họ không chỉ có quyền bình đẳng trước pháp luật như những thành viên khác mà còn có quyền được trợ giúp để thực hiện các quyền năng pháp lí của họ. Đối với NKT,quyền TCCL là quyền có ý nghĩa hết sức quan trọng, bởi lẽ đây là công cụ pháp lí thiết yếu để ghi nhận, tôn trọng, đảm bảo, bảo vệ có hiệu quả cácquyền, lợi ích, giá trịnhân phẩm của họvới tính cách là nhóm người dễ bị tổn thươngtrong cộng đồng xã hội. Ở góc độ luật nhân quyền quốc tế, ngày nay,quyền TCCL đã được cộng đồng quốc tếphát triển vàghi nhận với nội dung sâu sắc và rộng lớn hơnnhiều so với trước đây. Quyền TCCLkhông chỉ là quyền được xét xử công bằng mà còn làquyền được đền bù hay khắc phục những bất công, thiệt thòi mà cá nhân, nhómcá nhân, đặc biệt là nhóm xã hội dễ bị tổn thương phải gánh chịu trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Sự đền bù hay khắc phục đó được thực hiện thông qua cơ hội tiếp cận một cách bình đẳng tới pháp luật và các thiết chế tư pháp chính thống (các cơ quan tư pháp của Nhà nước như cơ quan điều tra, công tố, toà án…) và không chính thống (luật tục, cơ chế hoàgiải dựa trên cộng đồng…).([5]) Cho đến nay, Liên hợp quốc cũng chưa có giải thích, bình luận chung nào liên quan đến khái niệm quyền TCCL của NKT.([6]) Nhưng trên tinh thần các quy định củaluật nhân quyền quốc tế nói chung vàCông ướcvề quyền của NKT nói riêng, có thể hiểuquyền TCCL của NKT mang hai nội dung cơ bảnsau:Một là NKT được cung cấpdịch vụ tư vấnpháp luật;Hai làNKT được trợgiúptham gia tố tụng(xét xử), thủ tục hành chính, thủ tục giải quyết khiếu nại hành chính và các hoạt động khác liên quan đến pháp luật nhằm bảo vệcácquyền và lợi ích hợp pháp của mình. Từ góc độ trách nhiệm của Nhà nướcvà xã hội, đây cũng chính là nghĩa vụ, trách nhiệmcủa mỗi quốc gia thành viên Công ước, mỗi cộng đồng xã hộiphải bảođảm, thực thi và bảo vệquyền TCCLcủa NKT một cáchthực chất, hiệu quả. 2. Quyền được trợ giúp pháp lí của người khuyết tật theo pháp luật Việt Nam Từ sau khi Việt Namkítham gia Công ước về quyền của NKT, về căn bản, quá trình xây dựng và ban hành Luật NKTnăm 2010và các văn bản quy phạm pháp luật kháccó liên quanđã được dựa trên cách nhìn mới, nhận thức mới về NKT. Đó là quá trình chuyển nhận thứcvề quyền của NKTtừ chỗmang tính bảo trợ,nhân đạo,ưu tiên sang ghi nhận, tôn trọng, đảm bảo quyền của NKT với tính cách làsựbiểu hiện cụ thể, sinh động về quyềncon người. Trong khoa học pháp lí và luật nhân quyền quốc tế, quyền TCCL là khái niệm có ý nghĩa rộng lớn và phong phú. Tuy vậy, với tư cách là thành viên của các công ước quốc tế về quyền con người, Việt Nam luôn coi trọng nghĩa vụ của mình trong bảo đảm và thực thi các quyền con người. Theo đó, các quyền cơ bản của công dân Việt Nam đã thể hiện được tinh thần chung trong các quy định về quyền TCCL mà pháp luật quốc tế ghi nhận. Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 kế thừa, phát huy truyền thống hiến pháp Việt Nam và cũng thể hiện thành tựu mới rất căn bản và quan trọng trong việc tuyên bố ghi nhận, bảo đảm và bảo vệ quyền con người, quyền công dân trước yêu cầu của sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế hiện nay. Tuy không trực tiếp đề cập quyền TCCL nhưng tinh thần, tư tưởng chung của Hiến pháp là đề cao giá trị quyền con người, quyền công dân, đề cao giá trị dân chủ, nguyên tắc bình đẳng, công bằng và tiến bộ, không phân biệt đối xử trên tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế-xã hội. Đối với NKT, Hiến pháp ghi nhận trực tiếp và bảo đảm quyền được hưởng phúc lợi, an sinh xã hội, quyền được trợ giúp (khoản 2 Điều 59), được giáo dục, học nghề (khoản 3 Điều 61). Từ trước, mặc dù chưa phê chuẩn Công ước về quyền của NKT nhưngvới tư cách là nước đã kí tham gia Công ước, Việt Nam cũng đã ghi nhận quyền được TGPL của NKT với tính cách làmột trong nhữngbiểu hiện cụ thể của quyền TCCL theotinh thần củaluật nhân quyền quốc tế.([7]) Ở Việt Nam, TGPL là loại hình dịch vụ được cung cấp miễn phí, có tính nhân văn sâu sắc nhằm hỗ trợ người được trợ giúplà những đối tượng thuộc chính sách xã hội của Nhà nướcnói chung và NKTnói riêng, tạo cơ hội cho họvươn lên hoà nhập bình đẳng, có hiệu quả vào đời sốngxã hội và đời sốngpháp lí nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của họ. Thông qua đó, nhận thức của xã hội về NKT, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức và cán bộ, công chức nhà nước đối với NKT cũng được nâng lên cao hơn. Pháp luật Việt Namkhông trực tiếp ghi nhận “quyền tiếp cận công lí”([8])mà chỉ tuyên bố “quyền được trợ giúp pháp lí”. Luật NKT năm 2010 ghi rõ: “NKT được đảm bảo thực hiện quyền TGPL” (điểm d khoản 1 Điều 4 Luật NKT). Khái niệm TGPL ở Việt Nam được hiểu là hoạt độngcung cấp dịch vụpháp lí(miễn phí) cho một số đối tượngchính sách xã hội(trong đó có NKT)([9])nhằm hỗ trợ họ trong nhận thức pháp luật; tham gia tố tụng, thủ tục hành chính, giải quyết khiếu nại hành chính và các dịch vụ khác liên quan đến pháp luật nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ. Theo Luật TGPL năm 2006 được ban hành từ trước khi Việt Nam kí tham gia Công ước về quyền của NKT, TGPL“là việc cung cấp dịch vụ pháp lí miễn phí cho người được TGPL theo quy định của Luật này, giúp người được TGPL bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật; góp phần vào việc phổ biến, giáo dục pháp luật, bảo vệ công lí, bảo đảm công bằng xã hội, phòng ngừa, hạn chế tranh chấp và vi phạm pháp luật” (Điều 3 Luật TGPL). Khoản 3 Điều 10 Luật TGPL quy định “người tàn tậtvà trẻ emkhông nơi nương tựa”là một trong những đối tượngđược hưởng sự TGPL. Như vậy, quyền được TGPL là quyền của NKT với tính cách là một trong những nội dung(hoặc quyền) cụ thểthuộc quyền TCCL quy định trong Công ước về quyền của NKT đã được pháp luật Việt Nam ghi nhận từ trước và vẫn đang tiếp tục được hoàn thiện theo tinh thần của Công ước. Theo Luật TGPLnăm 2006 và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật, việc bảo đảm quyền này đối với NKTđược thể hiện trên những khía cạnh chủ yếu sau: Thứ nhất,về hình thức TGPL, theo quy định từĐiều 27 đến Điều31 Luật TGPL, các hình thức TGPL gồm có: Một là tư vấn pháp luật Trợ giúp viên pháp lí, cộng tác viên, luật sư, tư vấn viên pháp luật thực hiện tư vấn pháp luật cho người được TGPL bằng việc hướng dẫn, giải đáp, đưa ra ý kiến, cung cấp thông tin pháp luật, giúp soạn thảo văn bản liên quan đến vụ việc TGPL. Hai là tham gia tố tụng Trợ giúp viên pháp lí, luật sư tham gia tố tụng hình sự để bào chữa cho người được TGPL là người bị tạm giữ, bị can, bị cáo hoặc để bảo vệ quyền lợi của người được TGPL là người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự. Trợ giúp viên pháp lí, luật sư tham gia tố tụng dân sự, tố tụng hành chính để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được TGPL trong vụ việc dân sự, vụ án hành chính. Ba là đại diện ngoài tố tụng Trợ giúp viên pháp lí, luật sư thực hiện đại diện ngoài tố tụng cho người được TGPL khi họ không thể tự bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Việc đại diện ngoài tố tụng được thực hiện trong phạm vi yêu cầu của người được TGPL.  Bốn là các hình thức TGPL khác Trợ giúp viên pháp lí, luật sư thực hiện các hình thức TGPL khác cho người được TGPL bằng việc giúp đỡ họ hoà giải, thực hiện những công việc liên quan đến thủ tục hành chính, khiếu nại và các hoạt động khác theo quy định của pháp luật. Thứ hai,về đối tượng được TGPL Theo khoản 4 Điều 2 Nghị định của Chínhphủ số 70/2007/NĐ-CP ngày 12/01/2007 quyđịnh chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điềucủa Luật TGPL: “Người tàn tật được TGPL quy định tại khoản 3 Điều 10 Luật TGPL là người bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể hoặc chức năng biểu hiện dưới những dạng tật khác nhau, làm suy giảm khả năng hoạt động, khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp nhiều khó khăn hoặc là người bị nhiễm chất độc hoá học, bị nhiễm HIV hoặc bị các bệnh khác làm mất năng lực hành vi dân sự mà không có nơi nương tựa.”Quy định trên đây đã được sửa đổithành: “NKT theo Luật NKT là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn; người bị nhiễm chất độc hoáhọc, bị nhiễm HIV mà không có nơi nương tựa”.([10]) Để triển khai thực thi các quy định của LuậtTGPLvề vấn đề TGPL trong hoạt động tố tụng, năm 2007,Bộ tư pháp, Bộ công an, Bộ quốc phòng, Bộ tài chính, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã ban hành Thông tư liên tịch số 10/2007/TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC-VKSNDTC-TANDTCngày 28/12/2007 hướng dẫn áp dụng một số quy định về TGPL trong hoạt động tố tụng. Thông tư này tạo cơ sở pháp lí để triển khai ápdụng các quy định của Luật TGPL về TGPL trong hoạt động tố tụng.([11]) Về TGPL trong việc khiếu nại đối với các quyết định hành chính, hành vi hành chính, Bộ tư pháp và Thanh tra Chính phủ đã ban hành Thông tư liên tịch số 10/2011/TTLT-BTP-TTCP ngày 06/6/2011 hướng dẫn TGPL trong việc khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính.Nhằm đảm bảo chất lượng, hiệu quả hoạt động TGPL nói chung, năm 2008, Bộ trưởng Bộ tư pháp cũng đã ban hành các văn bản hướng dẫn nghiệp vụ TGPL, quy định tiêu chuẩn đánh giá chất lượng vụ việc TGPL, điều lệ mẫu về tổ chức và hoạt động của câu lạc bộ TGPL.([12]) Sau khi Luật TGPL được ban hành, để thực thi quyền được TGPL của các đối tượng theo quy định, trong đó có NKT, Thủ tướng Chính phủ đã ra Chỉ thị về việc triển khai thi hành Luật TGPL.([13])Chỉ thị giao nhiệm vụ cho các bộ,ngành có trách nhiệm rà soát các quy định pháp luật về TGPL, xây dựng các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành LuậtTGPL, xây dựng quy hoạch tổ chứcmạng lưới tổ chức TGPL; đào tạo,bồi dưỡng, phát triển đội ngũ trợ giúp viên pháp lí…Về chiến lược tổng thể, dài hạn phát triển lĩnh vực TGPL, ngày 10/5/2011, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược phát triển TGPL ở Việt Nam đến năm 2020, định hướng đến năm 2030.([14]) Một trong những mục tiêu được nhấn mạnh ở đây là phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực TGPL nhằm đảm bảo đủ năng lực thực hiện TGPL cho các đối tượng theo luật, trong đó có NKT. Để trợ giúp NKT vượt qua các rào cản, khó khăn vươn lên hoà nhập cộng đồng, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án trợ giúp NKT giai đoạn 2012 -2020. Với mục tiêu chung là “hỗ trợ NKT phát huy khả năng của mình để đáp ứng nhu cầu bản thân; tạo điều kiện để NKT vươn lên tham gia bình đẳng vào các hoạt động kinh tế-xã hội, góp phần xây dựng cộng đồng và xã hội”, Đề án xác định một số mục tiêu cụ thể trong lĩnh vựcTGPL, theo đó trong giai đoạn 2012 -2015có90% NKT được TGPL khi có nhu cầu, đến giai đoạn 2016 -2020có 100% NKT được TGPL khi có nhu cầu.([15]) Thực hiện Đề án, Bộ trưởng Bộ tư pháp cũng đã ra Quyết định ban hành Kế hoạch năm 2013 triển khai chính sách TGPL cho NKT, trong đó xác định các chỉ tiêu, nhiệm vụ cụ thể của các cơ quan, tổ chức có liên quan theo tiến độ thời gian.([16]) Bên cạnh những thành tựu bước đầu, về hoạt động TGPL nói chung, theo Báo cáo của Cục TGPL Bộ tư pháp, ở một số địa phương, chất lượng vụ việc TGPL còn nhiều hạn chế, nhất là vụ việc tư vấn và vụ việc tham gia tố tụng; hiệu quả TGPL lưu động chưa cao, sinh hoạt câu lạc bộ còn hình thức.([17]) Về diện đối tượng, đến nay người được TGPL chủ yếu là người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số, người có công với Cách mạng, người già cô đơn, NKT, trẻ em không nơi nương tựa. Về hình thức TGPL, các vụ việc chủ yếu được thực hiện bằng hình thức tư vấn pháp luật, hình thức tham gia tố tụng còn chưa cao so với tỉ lệ án đã thụ lí; lĩnh vực pháp luật chủ yếu là đất đai và dân sự, tỉ lệ số vụ việc lao động và hành chính còn thấp.([18]) Đối với công tác TGPL cho NKT, những hạn chế, bất cập hiện nay thể hiện ở những điểm sau: Một là về tư vấn pháp luật, thông qua TGPL, NKT chủ yếu được tư vấn về các chế độ liên quan đến quyền, lợi ích của mình thông qua chính sách, pháp luật của Nhà nước, phần lớn là nhu cầu được giải đáp, tư vấn về chế độ chính sách bảo trợ xã hội, lao động, học nghề, đất đai, nhà ở.Quyền của NKT trên các lĩnh vực chính trị, văn hoá, giáo dục, du lịch, tham gia quản lí nhà nước, quản lí xã hội; quyền TCCL, được TGPL chưa được quan tâm tương xứng. Hai là về các hình thức TGPL khác như TGPL trong hoạt động tố tụng, ngoài tố tụng; thủ tục hành chính, thủ tục giải quyết khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính… còn ít so với số vụ án đã thụ lí. Đặc biệt, số NKT được trợ giúp pháp lí trong hoạt động tố tụng lại càng ít hơn. Trên thực tế, sự hoà nhập, tham gia bình đẳng của NKT vào đời sống xã hội nói chung cũng như đời sống pháp lí nói riêng ở Việt Nam hiện nay đã được cải thiện hơn so với trước khi có Luật NKT. Tuy nhiên, là nhómdễ bị tổn thươnglớn nhất, điều kiện sống của nhiềuNKT cònkhó khăn, phần lớn họsống ở vùng nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa; trình độ văn hoá thấp, không có việc làm hoặc việc làm không ổn định. Bên cạnh đó sự kì thị, phân biệt đối xử vẫn còn diễn ra khá phổ biến. Nhận thức của người dân nói chung và nhất là của nhiều cơ quan, tổ chức, cán bộ, công chức nhà nước về quyền của NKT chưa có sự chuyển biến căn bản. Chính những NKT cũng chưa hiểu biết đầy đủ, đúng đắn về quyền của mình. Các chính sách của Đảng và Nhà nước đối với NKT chưa được triển khai kịp thời và sâu rộng trong thực tiễn. Do vậy, sự tiếp cận của NKT nói chung và quyềnTCCL, quyền được TGPL nói riêng còn nhiều khó khăn. Quyền của họ trong lĩnh vực này chưa được đảm bảo thực thi một cách vững chắcvàcó hiệu quả. 3. Đánh giá sự tương thích giữa pháp luật Việt Nam với pháp luật quốc tế về quyền tiếp cận công lí và quyền được trợ giúp pháp lí của người khuyết tật 3.1. Về các quy định chung - Quan điểm tiếp cận vấn đề khuyết tật, quyền của NKT theo pháp luật quốc tế (Công ước về quyền của NKT) mang tính triệt để, toàn diện và cơ bản hơn, xét từ góc độ tiếp cậnxã hội, dựatrên quyền con người. Điều này trước hết được thể hiện ngay ở khái niệm NKT. Theo quy định tại Điều 3 Công ướcvề quyền của NKT, “NKTbao gồm những người bị suy giảm về thể chất, thần kinh, trí tuệ hay giác quan trong một thời gian dài, có ảnh hưởng qua lại với hàng loạt những rào cản có thể cản trở sự tham gia đầy đủ và hiệu quả của họ vào xã hội trên cơ sở bình đẳng với những người khác”.Trong khi đó, theo Luật NKT Việt Nam, “NKTlà người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn”.Định nghĩa này của Luật NKT Việt Nam tuy mang tính thực tế nhưng chưa thật sự đứng trên quan điểm, góc nhìn vấn đề khuyết tật từ phía xã hội mà thiên về phía bản thân người khuyết tật, có ý nhấn mạnh điều kiện, hoàn cảnh cá nhân, thân trạng yếu thế hay bất lợi của họ (người bị khiếm khuyết, suy giảm… gặp khó khăn…). Hơn nữa, định nghĩa NKT của Luật NKT Việt Nam cũng chưa nêu bật được yếu tố quyền của NKT là quyền được tham gia đầy đủ, có hiệu quả, một cách bình đẳng với những người khác vào đời sống xã hội). - Để bảo đảm quyền của NKT được hoà nhập, tham gia một cách đầy đủ, bình đẳng với những người khác vào đời sống xã hội, bên cạnh những nguyên tắc chung, Công ước về quyền của NKT còn ghi nhận một cách cụ thể, rõ ràng quyền tiếp cận với tính cách là quyền đặc thù của NKT (quyền này tạo nên sự cân bằng, bình đẳng về cơ hội nhằm tạo điều kiện để NKT hoà nhập cộng đồng). Tiếp cận theo quan điểm của Công ước có tính sâu sắc, toàn diện hơn, không chỉ là tiếp cận môi trường vật chất, các dịch vụ thông dụng mà còn là tiếp cận pháp luật, TCCL, tiếp cận đến các quyền của mình một cách đầy đủ, bình đẳng. Trong khi đó, Luật NKT Việt Nam quan niệm tiếp cận tuy cũng với ý nghĩa là “sử dụng được” nhưng ở phạm vi hẹp hơn, chủ yếu đối với môi trường vật chất và các dịch vụ thông dụng như nhà chung cư, công trình xây dựng, giao thông công cộng, công nghệ thông tin, các dịch vụ văn hoá, thể thao, du lịch… Khái niệm tiếp cận như vậy chưa bao hàm hết ý nghĩa của nguyên tắc tiếp cận đã được ghi nhận trong Công ước về quyền của NKT (điểm f Điều 3). - Về phạm vi các quyền của NKT được tuyên bố, ghi nhận, Công ước về quyền của NKT mang tính đầy đủ, trọn vẹn và sâu sắc hơn. Trên cơ sở Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người, các công ước về quyền dân sự, chính trị, công ước về các quyền kinh tế, xã hội, văn hoá năm 1966, Công ước về quyền của NKT đã tiếp tục cụ thể hoá, phát triển những nguyên tắc chung thành các quy định đặc thù thích hợp với đối tượng hưởng quyền là những NKT. Trước hết, với tính cách là một trong những nhóm xã hội dễ bị tổn thương, là một bộ phận cấu thành khách quan của cộng đồng xã hội mang tính đa dạng, những NKT được thừa nhận, tôn trọng phẩm giá, các quyền và tự do của họ theo nguyên tắc bình đẳng với mọi người khác, không phân biệt đối xử trên tất cả các lĩnh vực. Hiến pháp năm 2013 của Việt Nam cũng đã ghi nhận nguyên tắc này. Tuy nhiên, đó mới là nguyên tắc Hiến pháp (có tính khái quát rất cao), chúng ta chưa có đủ các quy định cụ thể của luật để triển khai thi hành hiến pháp. Công ước về quyền của NKT ghi nhận một cách trực tiếp, toàn diện, cụ thể các quyền của NKT hơn so với pháp luật Việt Nam. Chẳng hạn, quyền tham gia đời sống chính trị và cộng đồng (Điều 29); quyền TCCL (Điều 13); quyền di chuyển cá nhân (Điều 20)… Ngoài ra, nhiều quyền trên các lĩnh vực kinh tế, lao động việc làm, giáo dục, học nghề, an sinh xã hội, tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, phục hồi chức năng, văn hoá, thể thao, du lịch, giải trí… được ghi nhận và bảo đảm ở mức độ cao hơn, chẳng hạn quyền được hưởng dịch vụ chăm sóc sức khoẻ đạt tiêu chuẩn cao nhất (Điều 25), quyền có mức sống và bảo trợ xã hội đầy đủ cho bản thân và gia đình NKT (Điều 28).([19]) Những vấn đề chung nêu trên có ý nghĩa rất quan trọng vì chúng định hướng, tạo lập nguyên tắc thống nhất các quy định cụ thể về quyền TCCL và quyền được TGPL của NKT. Chúng xác định phạm vi chủ thể có quyền; nội dung, tính chất các quyền vốn có của họ được ghi nhận, trên cơ sở đó mới xác định được đầy đủ ý nghĩa quyền TCCL, quyền được TGPL (theo những lĩnh vực nào, có đầy đủ, toàn diện và bình đẳng không…). 3.2. Các quy định về quyền TCCL, được TGPL của NKT - Luật NKT năm 2010 Việt Nam chỉ quy định quyền được TGPL, khôngtrực tiếpquy định quyền TCCL. Xét về mục đích, quyền TGPL nhìn chung chưa thể hiện một cách thật sự đầy đủ ý nghĩa của quyền tiếp cận (quyền đặc trưng, có ý nghĩa bao trùm và sâu sắc nhất để giải quyết vấn đề khuyết tật và quyền của NKT), đó là tiếp cận để thụ hưởng các giá trị cao cả, nhân văn của công lí. Trong khi đó, như trên đã đề cập, bên cạnh ghi nhận NKT có quyền TCCL một cách bình đẳng, việc bảo đảm quyền được hỗ trợ để NKT thực thi năng lực pháp lí của mình cũng được Công ước đặt thành trách nhiệm pháp lí của mọi thành viên. - Trong pháp luật quốc tế, tất cả những NKT đều có quyền được hưởng sự hỗ trợ TCCL.([20]) Trước đây, chính sách TGPL đối với NKT còn có sự hạn chế ở phạm vi đối tượng được hưởng quyềnhẹp hơn so với quy định về quyền TCCL của NKT đã được ghi nhận trong Công ước về quyền của NKT và quyền được TGPL của NKT được quy định trong Luật NKT. Theo đó, cách quy định như Luật TGPL và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành đã được hiểu là chỉ có NKT “không có nơi nương tựa” mới được TGPL.([21]) Nghị định của Chính phủ số 14/2013/NĐ-CPngày 05/02/2013về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định của Chính phủ số 07/2007/NĐ-CP ngày 12/10/2007 về quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật TGPL được ban hành đầu năm 2013 đã thể hiện rõ hơn về quyền được TGPL của tất cả những NKT như tinh thần Công ước và Luật NKT năm 2010.([22])Các chính sách của Nhà nước thể hiện qua các đề án của Chính phủ, kế hoạch của Bộ tư pháp về TGPL cho NKT được ban hành và triển khai gần đây cũng mới thể hiện đượcrõ ràng quan điểm thừa nhận và đảm bảo thực thi quyền được TGPL của mọi NKT. Rõ ràng ở đây chính sách, pháp luật về TGPL đã có độ “trễ” và “vênh” so với Luật NKT trong một thời gian. Tuy đã được khắc phục về nội dung nhưng theo quan điểm của chúng tôi, cần khẳng định quyền này của NKT một cách trực tiếp, rõ ràng, minh bạch trong văn bản luật chứ không phải nghị định. - Vấn đề quan trọng khác là pháp luật về TGPL trong hoạt động tố tụng cũng như trong hoạt động giải quyết khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính vẫnchưa có quy định riêng dành cho NKT với tính cách là đối tượng đặc thù cần được sự hỗ trợ ở mức độ nhất định của Nhà nước, của xã hội để họ có thể tiếp cận được,hoà nhập vàođời sống tư pháp, tham gia một cách bình đẳng vào quá trình tố tụng cũng như các thủ tục hành chính, giải quyết khiếu nại hành chính…([23]) Tinh thần chung trong các quy định của pháp luật quốc tế là quyền TCCL, quyền được TGPL của NKT không bị giới hạn ở bất cứ lĩnh vực nào. Hiến pháp năm 2013 cũng đã khẳng định nguyên tắc không ai không bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hoá và xã hội (Điều 16). Có thể nói, ở góc độ TGPL cho các đối tượng chính sách nói chung, pháp luật Việt Nam đã có quy định khá đầy đủ, cụ thể và tương đối toàn diện. Nhưng đối với NKT, pháp luật về TGPL vẫn còn thiếu những quy định cụ thể thích hợp với loại đối tượng này. 4. Một số ý kiến đề xuất Qua nghiên cứu những quy định của pháp luật trong nước và pháp luật quốc tế về quyền TCCL, quyền được TGPL của NKT cũng như thực tiễn bảo đảm thực thi các quyền của NKT ở Việt Nam, từ bình diện so sánh, đánh giá sự tương thích giữa pháp luật Việt Nam với pháp luật quốc tế, trong bối cảnh Quốc hội Việt Nam (Khoá XIII) sẽ xem xét phê chuẩn Công ước về quyền của NKT trong kì họp thứ 8 sắp tới, tác giả xin nêu một số kiến nghị, đề xuất sau: Thứ nhất, để thực hiện cam kết chính trị của Việt Nam trước cộng đồng quốc tế, cần khẩn trương hoàn tất công việc chuẩn bị trình Quốc hội phê chuẩn Công ước về quyền của NKT. Có thể nói phê chuẩn hoặc gia nhập Công ước về quyền của NKT là xu thế tất yếu trên thế giới hiện nay. Theo thông tin cập nhật đến ngày 24 tháng 9 năm 2014 đã có 159 nước kí, 151 nước phê chuẩn hoặc gia nhập. Thậm chí đối với Nghị định thư không bắt buộc cũng đã có 92 nước kí, 85 nước đã phê chuẩn hoặc gia nhập.([24]) Thứ hai, tiếp tục tiến hành nội luật hoá, đảm bảo đầy đủ, toàn diện các quyền của NKT đã được ghi nhận trong Công ước về quyền của NKT, trong đó có quyền TCCL, quyền được TGPL theo quan điểm tiếp cận vấn đề khuyết tật, quyền của NKT dựa trên các nguyên tắc căn bản về quyền con người. Cần sửa đổi quy định của Luật TGPL, đặt trong mối liên hệ phối hợp với Luật NKT, theo hướng khẳng định trực tiếp, rõ ràng: NKT có quyền được TGPL và NKT là đối tượng được TGPL. Mặt khác, thứ tự sắp xếp các đối tượng được TGPL trong Luật TGPL cũng nên thay đổi cho phù hợp hơn, không nên xếp các đối tượng là những người có công với cách mạng, những đối tượng thuộc nhóm dễ bị tổn thương (trong đó có NKT) sau người nghèo, mặc dù chính sách của Nhà nước về xoá đói, giảm nghèo, hỗ trợ đối với người nghèo vẫn là nội dung lớn, có ý nghĩa quan trọng trong hệ thống chính sách xã hội của Việt Nam. Thứ ba, cần hoàn thiện các quy định của pháp luật, tạo cơ sở pháp lí toàn diện, đầy đủ, phù hợp, vững chắc nhằm đảm bảo quyền TCCL và quyền được TGPL của NKT trên tất cả các lĩnh vực (tư vấn pháp luật, tham gia tố tụng, tham gia thủ tục hành chính, thủ tục giải quyết khiếu kiện hành chính và các thủ tục khác) của hoạt động này. Hoàn thiện pháp luật TGPL nhằm đảm bảo về mặt pháp lí hỗ trợ NKT tham gia một cách bình đẳng vào đời sống xã hội và tiếp cận có hiệu quả với hệ thống pháp luật, hoạt động hành chính, tư pháp… bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Thứ tư, về việc triển khai các chương trình kế hoạch thực thi, cần có sự đầu tư nghiên cứu, học tập kinh nghiệm các quốc gia tiên tiến về vấn đề TGPL cho NKT; cần đẩy nhanh quá trình điều tra khảo sát, xây dựng mô hình thích hợp để thực hiện việc TGPL có hiệu quả đối với từng loại khuyết tật; đặc biệt cần khẩn trương xây dựng và thực hiện nghiêm túc cơ chế phối hợp liên ngành trong quá trình TGPL cho NKT trong hoạt động tố tụng, trong thủ tục hành chính, giải quyết khiếu kiện hành chính; tăng cường công tác giáo dục, tuyên truyền nâng cao nhận thức xã hội, nhận thức của cán bộ, công chức, viên chức và chính NKT về pháp luật NKT nói chung cũng như quyền được TGPL của NKT nói riêng. Thứ năm, cần nghiên cứu, áp dụng các giải pháp đồng bộ để đảm bảo chất lượng, hiệu quả TGPL nói chung và TGPL cho NKT nói riêng. Bên cạnh lực lượng nòng cốt là các trung tâm TGPL nhà nước và các chi nhánh của trung tâm, cần mở rộng thêm, tạo điều kiện hỗ trợ về mặt chuyên môn, nghiệp vụ và các mặt khác để các cá nhân, tổ chức, nhất là tổ chức của NKT và vì NKT có đủ điều kiện được tham gia hoạt động TGPL cho NKT.([25]) Thứ sáu, nâng cao hiệu quả tuyên truyền, giáo dục nâng cao ý thức về quyền con người, quyền công dân, quyền của NKT (trong đó có quyền TCCL và quyền được TGPL); bên cạnh cơ chế giám sát việc thực thi Hiến pháp và pháp luật, khi đã trở thành thành viên chính thức của Công ước về quyền của NKT chúng ta cũng nên coi trọng giám sát việc thực thi Công ước, trong đó có sự giám sát của cộng đồng, của các tổ chức xã hội của và vì NKT./. TS. TRẦN THÁI DƯƠNG (Trường Đại học luật Hà Nội) Bài viết đã đăng trên Tạp chí Luật học số ra tháng 10 năm 2014, trang 12 ([1]). “Access to justice”, tuỳ theo văn cảnh có thể hiểu là tiếp cận công lí/pháp luật/tư pháp/công bằng. ([2]).Xem: Văn phòng Cao uỷ Liên hợp quốc về quyền con người, Hội luật sư quốc tế, Quyền con người trong quản lí tư pháp - Tài liệu hướng dẫn quyền con người dành cho thẩm phán, công tố viên và luật sư (sách tham khảo), Các văn kiện quốc tế cơ bản về quyền con người và cơ chế thực hiện (Chương 2), Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2009. ([3]).Xem: ThS. Nguyễn Xuân Tùng, Về khái niệm cônglí trong Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 tại Việt Nam, nguồn: http://moj.gov.vn/ct/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=4524(truy cập ngày 19/9/2014). ([4]). Justice là từ có nguồn gốc Latin (justio), nghĩa là “công lí”/”công bằng”, “tư pháp” (xét xử). Cũng có tài liệu dịch“access to justice” trong Điều 13 Công ước về quyền của NKT là “quyền tiếp cận các dịch vụ tư pháp”. Xem: Hội đồng phối hợp công tác giáo dục, phổ biến pháp luật của Chính phủ, Đặc san tuyên truyền pháp luật số 5 - chủ đề Luật NKT, Hà Nội, 2010, tại trang thông tin về phổ biến giáo dục pháp luật của Bộ tư pháp, nguồn: http://moj.gov.vn/pbgdpl/AnPham/Lists/ TapSan/View_Detail.aspx?ItemID=47(truy cập ngày 20/9/2014). Xem: TS. Nguyễn Văn Thảnh, ThS. Nguyễn Thị Hạnh, Tổng hợp các quy định tố tụng hình sự, dân sự, hành chính về quyền tiếp cận công bằng; Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 107 (tháng 10 năm 2007). Nguồn: http://www.nclp.org.vn (truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2014). ([5]).Xem: Vũ Công Giao, “Tiếp cận công lí và các nguyên lí của nhà nước pháp quyền”, Tạp chí khoa học Đại học quốc gia Hà Nội, Luật học, số25/2009, tr. 188-194. ([6]). Tuy vậy, chúng ta có thể tham khảo cách giải thích của ông Victor Santiago Pineda - người sáng lập Quỹ Victor Pineda và là đại biểu trẻ nhất thuộc khối chính phủ của Uỷ ban đặc biệt có nhiệm vụ soạn thảo Công ước về quyền của NKT, như sau: “Nếu bạn bị thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật của người khác, bạn chứng kiến người khác bị thiệt hại hoặc bạn bị cáo buộc đã vi phạm pháp luật, bạn có quyền được đối xử công bằng trong suốt quá trình vụ án liên quan đến bạn được điều tra, xử lí. Bạn có quyền được hỗ trợ bày tỏ ý kiến của mình trong tất cả các quá trình tư pháp”. Như vậy, cách giải nghĩa này tập trung vào khía cạnh tiếp cận hoạt động tư pháp, theo quá trình tố tụng xét xử và ở góc độ quyền được đối xử công bằng. Xem: Victor Santiago Pineda, Chúng ta có thể! Giải thích Công ước về quyền của NKT,sách do Quỹ nhi đồng Liên hợp quốc xuất bản, 2008, tr.12. Nguồn: http://www.unicef.org/vietnam/vi/resources_12638.html(truy cập ngày 18/8/2013). ([7]). Ngày 20/12/2012, Đại hội đồng Liên hợp quốccũng đã ra Tuyên bố mới nhất về tiếp cận TGPL trong hệ thống tư pháp hình sự, theo đó 2 nguyên tắc (trong số 14 nguyên tắc) được đề cập trước tiên là: “Nhà nước cần bảo đảm quyền được TGPL trong hệ thống pháp luật quốc gia ở mức độ cao nhất có thể” (nguyên tắc 1); “Nhà nước cần coi TGPL như trách nhiệm và nghĩa vụ của mình, cần quan tâm đến việc ban hành các văn bản pháp luật cụ thể và các hướng dẫn để bảo đảm có một hệ thống TGPL phù hợp để có thể tiếp cận, hiệu quả và đáng tin cậy. Nhà nước cần bố trí nguồn lực con người và tài chính cần thiết cho hệ thống TGPL”. (nguyên tắc thứ 2).Nguồn: http://trogiupphaply.gov.vn(truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2014). ([8]). Cụm từ “tiếp cận công lí”được sử dụng trong Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 (ban hành theo Nghị quyết của Bộ chính trị Ban chấp hành trung ương Đảng số 49-NQ/TƯ ngày 02/6/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020. ([9]). Theo quy định tại Điều 10 Luật TGPL năm 2006, các đối tượng được TGPL gồm: Người nghèo; người có công với Cách mạng; người già cô đơn, người tàn tật và trẻ em không nơi nương tựa; người dân tộc thiểu số thường trú ở những vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn. ([10]).Xem: Nghị định của Chính phủ số 14/2013/NĐ-CP ngày 05/02/2013 về sửa đổi, bổ sung một số quy định của Nghị định của Chính phủ số 70/2007/NĐ-CP ngày 12/01/2007 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật TGPL. ([11]). Hiện nay, Thông tư này được thay thế bằng Thông tư liên tịch của Bộ tư pháp, Bộ công an, Bộ quốc phòng, Bộ tài chính, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Toà án nhân dân tối cao số 11/2013/TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC-VKSNDTC-TANDTCngày 04/7/2013hướng dẫn thực hiện một số quy định của pháp luật về TGPL trong hoạt động tố tụng. ([12]).Xem: Thông tư của Bộ tư pháp số 05/2008/TT-BTPngày 23/9/2008 hướng dẫn về nghiệp vụ TGPL và quản lí nhà nước về TGPL, Quyết định của Bộ tư pháp số 11/2008/QĐ-BTP ngày 29/12/2008 ban hành Bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng vụ việc TGPL, Quyết định số 03/2008/QĐ-BTP ngày 28/02/2008 ban hành Điều lệ mẫu về tổ chức và hoạt động của câu lạc bộ TGPL… ([13]). Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ số 35/2006/CT-TTgngày 13/10/2006 về việc triển khai thi hành Luật TGPL. ([14]).Xem: Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 678/2011/QĐ-TTg ngày 10/5/2011 về phê duyệt Chiến lược phát triển TGPL ở Việt Nam đến năm 2020, định hướng đến năm 2030. ([15]).Xem: Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 1019/2012/QĐ-TTg ngày 05/8/2012 về việc phê duyệt Đề án trợ giúp NKT giai đoạn 2012 - 2020. ([16]).Xem: Quyết định của Bộ trưởng Bộ tư pháp số 3888/2012/QĐ-BTP ngày 18/12/2012 quyết định về việc ban hành kế hoạch năm 2013 triển khai thực hiện chính sách TGPL cho NKT. ([17]).Xem: Cục TGPL, Bộ tư pháp,Những thành tích nổi bật trong công tác TGPL năm 2012, tlđd. ([18]).Xem: Cục TGPL, Bộ tư pháp, Những thành tích nổi bật trong công tác TGPL năm 2012, tlđd. ([19]).Ví dụ: “Các quốc gia thành viên công nhận quyền của người khuyết tật có được mức sống đầy đủ cho bản thân và gia đình họ, bao gồm có đủ thức ăn, quần áo và nhà ở, và có quyền không ngừng cải thiện điều kiện sống.”(khoản 1 Điều 28Công ước về quyền của NKT) ([20]). Nguyên tắc thứ 10 trong Tuyên bố của Đại hội đồng Liên hợp quốc ngày 20 tháng 12 năm 2012 về tiếp cận TGPL trong hệ thống tư pháp hình sự có đoạn ghi rõ:“Các biện pháp đặc biệt nên được áp dụng để bảo đảm tiếp cận TGPL có ý nghĩa đối với phụ nữ, trẻ em và nhóm người có nhu cầu đặc biệt, bao gồm người già, người dân tộc thiểu số, người khuyết tật…”. Nguồn: tlđd ở chú thích số (7). ([21]). Khoản 3 Điều 10 Luật TGPL, khoản 4 Điều 2 Nghị định của Chính phủ số 07/2007/NĐ-CP ngày 12/01/2007quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật TGPL,nội dung hướng dẫn về người được TGPL đăng trên trang thông tin điện tử của Cục TGPL,Bộ tư phápnhư sau: “Người tàn tật không nơi nương tựa: Người tàn tật không nơi nương tựa là người bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể hoặc chức năng biểu hiện dưới những dạng tật khác nhau, làm suy giảm khả năng hoạt động, khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp nhiều khó khăn hoặc là người bị nhiễm chất độc hoá học, bị nhiễm HIV hoặc bị các bệnh khác làm mất năng lực hành vi dân sự mà không có nơi nương tựa”, nguồn: http://tgpl.gov.vn/Nguoi-duoc-tro-giup-phap-ly-newsview.aspx?cate=123&id=128 (truy cập ngày 20/6/2011). ([22]).Xem: Điều 1 Nghị địnhcủa Chính phủ số 14/2013/NĐ-CP ngày 05/02/2013 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị địnhcủa Chính phủsố 07/2007/NĐ-CPngày 12/01/2007về quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật TGPL. ([23]). Có thể thấy rõ điều này qua Thông tư liên tịch của Bộ tư pháp, Bộ công an, Bộ quốc phòng, Bộ tài chính, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Toà án nhân dân tối cao số 10/2007/TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC-VKSNDTC-TANDTC ngày 28/12/2007 hướng dẫn áp dụng một số quy định TGPL trong hoạt động tố tụng; Thông tư liên tịch của Bộ tư pháp, Bộ công an, Bộ quốc phòng, Bộ tài chính, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Toà án nhân dân tối cao số 11/2013/TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC-VKSNDTC-TANDTCngày 04/7/2013 hướng dẫn thực hiện một số quy định của pháp luật về TGPL trong hoạt động tố tụng thay thế cho Thông tư liên tịch số 10/2007/TTLT; Thông tư liên tịch của Bộ tư pháp, Thủ tướng Chính phủ số 10/2011/TTLT-BTP-TTCPngày 06/6/2011 về hướng dẫn thực hiện TGPL trong giải quyết khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính.    ([24]). Samoa kí ngày 24/9/2014; Guinea-Bissau phê chuẩn 24/9/2014; Guyana phê chuẩn ngày 10/9/2014; Congo (Republic of the) phê chuẩn ngày 2/9/2014.Nguồn: http://www.un.org/disabilities/latest.asp?id=169 ([25]). Nguyên tắc thứ 14 trong Tuyên bố của Đại hội đồng Liên hợp quốc về tiếp cận TGPL trong hệ thống tư pháp hình sự ngày 20 tháng 12 năm 2012 đã ghi: “Nhà nước nên thừa nhận và khuyến khích sự đóng góp của hiệp hội luật sư, trường đại học, xã hội dân sự và các tổ chức khác tham gia TGPL. Khi thấy phù hợp, các hình thức đối tác công - tư nên được thiết lập để mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ TGPL.”  
Người khuyết tật (NKT) là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn (1). 
Luật Người khuyết tật được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam chính thức thông qua ngày 17/6/2010 và chính thức có hiệu lực thi hành ngày 01/01/2011. Tại chương III của Luật đã quy định cụ thể về quyền được chăm sóc sức khỏe của người khuyết tật, trong đó có đề cập khá cụ thể về chế độ khám chữa bệnh, đặc biệt khám, chữa bệnh theo Bảo hiểm y tế cho người khuyết tật.

Đặt câu hỏi

Họ tên:
Email:
Điện thoại:
Tiêu đề:
Nội dung:

Tư vấn pháp luật