1. Quá trình hình thành, phát triển quy định của pháp luật về định giá đất Từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng cộng sản Việt Nam năm 1986, với chủ trương, chính sách “mở cửa”, nền kinh tế Việt Nam bắt đầu chuyển đổi từ mô hình quản lí “kinh tế kế hoạch hoá tập trung” sang mô hình “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Theo đó, nền kinh tế nhiều thành phần chính thức được thừa nhận, tạo điều kiện cho giao lưu kinh tế, thương mại phát triển. Để tạo dựng hành lang pháp lí cho những hoạt động giao thương này, cơ quan lập pháp đã đặc biệt chú trọng việc ban hành các văn bản pháp luật nhằm điều chỉnh các quan hệ kinh tế vận hành theo quỹ đạo của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Một trong những văn bản quan trọng sớm được ban hành trong thời kì đổi mới là Luật đất đai năm 1987 - văn bản luật đầu tiên điều chỉnh quan hệ thuộc lĩnh vực đất đai, yếu tố được xem là tư liệu sản xuất, yếu tố đầu vào quan trọng của mọi hoạt động sống, hoạt động sản xuất hàng hoá, dịch vụ… Do vừa bước ra khỏi nền kinh tế “quan liêu, bao cấp”, Luật đất đai năm 1987 vẫn còn ảnh hưởng tính bao cấp trong quan hệ sử dụng đất. Quan hệ sử dụng đất đóng khung theo “chiều dọc” với công thức “Nhà nước - Người sử dụng đất”, người sử dụng đất có nhu cầu thì được Nhà nước cấp đất, khi hết nhu cầu thì phải trả lại đất cho Nhà nước; pháp luật đất đai quy định nghiêm cấm việc “mua, bán, phát canh thu tô dưới mọi hình thức”.(1) Tuy nhiên, pháp luật thời kì này lại cho phép các chủ thể sử dụng đất hợp pháp được “hưởng thành quả lao động, kết quả đầu tư trên đất được giao, được quyền chuyển, nhượng, bán nhà ở, vật kiến trúc khác, cây lâu năm”(2) trên đất được giao. Ở giai đoạn này, pháp luật đất đai chưa thừa nhận đất đai là tài sản được tham gia giao lưu trong nền kinh tế thị trường, vì thế chưa xây dựng khuôn khổ định chế về giá đất. Hoạt động mua bán đất đai bị xử lí bằng chế tài xử phạt hành chính.(3) Đây là nguyên nhân cản trở việc hình thành thị trường bất động sản; phát sinh những giao dịch “ngầm” về mua bán đất đai mà hệ luỵ mang lại là những khiếu nại, khiếu kiện, những quan hệ đất đai phức tạp. Nền kinh tế thị trường không có sự tham gia đầy đủ của các loại hàng hoá bất động sản là khiếm khuyết lớn và là rào cản cho sự tặng trưởng của nền kinh tế. Theo đánh giá của Hernando de Soto - học giả người Peru thì “bất động sản chiếm khoảng 50% của cải quốc gia của các nước tiên tiến; ở các nước đang phát triển, con số này là gần ba phần tư”.(4) Trong khoảng thời gian từ năm 1987 đến năm 1993, việc các chủ thể sử dụng đất không được quyền mua bán, chuyển nhượng đất đai đồng nghĩa với việc khối lượng tài sản đất đai được đánh giá chiếm tới 75% tổng giá trị tài sản của quốc gia đã không được tham gia vào sự vận động của nền kinh tế thị trường; một nguồn vốn lớn không đưa vào lưu thông trên thị trường và đương nhiên thị trường bất động sản nói chung và thị trường đất đai nói riêng dường như chưa được hình thành. Trước tình hình đó, việc ban hành Luật đất đai năm 1993 với nhiều nội dung quan trọng đã giúp khai thông quan hệ sử dụng đất như: Việc xác lập các hình thức sử dụng đất khác nhau (giao đất, cho thuê đất; quy định về thời hạn sử dụng đất); mở ra các quyền năng về chuyển quyền sử dụng đất cho các chủ thể sử dụng đất hợp pháp… Đặc biệt, Luật đất đai năm 1993 lần đầu tiên thừa nhận đất đai là loại tài sản có giá, “Nhà nước xác định giá các loại đất để tính thuế chuyển quyền sử dụng đất, thu tiền khi giao đất hoặc cho thuê đất, tính giá trị tài sản khi giao đất, bồi thường thiệt hại về đất khi thu hồi đất. Chính phủ quy định khung giá các loại đất đối với từng vùng và theo từng thời gian”.(5) Như vậy, giá đất “khoản tiền quy định từ mức tối thiểu tới mức tối đa cho từng loại đất nhằm xác định nghĩa vụ tài chính của người sử dụng đất”(6) mang sứ mệnh quan trọng trong hoạt động quản lí và sử dụng đất tại Việt Nam; là cơ sở đầu tiên và cần thiết cho sự hình thành và phát triển thị trường bất động sản một cách toàn diện, trong đó có thị trường quyền sử dụng đất. Điều 12 Luật đất đai năm 1993 lần đầu tiên tiếp cận thuật ngữ “giá đất” trên cơ sở phân định các loại, các nhóm đất khác nhau để xác định giá các loại đất. Để cụ thể hoá các quy định về giá đất theo Luật đất đai năm 1993, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 80-CP ngày 06/11/1993 quy định khung giá các loại đất để tính thuế chuyển quyền sử dụng đất, thu tiền khi giao đất, cho thuê đất, tính giá trị tài sản khi giao đất, bồi thường thiệt hại về đất khi thu hồi. Việc định giá đất được xác định trên cơ sở phân loại các nhóm đất khác nhau như đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất khu dân cư nông thôn, đất đô thị và ở mỗi nhóm đất được phân hạng đất theo vị trí địa lí. Cụ thể: 1) Đối với đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, giá đất được xác định cho từng hạng đất tính thuế sử dụng đất nông nghiệp và chia theo ba loại xã: đồng bằng, trung du, miền núi; 2) Đối với đất khu dân cư nông thôn, giá đất được xác định cho từng hạng đất và chia theo ba loại xã: đồng bằng, trung du, miền núi; 3) Đối với đất khu dân cư ở các vùng ven đô thị, thị trấn, đầu mối giao thông và trục đường giao thông chính, khu thương mại, khu du lịch, khu công nghiệp, giá đất được xác định theo hai loại và chia thành sáu hạng đất; 4) Đối với khu dân cư ở đô thị, giá đất được xác định cho năm loại đô thị theo Quyết định của Hội đồng bộ trưởng số 132/HĐBT ngày 05/5/1990. Mỗi loại đô thị được chia ra thành ba đến bốn loại đường phố, mỗi loại đường phố được chia ra bốn vị trí đất khác nhau, từ đó hình thành bảng khung giá đất. Trên cơ sở này, uỷ ban nhân dân (UBND) tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quy định giá các loại đất, hạng đất phù hợp với thực tế tại mỗi địa phương theo nguyên tắc giá đất do địa phương quy định sát với giá thị trường và không thấp hơn bảng khung giá chuẩn do Chính phủ ban hành. Theo Nghị định của Chính phủ số 87-CP ngày 17/8/1994 quy định về khung giá các loại đất (thay thế Nghị định số 80-CP), căn cứ vào bảng khung giá của Chính phủ, UBND cấp tỉnh quy định giá các loại đất để làm cơ sở tính thuế chuyển quyền sử dụng đất, thu tiền khi giao đất, cho thuê đất, tính giá trị tài sản khi giao đất, bồi thường thiệt hại về đất khi thu hồi. Đồng thời Nghị định số 87-CP cũng xây dựng và hình thành hệ số k - hệ số điều chỉnh khung giá được sử dụng cho những trường hợp cùng một loại đô thị mà đất có khả năng sinh lợi khác nhau, mức độ hoàn thiện cơ sở hạ tầng khác nhau thì địa phương được phép vận dụng hệ số điều chỉnh khung giá từ 0,8 đến 1,2 lần mức giá của cùng loại đô thị, cùng loại đường phố và vị trí đất quy định trong bảng khung giá đất đô thị. Giá các loại đất do địa phương quy định được xác định với nguyên tắc không được thấp hơn giá tối thiểu và không được cao hơn giá tối đa của khung giá và hệ số điều chỉnh khung giá. Tuy nhiên, đến Nghị định của Chính phủ số 17-CP ngày 21/3/1998 sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 4 Nghị định số 87-CP lại quy định theo hướng giá các loại đất do địa phương quy định có thể thấp hơn giá tối thiểu hoặc cao hơn giá tối đa của khung giá các loại đất ban hành kèm theo Nghị định số 87-CP và hệ số k đã được điều chỉnh tại Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 302/TTg ngày 13/5/1996 nhưng mức giảm hoặc tăng giá không vượt quá 50%. Tiếp theo, Luật đất đai năm 2003 đã làm rõ thuật ngữ “giá đất” tại Điều 4, theo đó “giá đất là số tiền tính trên một đơn vị diện tích đất do Nhà nước quy định hoặc được hình thành trong giao dịch về quyền sử dụng đất”;(7) Điều 56 Luật đất đai năm 2003 xác định  rõ  những  nguyên  tắc  trong  việc  xác định giá đất như sau: Thứ nhất, giá đất do Nhà nước quy định phải sát với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường trong điều kiện bình thường; khi có chênh lệch lớn so với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường thì phải điều chỉnh cho phù hợp. Đây là nguyên tắc mang tính kế thừa từ Nghị định số 80-CP. Việc luật hoá nguyên tắc này được xem là bước đột phá nhằm khẳng định quan điểm trong hoạt động quản lí nhà nước về đất đai là hướng tới giá đất do Nhà nước ban hành thực sự sát với giá thị trường nhằm đảm bảo việc xác định các nghĩa vụ tài chính trong quan hệ đất đai một cách chính xác và công bằng; đồng thời hướng tới việc xác định giá đất trong đền bù khi Nhà nước thu hồi đất cho người sử dụng đất một cách thoả đáng. Tuy nhiên, trong thực tế 10 năm thi hành Luật đất đai năm 2003 cho thấy mặc dù các cơ quan quản lí nhà nước về định giá đất đã rất cố gắng song giá đất do Nhà nước quy định so với giá đất giao dịch trên thị trường luôn có sự chênh lệch khá lớn. Sự chênh lệch này đã gây ra nhiều bức xúc trong xã hội, nhất là công tác đền bù, giải phóng mặt bằng hay thu hồi đất. Thực tế đó đòi hỏi phải có những giải pháp đồng bộ để giá đất do Nhà nước quy định phải phù hợp với giá giao dịch trên thị trường. Thứ hai, giá đất do Nhà nước quy định đối với các thửa đất liền kề nhau, có điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, kết cấu hạ tầng như nhau, có cùng mục đích sử dụng hiện tại, cùng mục đích sử dụng theo quy hoạch thì mức giá như nhau. Thứ  ba, giá đất do Nhà nước quy định đối với đất tại khu vực giáp ranh giữa các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, có điều kiện tự nhiên, kết cấu hạ tầng như nhau, có cùng mục đích sử dụng hiện tại, cùng mục đích sử dụng theo quy hoạch thì mức giá như nhau. Luật đất đai năm 2003 cũng bước đầu tạo dựng cơ sở cho việc hình thành các phương pháp xác định giá đất bằng việc trao quyền xây dựng phương pháp xác định giá đất cho Chính phủ. Trên cơ sở đó, Chính phủ ban hành Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 quy định về khung giá các loại đất và phương pháp xác định giá đất. Theo đó có các phương pháp xác định giá đất sau: - Phương pháp so sánh trực tiếp: Là phương pháp xác định mức giá thông qua việc tiến hành phân tích các mức giá đất thực tế đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên thị trường của loại đất tương tự (về loại đất, diện tích đất, thửa đất, hạng đất, loại đô thị, loại đường phố và vị trí) để so sánh, xác định giá của thửa đất, loại đất cần định giá. Phương pháp so sánh trực tiếp được áp dụng để định giá đất khi trên thị trường có các loại đất tương tự đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất so sánh được với loại đất cần định giá. Giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất của loại đất tương tự sử dụng để phân tích, so sánh với loại đất cần định giá phải là giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường trong điều kiện bình thường. - Phương pháp thu nhập: Là phương pháp xác định mức giá tính bằng thương số giữa mức thu nhập thuần tuý thu được hàng năm trên 1 đơn vị diện tích đất so với lãi suất tiền gửi tiết kiệm bình quân một năm (tính đến thời điểm xác định giá đất) của loại tiền gửi VND kì hạn 01 năm (12 tháng) tại ngân hàng thương mại nhà nước có mức lãi suất tiền gửi tiết kiệm cao nhất trên địa bàn. Phương pháp thu nhập chỉ áp dụng để định giá cho các loại đất xác định được các khoản thu nhập mang lại từ đất. Ngày 27/7/2007, Chính phủ ban hành Nghị định số 123/2007/NĐ-CP sửa đổi một số điều của Nghị định số 188/2004/NĐ-CP, theo đó bổ sung thêm hai phương pháp xác định giá đất: - Phương pháp chiết trừ: Là phương pháp xác định giá đất của thửa đất có tài sản gắn liền với đất bằng cách loại trừ phần giá trị tài sản gắn liền với đất ra khỏi tổng giá trị bất động sản (bao gồm giá trị của đất và giá trị của tài sản gắn liền với đất). Phương pháp chiết trừ được áp dụng để xác định giá đất của thửa đất có tài sản gắn liền với đất trong trường hợp không có đủ số liệu về giá thị trường của các thửa đất trống tương tự để áp dụng phương pháp so sánh trực tiếp, trong khi có thể thu thập số liệu về giá thị trường của các thửa đất có tài sản gắn liền với đất tương tự với thửa đất cần xác định giá. - Phương pháp thặng dư: Là phương pháp xác định giá đất của thửa đất trống có tiềm năng phát triển theo quy hoạch hoặc được phép chuyển đổi mục đích sử dụng để sử dụng tốt nhất bằng cách loại trừ phần chi phí ước tính để tạo ra sự phát triển ra khỏi tổng giá trị phát triển giả định của bất động sản. Phương pháp thặng dư được áp dụng để xác định giá đất của các thửa đất trống có tiềm năng phát triển do thay đổi quy hoạch hoặc do chuyển mục đích sử dụng đất trong khi không có giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất tương tự trên thị trường để áp dụng phương pháp so sánh trực tiếp. Hiệu lực của bảng giá đất do UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương xây dựng và ban hành trên cơ sở bảng khung giá đất của Chính phủ thời kì này được xác định hàng năm từ ngày 01/01 tới ngày 31/12 của năm đó và được công bố công khai vào ngày 01/01 hàng năm. Bảng giá đất này được sử dụng làm căn cứ để tính thuế sử dụng đất, thuế thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất; tính tiền sử dụng đất và tiền thuê đất khi giao đất, cho thuê đất không thông qua đấu giá quyền sử dụng đất hoặc đấu thầu dự án có sử dụng đất; tính giá trị quyền sử dụng đất khi giao đất không thu tiền sử dụng đất, lệ phí trước bạ, bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất; tính tiền bồi thường đối với người có hành vi vi phạm pháp luật về đất đai mà gây thiệt hại cho Nhà nước.(8) Như vậy, kể từ khi văn bản luật đất đai đầu tiên được ban hành - Luật đất đai năm 1987 cho tới trước thời điểm ban hành Luật đất đai năm 2013 là quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật về định giá đất. Nếu Luật đất đai năm 1987 vẫn còn ảnh hưởng tính bao cấp trong quan hệ sử dụng đất, đất đai chưa là đối tượng giao lưu trong nền kinh tế, đất đai không có giá, không được định giá thì Luật đất đai năm 1993 đã thay đổi căn bản cách tiếp cận đối với đất đai - loại tài sản đặc biệt của mỗi quốc gia. Theo đó, Luật đất đai năm 1993 thừa nhận đất đai là loại tài sản có giá, được định giá với những nguyên tắc xác định; đồng thời xác lập các quy định về quyền chuyển quyền sử dụng đất của các chủ thể tham gia trong quan hệ pháp luật đất đai, tạo cơ sở cho đất đai trở thành đối tượng được giao lưu trong nền kinh tế. Đặc biệt, đến Luật đất đai năm 2003, với các quy định về định giá đất đã tạo nên bước tiến quan trọng trong hoạt động quản lí nhà nước về đất đai. Ở Luật đất đai năm 1993, “giá đất do Nhà nước quy định được áp dụng cho nhiều mục đích khác nhau, vừa áp dụng để thu các nghĩa vụ tài chính của người sử dụng đất, vừa là cơ sở để người sử dụng thoả thuận khi thực hiện các giao dịch dân sự về đất đai, là căn cứ để xác định bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất. Với các quy định trước đây thì giá đất do Nhà nước xác định thể hiện sự bao cấp trong giao đất, cho thuê đất. Do vậy, giá đất này được sử dụng để tính bồi thường cho người bị Nhà nước thu hồi đất đã không nhận được sự đồng thuận của người sử dụng đất. Hơn nữa, giá đất này lại không thể là giá mà các bên thoả thuận khi chuyển quyền sử dụng đất. Đây là nguyên nhân làm nảy sinh những vấn đề tiêu cực và phức tạp trong thực tế như: “lách luật để trốn thuế”, lậu thuế; khiếu nại, tố cáo… kéo dài trong lĩnh vực bồi thường, giải phóng mặt bằng”.(9) Đến Luật đất đai năm 2003, nguyên tắc giá đất do Nhà nước quy định “sát với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường trong điều kiện bình thường”(10) đã được luật định; đồng thời Luật cũng xây dựng bốn phương pháp định giá đất nhằm đảm bảo cho nguyên tắc này được thực hiện trong thực tiễn. Tuy nhiên, việc áp dụng các quy định của Luật đất đai năm 2003 về nguyên tắc và phương pháp định giá đất trong việc xác định nghĩa vụ tài chính, xác định giá bồi thường khi thu hồi đất vẫn còn gặp nhiều vướng mắc. Luật đất đai năm 2013 được thông qua và có hiệu lực kể từ ngày 01/07/2014 với nhiều nội dung được kì vọng là khung khổ pháp lí toàn diện nhằm khắc phục những bất cập, hạn chế trong hoạt động quản lí, sử dụng đất hiện nay, trong đó có định giá đất. Vấn đề này sẽ được đi sâu phân tích ở phần sau để thấy rõ được những sửa đổi căn bản và những giá trị mang lại trong quản lí nhà nước về định giá đất ở những nội dung: Nguyên tắc định giá đất; phương pháp định giá đất và áp dụng phương pháp định giá đất; khung giá đất và xây dựng, áp dụng bảng giá đất; định giá đất cụ thể và tư vấn xác định giá đất.   2. Nội dung quản lí nhà nước về định giá đất theo Luật đất đai năm năm 2013 Theo Luật  đất  đai  năm  2013  và  Nghị định của Chính phủ số 44/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014, quản lí nhà nước về định giá đất gồm những nội dung đáng chú ý sau đây: Thứ nhất, về nguyên tắc định giá đất So với Luật đất đai năm 2003, Luật đất đai năm 2013 đã bổ sung 2 nguyên tắc và chỉnh sửa 1 nguyên tắc. Cụ thể, các nguyên tắc định giá đất bao gồm: 1) Theo mục đích sử dụng đất hợp pháp tại thời điểm định giá; 2) Theo thời hạn sử dụng đất; 3) Phù hợp với giá đất phổ biến trên thị trường của loại đất có cùng mục đích sử dụng đã chuyển nhượng, giá trúng đấu giá quyền sử dụng đất đối với những nơi có đấu giá quyền sử dụng đất hoặc thu nhập từ việc sử dụng đất; 4) Cùng một thời điểm, các thửa đất liền kề nhau có cùng mục đích sử dụng, khả năng sinh lợi, thu nhập từ việc sử dụng đất tương tự như nhau thì có mức giá như nhau.(11) Với việc quy định như trên, Luật đất đai năm 2013 đã phần nào cho thấy khả năng sẽ khắc phục được những tồn tại về nguyên tắc định giá đất trong Luật đất đai năm 2003, đó là: Chưa định lượng được thế nào là “sát với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường trong điều kiện bình thường”;(12) chưa quy định cụ thể theo mục đích sử dụng đất mà mới chỉ dừng lại xem xét về mục đích sử dụng đất trong mối tương quan giữa các thửa đất liền kề nhau nếu “có điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, kết cấu hạ tầng như nhau, có cùng mục đích sử dụng hiện tại, cùng mục đích sử dụng theo quy hoạch thì mức giá như nhau”;(13) chưa quy định cụ thể việc định giá đất theo thời hạn sử dụng đất đồng thời quy định về định giá đất của Luật đất đai năm 2003 cũng chưa bao hàm hết đối với những nơi, những loại đất không có giao dịch về quyền sử dụng đất. Thứ hai, về phương pháp định giá đất và áp dụng phương pháp định giá đất - Về phương pháp định giá đất: Trên cơ sở quy định tại khoản 2 Điều 112 Luật đất đai năm 2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 44/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 quy định về giá đất. Nghị định này đã kế thừa quy định tại Nghị định số 188/2004/NĐ-CP và Nghị định số 123/2007/NĐ-CP; theo đó, tiếp tục quy định 4 phương pháp định giá đất là: Phương pháp so sánh trực tiếp; phương pháp chiết trừ; phương pháp thu nhập và phương pháp thặng dư. Đối với bốn phương pháp định giá này, Nghị định số 44/2014/NĐ-CP đã chỉnh sửa, bổ sung thông tin về giá đất lựa chọn để so sánh không chỉ là giá chuyển nhượng thực tế trên thị trường mà còn có giá trúng đấu giá quyền sử dụng đất cho phù hợp với Điều 112 Luật đất đai năm 2013. Bên cạnh đó, Nghị định đã bổ sung phương pháp hệ số điều chỉnh giá đất. Đây là phương pháp định giá đất bằng cách sử dụng hệ số điều chỉnh giá đất nhân (x) với giá đất trong bảng giá đất do UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ban hành. Phương pháp này được áp dụng trong một số trường hợp tính thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, tính giá trị quyền sử dụng đất mà thửa đất (khu đất) của dự án có giá trị không lớn; xác định giá đất tính bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất đối với trường hợp dự án có các thửa đất liền kề nhau, có cùng mục đích sử dụng, khả năng sinh lợi và thu nhập từ việc sử dụng đất tương tự nhau. Việc bổ sung phương pháp này đáp ứng được yêu cầu thực tiễn trong công tác định giá đất, bởi trong cơ chế kinh tế thị trường hiện nay mỗi giao dịch diễn ra trong nền kinh tế luôn chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khách quan, chủ quan, thậm chí dẫn tới không thể kiểm soát được giá thị trường. Trong trường hợp đó, việc bổ sung giá đất lựa chọn để so sánh còn là giá trúng đấu giá quyền sử dụng đất được đảm bảo bằng cơ chế kiểm soát theo hoạt động đấu giá quyền sử dụng đất, vì thế giá đất lựa chọn để so sánh đảm bảo minh bạch và phù hợp với thị trường. Ngoài ra, việc sửa đổi như vậy về giá đất lựa chọn để so sánh, định giá còn mang lại cơ hội cho việc định giá đất đồng loạt với những thửa đất ở nơi ít có giao dịch hoặc không có giao dịch, đáp ứng nhu cầu định giá đất với số lượng thửa đất còn lớn như hiện nay bổ sung sự khiếm khuyết về năng lực của đội ngũ tư vấn giá đất còn hạn chế. - Về áp dụng phương pháp định giá đất: Nghị định số 44/2014/NĐ-CP cũng đã quy định cụ thể yêu cầu thông tin trong áp dụng phương pháp định giá đất phải bảo đảm khách quan, trung thực. Đối với phương pháp so sánh trực tiếp mà tại khu vực định giá không có thông tin giá đất thị trường thì có thể thu thập thông tin ở khu vực lân cận có đặc điểm tương tự. Thứ ba, về khung giá đất và xây dựng, áp dụng bảng giá đất - Về khung giá đất: Khoản 3 Điều 56 Luật đất đai năm 2003 quy định giao cho Chính phủ ban hành khung giá các loại đất nhưng chưa quy định rõ thời hạn phải ban hành mới khung giá các loại đất và chỉ quy định việc điều chỉnh khung giá các loại đất khi giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường có biến động lớn. Luật đất đai năm 2013 đã giao “Chính phủ ban hành khung giá các loại đất định kì 05 năm một lần đối với từng loại đất, theo từng vùng. rong thời gian thực hiện khung giá đất mà giá đất ph biến trên thị trường tăng từ 20% trở lên so với giá tối đa hoặc giảm từ 20% trở lên so với giá tối thiểu trong khung giá đất thì Chính phủ điều chỉnh khung giá đất cho phù hợp” (Điều 113). Việc điều chỉnh khung giá đất còn được quy định cụ thể hơn ở Nghị định số 44/2014/NĐ-CP đối với trường hợp khi giá đất phổ biến trên thị trường tăng từ 20% trở lên so với giá tối đa hoặc giảm từ 20% trở lên so với giá tối thiểu trong khung giá đất trong khoảng thời gian từ 180 ngày trở lên thì Bộ tài nguyên và môi trường tổ chức xây dựng, trình Chính phủ điều chỉnh khung giá đất. Về trình tự, trách nhiệm xây dựng và thẩm định khung giá đất điều chỉnh thực hiện tương tự như xây dựng khung giá đất. - Về xây dựng và áp dụng bảng giá đất: Theo quy  định  của  Luật  đất  đai  năm 2003 thì bảng giá đất do UBND cấp tỉnh xây dựng, ban hành và công bố công khai vào ngày 01/01 hàng năm. Bảng giá đất được sử dụng làm căn cứ để thực hiện thu nghĩa vụ tài chính và tính bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất. Tuy nhiên, do bảng giá đất phải đảm bảo hài hoà nhiều mục đích khác nhau, đã dẫn đến thực tế là giá đất trong bảng giá đất luôn thấp hơn giá chuyển nhượng thực tế trên thị trường (phổ biến bằng 30 - 60% giá đất thị trường),(14) gây thất thu cho ngân sách nhà nước khi thực hiện giao đất, cho thuê đất và gây khiếu kiện khi Nhà nước thu hồi đất. Đồng thời, việc ban hành bảng giá đất hàng năm gây khó khăn trong công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng do người có đất thu hồi có tâm lí chờ đợi giá đất mới của năm sau cao hơn năm trước và tốn kém về kinh phí, nhân lực, nhất là đối với nơi, loại đất không có giao dịch về quyền sử dụng đất hoặc không có biến động về giá đất thị trường. Để khắc phục những tồn tại, bất cập này, Luật đất đai năm 2013 đã quy định như sau: Bảng giá đất được xây dựng định kì 05 năm một lần và công bố công khai vào ngày 01/01 của năm đầu kì. Trong thời gian thực hiện bảng giá đất, khi Chính phủ điều chỉnh khung giá đất hoặc giá đất phổ biến trên thị trường có biến động thì UBND cấp tỉnh điều chỉnh bảng giá đất cho phù hợp. Trước khi trình hội đồng nhân dân cùng cấp thông qua bảng giá đất ít nhất 60 ngày, UBND cấp tỉnh gửi dự thảo bảng giá đất đến cơ quan có chức năng xây dựng khung giá đất xem xét, trường hợp có chênh lệch lớn về giá đất giáp ranh giữa các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì báo cáo Thủ tướng Chính phủ quyết định (khoản 1 Điều 114). Bảng giá đất được sử dụng để làm căn cứ trong các trường hợp: 1) Tính tiền sử dụng đất khi Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất ở của hộ gia đình, cá nhân đối với phần diện tích trong hạn mức; cho phép chuyển mục đích sử dụng đất từ đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp không phải là đất ở sang đất ở đối với phần diện tích trong hạn mức giao đất ở cho hộ gia đình, cá nhân; 2) Tính thuế sử dụng đất; 3) Tính phí và lệ phí trong quản lí, sử dụng đất đai; 4) Tính tiền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai; 5) Tính tiền bồi thường cho Nhà nước khi gây thiệt hại trong quản lí và sử dụng đất đai; 6) Tính giá trị quyền sử dụng đất để trả cho người tự nguyện trả lại đất cho Nhà nước đối với trường hợp đất trả lại là đất Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, công nhận quyền sử dụng đất có thu tiền sử dụng đất, đất thuê trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê (khoản 2 Điều 114). Thứ tư, về định giá đất cụ thể Đây là một trong những nội dung mới của Luật đất đai năm 2013. Luật đất đai năm 2003 chưa có quy định về định giá đất cụ thể nhưng trong quá trình tổ chức thực hiện,  Chính phủ  đã  ban hành Nghị định số 17/2006/NĐ-CP (khoản 2 Điều 4, khoản 1 Điều 5, Điều 6) và Nghị định số 123/2007/NĐ-CP (khoản 12 Điều 1), Nghị định số 69/2009/NĐ-CP (Điều 11) quy định về vấn đề này theo hướng: Trường hợp giá đất trong bảng giá đất chưa sát với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường thì UBND cấp tỉnh căn cứ vào giá đất chuyển nhượng thực tế trên thị trường quyết định giá đất cụ thể nhằm hạn chế thất thu cho ngân sách nhà nước, bảo đảm tốt hơn quyền lợi của người có đất bị thu hồi. Tuy nhiên, quy định này chưa thực sự rõ ràng, gây ra tình trạng hầu hết các địa phương lúng túng trong việc xác định giá đất trong các quan hệ quản lí nhà nước về đất đai, vì vậy trên thực tế để “né tránh sự khó khăn này” các địa phương vẫn áp dụng bảng giá đất để tính thu các khoản nghĩa vụ tài chính và tính bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất. Để khắc phục tồn tại này, Luật đất đai năm 2013 đã quy định: “UBND cấp tỉnh quyết định giá đất cụ thể. Cơ quan quản lí đất đai cấp tỉnh có trách nhiệm giúp UBND cấp tỉnh t chức việc xác định giá đất cụ thể. Trong quá trình thực hiện, cơ quan quản lí đất đai cấp tỉnh được thuê t chức có chức năng tư vấn xác định giá đất để tư vấn xác định giá đất cụ thể. Việc xác định giá đất cụ thể phải dựa trên cơ sở điều tra, thu thập thông tin về thửa đất, giá đất thị trường và thông tin về giá đất trong cơ sở dữ liệu đất đai; áp dụng phương pháp định giá đất phù hợp. Căn cứ kết quả tư vấn xác định giá đất, cơ quan quản lí đất đai cấp tỉnh trình hội đồng thẩm định giá đất xem xét trước khi trình UBND cùng cấp quyết định. Hội đồng thẩm định giá đất gồm chủ tịch UBND cấp tỉnh làm chủ tịch và đại điện của cơ quan, tổ chức có liên quan, t chức có chức năng tư vấn xác định giá đất” (khoản 3 Điều 114). Giá đất cụ thể được sử dụng làm căn cứ trong các trường hợp sau: “a) Tính tiền sử dụng đất khi Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân đối với phần diện tích đất ở vượt hạn mức; cho phép chuyển mục đích sử dụng đất từ đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp không phải là đất ở sang đất ở đối với phần diện tích vượt hạn mức giao đất ở cho hộ gia đình, cá nhân. Tính tiền thuê đất đối với đất nông nghiệp vượt hạn mức giao đất, vượt hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân; b) Tính tiền sử dụng đất khi Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất không thông qua hình thức đấu giá quyền sử dụng đất; công nhận quyền sử dụng đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất đối với t chức mà phải nộp tiền sử dụng đất; c) Tính tiền thuê đất đối với trường hợp Nhà nước cho thuê đất không thông qua hình thức đấu giá quyền sử dụng đất; d) Tính giá trị quyền sử dụng đất khi c phần hoá doanh nghiệp nhà nước mà doanh nghiệp cổ phần sử dụng đất thuộc trường hợp Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê; tính tiền thuê đất đối với trường hợp doanh nghiệp nhà nước c phần hoá được Nhà nước cho thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm; đ) Tính tiền bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất” (khoản 4 Điều 114). Thứ năm, về tư vấn xác định giá đất Luật đất đai năm 2003 chỉ dành một điều quy định về tư vấn giá đất và giá đất tư vấn chỉ được sử dụng để tham khảo trong quản lí nhà nước về tài chính đất đai và trong hoạt động giao dịch về quyền sử dụng đất. Do vậy, hoạt động tư vấn giá đất hạn chế, năng lực tư vấn định giá đất chưa đáp ứng được yêu cầu. Để khắc phục tồn tại này, Luật đất đai năm 2013 đã dành hai điều (Điều 115, Điều 116) để quy định các trường hợp tư vấn giá đất được thực hiện, điều kiện hoạt động tư vấn giá đất và hành nghề tư vấn giá đất, quyền và nghĩa vụ của tổ chức tư vấn có chức năng tư vấn xác định giá đất; đặc biệt Luật quy định giá đất tư vấn xác định là một trong các căn cứ để cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định giá đất. Cụ thể hoá quy định tại khoản 2 Điều 115 Luật đất đai năm 2013, Nghị định số 44/2014/NĐ-CP đã quy định nguyên tắc hoạt động tư vấn định giá đất, điều kiện hoạt động tư vấn xác định giá đất, hành nghề tư vấn xác định giá đất. Theo đó: “1. T chức được hoạt động tư vấn xác định giá đất khi có đủ các điều kiện sau đây: a)   Có chức năng tư vấn xác định giá đất hoặc thẩm định giá hoặc tư vấn định giá bất động sản; b)   Có ít nhất 03 định giá viên đủ điều kiện hành nghề tư vấn xác định giá đất quy định tại Khoản 2 Điều này. 2. Cá nhân chỉ được hành nghề tư vấn xác định giá đất trong t chức có chức năng tư vấn xác định giá đất và phải có đủ các điều kiện sau đây: a)   Có năng lực hành vi dân sự; b)   Có phẩm chất đạo đức, liêm khiết, trung thực, khách quan; c)    Có trình độ từ đại học trở lên chuyên ngành về quản lí đất đai, vật giá, thẩm định giá, địa chính, kinh doanh bất động sản, kinh tế bất động sản và các chuyên ngành khác liên quan đến định giá đất; d)   Có thời gian công tác thực tế theo chuyên ngành đào tạo từ 36 tháng trở lên sau khi có bằng tốt nghiệp chuyên ngành quy định tại điểm c khoản này; e)    Có hẻ thẩm định viên về giá được cấp theo quy định của pháp luật về giá hoặc có Chứng chỉ định giá bất động sản được cấp theo quy định của pháp luật về kinh doanh bất động sản hoặc Chứng chỉ định giá đất” (Điều 20)./. Đỗ Xuân Trọng[1]   *  [1] Thạc sĩ luật học, giảng viên -Trường Đại học Luật Hà Nội (1).Xem: Điều 5 Luật đất đai năm 1987. (2).Xem: Điều 49 Luật đất đai năm 1987. (3).Xem: Điều  53 Luật  đất đai năm 1987 quy định:   “Người nào mua, bán, lấn, chiếm đất đai, phát canh thu tô… thì bị xử phạt hành chính”.   (4).Xem: Hernando De Soto, Sự bí ấn của tư bản (TS. Nguyễn Quang A dịch), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr. 86.   (5).Xem: Điều 12 Luật đất đai năm 1993.   (6).Xem: Trường Đại học Luật Hà Nội, Từ điển thuật ngữ luật học, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 1999, tr. 34.   (7).Xem: Điều 4 Luật đất đai năm 2003.   (8).Xem: Khoản 4 Điều 56 Luật đất đai năm 2003.   (9).Xem: TS. Nguyễn Thị Nga, T ng quan pháp luật về giá đất, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2013, tr. 151.   (10).Xem: Điều 56 Luật đất đai năm 2003.   (11).Xem: Khoản 1 Điều 112 Luật đất đai năm 2013. (12).Xem: Điều 56 Luật đất đai năm 2003.     (13).Xem: Điểm b khoản 1 Điều 56 Luật đất đai năm 2003. (14). Nguồn: http://vneconomy.vn/bat-dong-san/khong-the-co-chuyen-khung-gia-dat-bang-gia-thi-truong-20130808124211982.htm, truy cập ngày 11/9/2014.
Luật Bảo hiểm xã hội sửa đổi (Luật BHXH 2014) chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 1-1-2016 là một bước phát triển mới về chính sách an sinh xã hội (ASXH) nói chung, hệ thống pháp luật BHXH nói riêng. Trước yêu cầu phát triển của giai đoạn mới, chính sách BHXH với vai trò trụ cột đang đứng trước thời cơ, vận hội mới, cần có những giải pháp phù hợp, hiệu quả hơn. Phát triển BHXH trong tình hình mới Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định“Công dân có quyền được bảo đảm an sinh xã hội” (Điều 34) và “Nhà nước tạo bình đẳng về cơ hội để công dân thụ hưởng phúc lợi xã hội, phát triển hệ thống an sinh xã hội...” (Điều 59). Để hiện thực hóa Hiến pháp 2013, tại kỳ họp thứ 8, ngày 20-11-2014, Quốc hội khóa XIII thông qua Luật BHXH 2014. Việc sửa đổi Luật BHXH đã cơ bản đáp ứng mục tiêu đổi mới căn bản, toàn diện pháp luật về BHXH nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển hệ thống ASXH phù hợp nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế trong tình hình mới. Đồng thời, khắc phục những hạn chế trong chính sách, pháp luật BHXH hiện hành và nhằm tháo gỡ những khó khăn, bất cập trong tổ chức thực hiện, tiến tới BHXH cho mọi người lao động (NLĐ). Vì vậy, Luật BHXH 2014 có thêm nhiều quy định mới với những mục tiêu cụ thể: Một là, mở rộng diện bao phủ BHXH: Nghị quyết số 21-NQ/T.Ư ngày 22-11-2012, Bộ Chính trị ban hành về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác BHXH, BHYT giai đoạn 2012-2020, xác định đến năm 2020 có khoảng 50% số lực lượng lao động tham gia BHXH (với khoảng 28 triệu người, trong đó, 25 triệu người tham gia BHXH bắt buộc và ba triệu người tham gia BHXH tự nguyện). Để đạt mục tiêu này, Luật BHXH 2014 đã mở rộng phạm vi đối tượng tham gia BHXH. Trong đó, bổ sung một số nhóm đối tượng thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc như: NLĐ làm việc theo mùa vụ, hợp đồng lao động (HĐLĐ) từ một đến dưới ba tháng, NLĐ là công dân nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam có giấy phép lao động được cơ quan thẩm quyền của Việt Nam cấp, cán bộ không chuyên trách ở cấp xã… Mở rộng chính sách đối với người tham gia BHXH tự nguyện như bỏ quy định giới hạn trần tuổi tham gia BHXH tự nguyện, cho nên mọi công dân Việt Nam từ đủ 15 tuổi trở lên không thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc có nguyện vọng đều được tham gia BHXH tự nguyện; bỏ quy định mức sàn thu nhập tối thiểu làm căn cứ đóng BHXH tự nguyện để phù hợp khả năng tham gia của người dân và Nhà nước có chính sách hỗ trợ người tham gia BHXH tự nguyện... Hai là, sửa đổi một số nội dung về các chế độ BHXH theo hướng vừa bảo đảm quyền lợi cho NLĐ, từng bước thực hiện nguyên tắc cân bằng đóng - hưởng. Trong đó, chế độ hưu trí là chế độ được sửa đổi, bổ sung nhiều nhất. Các nội dung sửa đổi, bổ sung đều hướng đến bảo đảm công bằng xã hội (trong đó có bình đẳng giới), từng bước cải thiện tình hình quỹ hưu trí, tử tuất, bảo đảm cho quỹ được cân đối trong thời gian dài hơn; các chế độ BHXH như ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp… đều có những quy định mới có lợi cho NLĐ. Đồng thời, nhằm cải thiện mức hưởng, nâng cao đời sống cho người về hưu, Luật bổ sung chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung. Đây là chính sách BHXH mang tính chất tự nguyện, bổ sung cho chế độ hưu trí trong BHXH bắt buộc, cơ chế tạo lập Quỹ từ sự đóng góp của NLĐ và người sử dụng lao động dưới hình thức tài khoản tiết kiệm cá nhân, được bảo toàn và tích lũy thông qua hoạt động đầu tư theo quy định của pháp luật. Ba là, sửa đổi, bổ sung các quy định nhằm đổi mới phương thức và tổ chức thực hiện chính sách BHXH: Nguyên tắc BHXH được Luật BHXH 2014 quy định rõ, việc thực hiện BHXH phải đơn giản, dễ dàng, thuận tiện, bảo đảm kịp thời và đầy đủ quyền lợi của người tham gia BHXH. Luật quy định việc hiện đại hóa trong quản lý BHXH, khuyến khích đầu tư phát triển công nghệ và phương tiện kỹ thuật tiên tiến để quản lý, thực hiện BHXH; đến năm 2020, hoàn thành việc xây dựng và vận hành cơ sở dữ liệu điện tử về quản lý BHXH trong cả nước. Theo đó, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý, chuyên nghiệp hóa nghiệp vụ, giảm chi phí quản lý, giảm thiểu các thủ tục hành chính cho doanh nghiệp, NLĐ.   Luật BHXH 2014 cũng quy định xây dựng và hoàn thiện các quy chế về đầu tư quỹ BHXH bảo đảm tính hiệu quả, linh hoạt trong hoạt động đầu tư; tăng cường việc giao quyền và trách nhiệm cho đơn vị, tổ chức thực hiện đầu tư; các khoản đầu tư phải bảo đảm được nguyên tắc về bảo toàn và tăng trưởng quỹ BHXH, đa dạng hóa các hình thức đầu tư nhưng vẫn bảo đảm tính an toàn. Bốn là, tăng thẩm quyền, bổ sung chức năng, nhiệm vụ cho cơ quan tổ chức thực hiện: Luật BHXH 2014 quy định cơ quan BHXH là cơ quan nhà nước có chức năng thực hiện chế độ, chính sách BHXH, quản lý và sử dụng các quỹ BHXH, BHYT, BH thất nghiệp; thanh tra việc đóng BHXH, BHYT, BH thất nghiệp và các nhiệm vụ khác theo quy định của luật và hướng dẫn của Chính phủ. Luật BHXH 2014 tăng thẩm quyền cho cơ quan BHXH được thanh tra chuyên ngành việc đóng BHXH, BHYT, BH thất nghiệp và xử lý vi phạm hoặc kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để xử lý vi phạm. Đồng thời, tăng chế tài xử lý đối với hành vi vi phạm quy định về đóng BHXH sẽ góp phần hạn chế tình trạng vi phạm pháp luật về BHXH, BHYT. Vấn đề đặt ra và giải pháp đưa luật vào cuộc sống Có thể nói, với quy định đối tượng có HĐLĐ từ một đến dưới ba tháng tham gia BHXH bắt buộc sẽ góp phần đẩy nhanh tỷ lệ bao phủ BHXH, đồng thời tránh được tình trạng người sử dụng lao động lách luật để trốn đóng BHXH bằng cách ký các chuỗi HĐLĐ dưới ba tháng. Tuy nhiên, quy định này cũng đặt ra thách thức trong tổ chức thực hiện vì việc quản lý đối với người có HĐLĐ dưới ba tháng là rất khó khăn, nếu không có hạ tầng công nghệ thông tin tốt và cơ sở dữ liệu được quản lý đồng bộ, sẽ rất khó quản lý. Việc mở rộng đối tượng tham gia BHXH tự nguyện ở khu vực lao động phi chính thức cũng còn nhiều vấn đề cần làm rõ như quy định mức hỗ trợ của Nhà nước, đặc biệt, khi đời sống của người dân còn khó khăn thì việc vận động họ tham gia BHXH tự nguyện để bảo đảm ASXH khi về già sẽ thật sự là một bài toán khó. Quy định về việc thu hẹp đối tượng hưởng trợ cấp BHXH một lần nhằm bảo đảm ASXH về lâu dài cho NLĐ theo Điều 60, vừa qua đã gặp trở ngại khi một bộ phận nhỏ NLĐ chưa đồng tình. Tuy nhiên, thể theo nguyện vọng của một bộ phận NLĐ có khó khăn về kinh tế và có nguyện vọng được nhận BHXH một lần theo quy định hiện hành, Quốc hội thống nhất thông qua Nghị quyết về việc cho phép NLĐ sau một năm nghỉ việc hoặc không tham gia BHXH tự nguyện mà có nguyện vọng thì được lựa chọn nhận BHXH một lần. Về lâu dài, cần nghiên cứu, bổ sung quy định về mức hưởng trợ cấp BHXH một lần cho phù hợp với mức đóng và tỷ lệ đóng BHXH của NLĐ; đồng thời cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền để NLĐ nhận thức rõ hơn về tính ưu việt của việc hưởng lương hưu và tiếp tục tham gia BHXH để có cơ hội được hưởng lương hưu với nhiều quyền lợi hơn, bảo đảm an sinh bền vững hơn đối với bản thân họ, gia đình và xã hội... Để Luật BHXH 2014 đi vào cuộc sống và triển khai hiệu quả, đòi hỏi sự nỗ lực của các cấp, ngành và sự cộng tác của người dân. Với vai trò là đơn vị trực tiếp tổ chức thực hiện chính sách, hiện nay cơ quan BHXH Việt Nam đã chuẩn bị sẵn sàng cho thời điểm 1-1-2016. Ngành đã chủ động phối hợp với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và các bộ, ngành liên quan trong việc xây dựng các văn bản hướng dẫn thi hành Luật BHXH. Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật BHXH đến mọi người sử dụng lao động và NLĐ. Tiếp tục rà soát, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động nghiệp vụ BHXH. Trước mắt, đẩy nhanh tiến độ ứng dụng giao dịch điện tử trong thực hiện thủ tục hành chính về BHXH để giảm thời gian giao dịch của các doanh nghiệp, phấn đấu đến hết năm 2015 giảm xuống còn 49,5 giờ cho các giao dịch của doanh nghiệp với cơ quan BHXH. Đồng thời, ngành BHXH cũng kiện toàn bộ máy tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của ngành theo quy định của Luật BHXH 2014. Trong đó, tập trung xây dựng một đội ngũ cán bộ, công chức đủ năng lực, trình độ chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp, nâng cao chất lượng phục vụ; góp phần tích cực vào sự nghiệp bảo đảm ASXH... TS Nguyễn Thị Minh     http://www.nhandan.com.vn/xahoi/bhxh-va-cuoc-song/item/27861702-doi-moi-phat-trien-chinh-sach-bao-hiem-xa-hoi-trong-tinh-hinh-moi.html
Đến nay Bảo hiểm xã hội (BHXH) ở Việt Nam đã trải qua chặng đường hơn nửa thế kỷ tồn tại và phát triển với 2 thời kỳ quan trọng: Thời kỳ trước năm 1995, chế độ BHXH được hình thành cùng với cơ chế quản lý nền kinh tế hành chính tập trung dưới sự bao cấp của Nhà nước về BHXH. Từ sau năm 1995, cùng với sự ra đời của nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước, chính sách BHXH cũng được cải cách cho phù hợp với công cuộc đổi mới của đất nước. Đến cuối năm 1980 và đầu những năm 1990, việc thu BHXH do Bộ Tài chính thực hiện được tính vào khoản thu ngân sách Nhà nước mà không hình thành quỹ BHXH độc lập. Thời kỳ này việc chi chế độ hưu trí, mất sức lao động và tử tuất do NSNN đảm nhiệm được tính trong kế hoạch chi NSNN hàng năm. Bên cạnh những ưu điểm là ổn định cuộc sống cho hàng triệu cán bộ công nhân viên chức, lực lượng vũ trang... việc thực hiện chế độ BHXH của thời kỳ này đồng thời đã bộc lộ những tồn tại và hạn chế. Đó là: Chỉ những người lao động trong khu vực Nhà nước mới được hưởng chế độ BHXH, đối tượng tham gia BHXH vì thế cũng hạn hẹp. Nhà nước không hình thành quỹ BHXH nên việc thu - chi quỹ BHXH được tính trong NSNN, do NSNN đảm bảo, trong khi yêu cầu chi năm sau đều cao hơn năm trước đã ảnh hưởng trực tiếp đến việc thực hiện chế độ BHXH đối với người lao động, người đã nghỉ hưu, đồng thời ảnh hưởng đến việc cân đối NSNN. Mặt khác, việc quản lý BHXH thời kỳ này do nhiều cơ quan cùng thực hiện nên bị phân tán, không thống nhất trong thực hiện chế độ về đối tượng, điều kiện hưởng, mức lương và thời hạn hưởng... Để kịp thời khắc phục những tồn tại nói trên, năm 1994 Quốc hội đã ban hành Bộ Luật Lao động; trong đó có chương XII về BHXH. Theo đó, Chính phủ cũng đã ban hành Điều lệ BHXH, kèm theo Nghị định số 12/CP về cơ cấu tổ chức của BHXH Việt Nam , để thống nhất thực hiện chính sách BHXH và quản lý quỹ BHXH theo cơ chế mới. Như vậy là từ năm 1995 đến nay, đối tượng tham gia BHXH bắt buộc ở nước ta bao gồm cả người lao động trong các thành phần kinh tế có sử dụng 10 lao động trở lên, quỹ BHXH cũng được hình thành từ việc đóng BHXH của người sử dụng lao động và người lao động đồng thời được quản lý thống nhất, tập trung, độc lập với NSNN, được Nhà nước bảo hộ. Từ đầu năm 2003 thực hiện Điều lệ BHXH bổ sung sửa đổi, mọi người lao động trong các cơ quan, doanh nghiệp, tổ chức có hợp đồng lao động từ 3 tháng trở lên thuộc các thành phần kinh tế dù trong biên chế hay ngoài biên chế, đều có quyền và nghĩa vụ tham gia BHXH bắt buộc. Những kết quả ban đầu Nếu năm 1995 cả nước có 2,85 triệu người tham gia thì đến cuối năm 2003 đã có 5,24 triệu người tham gia BHXH. Nếu chỉ tính trong vòng 8 năm, BHXH đã giải quyết cho hơn 1 triệu người nghỉ hưu và trợ cấp BHXH một lần thì bình quân mỗi năm nước ta tăng 40 vạn người, bằng khoảng 1% nguồn lao động xã hội. Năm 1993 cả nước có 3,7 triệu người tham gia Bảo hiểm Y tế (BHYT) thì đến năm 2003 số người tham gia BHYT là 16,8 triệu người, chiếm khoảng 21% dân số cả nước. Ngoài loại hình BHYT bắt buộc, bước đầu BHYT tự nguyện đã đuợc triển khai thực hiện, đến năm 2003 đã có 4,6 triệu học sinh, sinh viên tham gia BHYT tự nguyện. Cùng với việc tăng trưởng số người tham gia đóng BHXH, thời gian qua BHXH Việt Nam còn đảm bảo việc chi trả trợ cấp hàng tháng các chế độ: tuất, hưu trí, mất sức lao động... cho gần 2 triệu người đảm bảo đúng đối tượng, đủ số lượng, kịp thời, tận tay đối tượng. Chất lượng chăm sóc sức khoẻ ban đầu, khám chữa bệnh nội trú, ngoại trú có thẻ BHYT ngày càng được nâng cao. Đến nay trên 90% bệnh nhân chạy thận nhân tạo tại các bệnh viện được điều trị bằng thẻ BHYT; những người hưu trí, mất sức lao động đều được chăm sóc sức khoẻ theo BHYT. Ngoài ra Đảng và Nhà nước còn thực hiện chế độ BHYT cho người nghèo từ nguồn NSNN.. . Có thể nói, từ năm 1995 đến nay, đối tượng tham gia BHXH ở nước ta đã từng bước được mở rộng, đảm bảo cho việc thực hiện chính sách BHXH được tiến hành vững chắc, mang lại niềm tin cho người lao động vào việc cải cách chính sách BHXH. Việc hình thành hệ thống BHXH Việt Nam tập trung thống nhất từ Trung ương đến địa phương nhằm chuyên môn hoá việc tổ chức thực hiện các chính sách, chế dộ BHXH theo đúng quy định, đảm bảo tính nghiêm minh, thống nhất trong cả nước, đã tạo điều kiện cho hệ thống BHXH chủ động cải cách hành chính trong lập hồ sơ và quy trình giải quyết các chế độ BHXH cho nguời tham gia BHXH ngày càng tốt hơn. Thách thức và mục tiêu, biện pháp sẽ triển khai. Bên cạnh những kết quả đạt được đáng khích lệ, hiện tại BHXH Việt Nam vẫn đứng trước những thách thức và tồn tại. Đó là: Đối tượng tham gia BHXH đến cuối năm 2003 mới chiếm khoảng 14% lực lượng lao động xã hội, số người tham gia BHYT mới chếm trên 21% dân số cả nước. Với mức đóng và mức hưởng chế độ hưu trí như hiện nay, cùng với việc đối tượng hưởng trợ cấp hàng tháng do quỹ BHXH đảm bảo tăng nhanh, thì quỹ trợ cấp BHXH sẽ không cân đối được lâu dài. Mặc dù Nhà nước đã cải cách về BHXH, nhưng đến nay một số chế độ BHXH cũ vẫn được thực hiện đối với những đối tượng hưởng BHXH thời kỳ trước năm 1995. Vì vây, việc cải cách trong lĩnh vực BHXH không thể thực hiện tại một thời điểm nhất định, mà cần có thời gian cần thiết để chuyển đổi nhận thức, cũng như để thay thế bằng một hệ thống chính sách BHXH thống nhất. Thực hiện mục tiêu không ngừng mở rộng đối tượng tham gia BHXH bắt buộc và Bảo hiểm hưu trí tự nguyện, tiến tới BHXH cho mọi người lao động, thực hiện BHYT toàn dân, phấn đấu đến năm 2010 có khoảng 12 triệu người tham gia BHXH bắt buộc (chiếm 22% lao động xã hội), khoảng 60 triệu người tham gia BHYT (chiếm 70% dân số); thực hiện tham gia BHXH, BHYT tất cả các đối tượng thuộc diện bắt buộc, thu đủ, kịp thời để thực hiện đầy đủ chế độ BHXH, BHYT đúng đối tượng, kịp thời, đầy đủ từ quỹ BHXH để giảm dần nguồn chi từ NSNN. Hiện nay BHXH Việt Nam đang tập trung các biện pháp để triển khai chính sách mở rộng đối tượng tham gia BHXH bắt buộc đối với tất cả những đối tượng quy định của pháp luật, mà trọng tâm là lao động thuộc khu vực kinh tế ngoài quốc doanh, tiến tới mở rộng đến đối tượng tham gia BHXH bắt buộc đối với người lao động tự tạo việc làm có thu nhập ổn định. Đồng thời mở rộng đối tượng tham gia BHYT đối với người lao động ở các doanh nghiệp ngoài quốc doanh có dưới 10 lao động, thân nhân của người tham gia BHYT bắt buộc, học sinh, sinh viên, người lao động tự do có thu nhập ổn định, những người thuộc diện chính sách xã hội, người nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi... Tiến tới phủ kín mạng lưới BHXH và thực hiện BHXH tự nguyện đối với người lao động chưa thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc, không ngừng mở rộng diện theo đơn vị và cộng đồng BHYT tự nguyện, để thực hiện từng bước BHYT toàn dân.   http://quantritaichinh.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=139%3A02-10112009&catid=68%3Ablcsbhxhld&Itemid=83    aventin.ua/mexes.com.uawww.avtokum.compharmacity.com.ua/
Trước đây, khi người lao động thôi việc thì được hưởng trợ cấp thôi việc do doanh nghiệp chi trả và mức chi trả được tính “một năm thâm niên được hưởng ½ tháng lương đóng BHXH”. Tại Thông tư 17/2009/TT-BLĐTBXH ngày 26/05/2009 thì từ 01/01/2009, việc tính trợ cấp thôi việc không áp dụng nữa vì doanh nghiệp đã đóng BHTN cho NLĐ. Điều này làm nẩy sinh một số vấn đề bất cập trong chính sách dành cho người lao động. Trong vấn đề này, chúng ta không bàn đến “trợ cấp mất việc”. Trợ cấp mất việc được hướng dẫn tại Điều 17, Bộ luật Lao động. Theo đó, khi thay đổi cơ cấu mà cho người lao động thôi việc (tức là làm cho người lao động mất việc) thì Doanh nghiệp phải thanh toán cho người lao động (có thời gian làm việc trên 1 năm) một khoản “trợ cấp mất việc” là mỗi năm thâm niên được hưởng 1 tháng lương, và tối thiểu là 2 tháng lương. Cụ thể tại Nghị định 39/2003/NĐ-CP ngày 18/04/2003, hướng dẫn tại các Điều 11, 12, 13. Trong đó, tại điều 13, Nghị định 39 cũng hướng dẫn hàng tháng trích từ 1% đến 3% Quỹ lương đóng BHXH để trích lập “quỹ dự phòng trợ cấp mất việc”. Ở đây, điều cần bàn là “trợ cấp thôi việc”. Nghị định 44/2003/NĐ-CP hướng dẫn tại Điều 14 v/v Doanh nghiệp có nghĩa vụ trả trợ cấp thôi việc cho người lao động trong trường hợp chấm dứt Hợp đồng lao động (đối với người lao động đã làm việc từ đủ 12 tháng trở lên quy định tại khoản 1 Điều 42 của Bộ luật Lao động trong các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động quy định tại Điều 36 của Bộ luật Lao động; Điều 37, các điểm a, c, d và điểm đ khoản 1 Điều 38, khoản 1 Điều 41, điểm c khoản 1 Điều 85 của Bộ luật Lao động đã sửa đổi, bổ sung.) Nguồn kinh phí trả cho “Trợ cấp thôi việc” tính vào Chi phí (TK 642). Thời gian làm việc là từ 12 tháng trở lên sau đó, nếu từ 1 tháng đến 6 tháng thì làm tròn thành 6 tháng, trên 6 tháng thì làm tròn thành 1 năm. Mức trợ cấp là mỗi năm làm việc thì được hưởng ½ tháng lương và phụ cấp (nếu có). Đến đây chắc cũng không có gì “phàn nàn” nếu không có Luật BHXH ban hành năm 2006 với các điều khoản liên quan đến “Trợ cấp thất nghiệp”. Theo Luật BHXH ban hành năm 2006, điều khoản bảo hiểm thất nghiệp được áp dụng từ 01/01/2009, và chỉ áp dụng trợ cấp thất nghiệp đối với NLĐ đã đóng đủ BHTN từ 12 tháng trở lên (Điều 81). Theo Điều 3 Luật này, “Người thất nghiệp là người đang đóng bảo hiểm thất nghiệp mà bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc nhưng chưa tìm được việc làm.” Và được hưởng tối thiểu từ 3 tháng trợ cấp thất nghiệp trở lên (60% mức lương trước thất nghiệp). Nhưng không được hưởng quá 1 năm. (Điều 82). Sau đó, tại Thông tư 17/2009/TT-BLĐTBXH thì hướng dẫn (do thời gian từ 01/01/2009 đã đóng BHTN rồi, nên) việc tính trợ cấp thôi việc theo thâm niên chỉ dừng đến 31/12/2008 thôi. Vấn đề nằm ngay ở điểm là, chúng ta không có “định nghĩa về trợ cấp thất nghiệp”. Trợ cấp thất nghiệp là khoản tiền nuôi sống cho NLĐ trong thời gian NLĐ bị thất nghiệp, tức là hoàn toàn không liên quan đến vấn đề công tác trước đó. Ở đây có 2 điều cần quan tâm. Thứ nhất, giả sử người lao động thôi việc vào tháng 06/2009, thì trợ cấp thôi việc của NLĐ chỉ được tính đến 31/12/2008, trong khi NLĐ không hưởng được trợ cấp thất nghiệp vì thời gian đóng BHTN mới được 6 tháng! Đây là một thiệt thòi. Thứ hai, giả sử NLĐ đóng đủ trên 12 tháng BHTN nhưng khi nghỉ việc cơ quan cũ sang làm cơ quan mới, thì “vì không thất nghiệp nên không hưởng BHTN” và cũng không được Cơ quan cũ “trợ cấp thôi việc”. Đây chính là điểm thứ hai làm người lao động bị thiệt thòi. Thử phân tích khái niệm “trợ cấp thôi việc”. Nếu khoản trợ cấp thôi việc là “để hỗ trợ người lao động không còn việc làm trong thời gian đi xin việc mới” thì có thể đánh đồng và thay thế bởi BHTN. Nhưng thật ra, từ lâu nay, người lao động nghỉ việc Cơ quan cũ sang làm Cơ quan khác vẫn hưởng “Trợ cấp thôi việc”. Trong các văn bản trước đây nói về “nghĩa vụ doanh nghiệp phải chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động” không có văn bản nào giải thích mục đích, ý nghĩa của “trợ cấp thôi việc”. Điều này làm cho hầu hết NLĐ cho rằng trợ cấp thôi việc là một khoản nghĩa vụ mà doanh nghiệp trả cho thời gian cống hiến lâu dài tại doanh nghiệp và khi ra đi họ được hưởng. Nếu đó là một khoản trợ cấp cho thời gian cống hiến tại doanh nghiệp thì lại càng không thể thay thế “trợ cấp thôi việc” bằng “bảo hiểm thất nghiệp”. Nếu phân tích đúng hơn, thì “Trợ cấp thất nghiệp” phải được thay thế cho “Trợ cấp mất việc” mới đúng. Nhưng đằng này, chúng ta lại đi thay “Trợ cấp thôi việc” bằng “Trợ cấp thất nghiệp”. Và điều làm cho Kế toán “hoang mang” Hầu hết các Kế toán đang “hoang mang” vì TK 351 hiện nay xử lý thế nào. Tuy nhiên, trong bài viết này, căn cứ các quy định hiện hành, xin đưa ra ý kiến như sau : Vào ngày 31/12 hàng năm, kế toán vẫn căn cứ tổng quỹ lương BHXH trích từ 1% đến 3% (quỹ lương năm theo khả năng của doanh nghiệp) để đưa vào Quỹ dự phòng “trợ cấp mất việc” (Nợ TK 642, Có TK 351). Đối với các Doanh nghiệp niêm yết, thì việc trích lập quỹ này được thực hiện tại thời điểm lập BCTC giữa niên độ (căn cứ quỹ lương quý). Khi chi trả trợ cấp mất việc (chứ không phải là trợ cấp thôi việc) thì ghi Có TK 111, Nợ TK 351. Kiến nghị Kiến nghị Bộ LĐTBXH điều chỉnh quy định liên quan đến “trợ cấp mất việc”, “trợ cấp thôi việc”, “trợ cấp thất nghiệp” đồng thời công bố định nghĩa rõ ràng về các khoản này để NLĐ hiểu rõ hơn. Thiết nghĩ, việc duy trì “trợ cấp thôi việc” là cần thiết vì “trợ cấp thôi việc” là khoản trợ cấp mà doanh nghiệp dành cho NLĐ khi họ rời khỏi cơ quan sau một thời gian gắn bó. Vì cũng theo Điều 41 Bộ Luật Lao động thì nếu người lao động vi phạm kỷ luật buộc thôi việc hay đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động thì không được hưởng “trợ cấp thôi việc”. Nếu có thể, nên thay thế “trợ cấp mất việc” bằng “trợ cấp thất nghiệp”. Bên cạnh đó, kiến nghị điều chỉnh Khoản 6, Điều 139 Luật BHXH đã ban hành như sau :”Thời gian người lao động đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định tại Luật này không được tính để hưởng trợ cấp mất việc làm hoặc trợ cấp thôi việc theo quy định của pháp luật về lao động, pháp luật về cán bộ, công chức.” Vì điều khoản này đã “hủy bỏ” cả “trợ cấp mất việc và trợ cấp thôi việc”, đơn phương hủy bỏ Điều 17 và Điều 42 Bộ luật Lao động. Trong khi chưa có văn bản nào hướng dẫn việc hủy bỏ trợ cấp mất việc từ Bộ Tài chính và cách thức xử lý TK 351. TS. Lê Ngọc Lợi, CPA Nguồn: http://quantritaichinh.vn/index.phpoption=com_content&view=article&id=228%3Abatcap&catid=68%3Ablcsbhxhld&Itemid=83    
1. Bất kì hoạt động quản lí nào, dù là quản lí nói chung hay quản lí lao động nói riêng muốn thực hiện được thì chủ thể quản lí đều phải thiết lập các công cụ, phương tiện để quản lí. Theo Từ điển tiếng Việt, “công cụ” là cái dùng để tiến hành một việc nào đó, để đạt đến một mục đích nào đó, còn “quản lí” là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định.(1) Từ đó, có thể hiểu “công cụ quản lí lao động” là cái mà chủ thể quản lí lao động dùng để tiến hành tổ chức và điều khiển các hoạt động lao động theo những yêu cầu nhất định nhằm đạt được mục đích đặt ra. Trong lĩnh vực luật lao động, chủ thể có quyền quản lí lao động bao gồm nhà nước và người sử dụng lao động (NSDLĐ). Song, nếu như nhà nước thiết lập công cụ quản lí lao động bằng hệ thống pháp luật do cơ quan có thẩm quyền ban hành thì NSDLĐ có quyền thiết lập các công cụ quản lí lao động phù hợp  với điều kiện cụ thể  trong đơn  vị của mình trên cơ sở quy định của pháp luật. Tuy nhiên,  trong  thực  tế  nghiên  cứu khoa học luật lao động hiện nay vẫn đang tồn tại các quan điểm khác nhau về công cụ quản lí lao động của NSDLĐ. Quan điểm thứ nhất cho rằng, chỉ các văn bản do NSDLĐ ban hành như nội quy lao động, quy chế, quyết định... mới là công cụ quản lí lao động, bởi nó thể hiện ý chí đơn phương của NSDLĐ trong việc yêu cầu, bắt buộc người lao động (NLĐ) của đơn vị phải tuân theo. Còn các văn bản ra đời trên cơ sở thoả thuận không phải là công cụ quản lí lao động của NSDLĐ. Quan điểm thứ hai cho rằng, công cụ quản lí lao động của NSDLĐ bao gồm các văn bản do NSDLĐ đơn phương ban hành như nội quy lao động, quy chế, quyết định và các văn bản được thiết lập dựa trên cơ sở thoả thuận với bên NLĐ, tập thể lao động như: Thoả ước lao động tập thể,  hợp  đồng  lao  động  (HĐLĐ)  và  các thoả thuận khác.   Vậy, các văn bản ra đời trên cơ sở thoả thuận giữa các bên quan hệ lao động nói chung và cụ thể là HĐLĐ nói riêng có phải là công cụ quản lí lao động của NSDLĐ hay không? Những lí giải cho câu hỏi này có ý nghĩa rất lớn về mặt lí luận và thực tiễn, không chỉ tạo cơ sở vững chắc nhằm bảo đảm về mặt pháp lí đối với quyền quản lí lao động của NSDLĐ mà còn có ý nghĩa quan trọng trong việc nghiên cứu thực trạng pháp luật và hoàn thiện pháp luật về quyền quản lí lao động của NSDLĐ ở Việt Nam hiện nay. 2. Tác giả bài viết đồng tình với quan điểm thứ hai. Đó là cùng với nội quy lao động, quy chế, quyết định, thoả ước lao động tập thể và các thoả thuận khác, HĐLĐ là một trong các công cụ, phương tiện được NSDLĐ thiết lập để tiến hành tổ chức và điều khiển các hoạt động lao động của từng NLĐ theo những yêu cầu chung thống nhất trong đơn vị nhằm đạt được mục đích đặt ra của quá trình sản xuất, kinh doanh. Việc kí kết HĐLĐ là một trong các cách thức mà NSDLĐ tạo cơ sở pháp lí để thực hiện quyền quản lí lao động đối với NLĐ. Quá trình tổ chức, thực hiện, theo dõi, kiểm tra, giám sát, cũng như khen thưởng, giải quyết khiếu nại... của NSDLĐ được thực hiện trên cơ sở nội dung mà các bên đã cam kết trong HĐLĐ. Có thể lí giải vấn đề này như sau: Thứ nhất, tuy cùng chung bản chất thoả thuận nhưng HĐLĐ có nhiều điểm khác với các loại hợp đồng khác. Điểm khác biệt cơ bản của HĐLĐ với các hợp đồng khác xuất phát từ hàng hóa các bên mua bán - đó là sức lao động của NLĐ. Sức lao động không chỉ là loại hàng hóa trừu tượng, tồn tại trong chính bản thân NLĐ và có khả năng tạo ra giá trị lớn hơn rất nhiều so với giá trị ban đầu của bản thân nó mà còn là loại hàng hóa được chuyển giao thông qua phương thức rất đặc biệt - thông qua một việc làm cụ thể. Khi NLĐ thực hiện việc làm, nhiều khi họ không thể tự lựa chọn làm gì, ở đâu, trong thời gian bao lâu... mà hoàn toàn do NSDLĐ quyết định. Hoặc do yêu cầu phát sinh từ quá trình sản xuất kinh doanh, với tư cách là chủ sở hữu tài sản trong đơn vị và nhằm bảo đảm mục đích lợi nhuận đặt ra, NSDLĐ có quyền tạm thời điều chuyển NLĐ làm công việc khác, tạm dừng thực hiện công việc hoặc thay đổi công việc của NLĐ. Thêm nữa, việc NLĐ thực hiện công việc ra sao, mức độ thực hiện công việc như thế nào, đạt được kết quả gì… đều do NSDLĐ kiểm tra, kiểm soát, đánh giá. Trên cơ sở kết quả đánh giá mức độ hoàn thành công việc của NLĐ, NSDLĐ quyết định về mức tiền lương, tiền thưởng, nâng lương, nâng thưởng và các chế độ khác đối với NLĐ. Trường hợp NLĐ không hoàn thành công việc, vi phạm nghĩa vụ lao động đã thoả thuận trong HĐLĐ thì tuỳ từng trường hợp, NSDLĐ có thể chấm dứt HĐLĐ đối với NLĐ để bảo đảm duy trì và thực hiện đúng tiến độ các kế hoạch đã đặt ra, bảo đảm doanh thu, lợi nhuận của đơn vị. Như vậy, có thể thấy rằng quyền quản lí lao động của bên NSDLĐ đối với bên NLĐ trong quan hệ HĐLĐ là có tính khách quan. Bởi vì “khi tham gia quan hệ HĐLĐ, mỗi NLĐ thực hiện các nghĩa vụ có tính cá nhân, đơn lẻ nhưng lao động ở đây là lao động mang tính xã hội hoá, vì thế hiệu quả cuối cùng lại phụ thuộc vào sự phối hợp của cả tập thể, của tất cả các quan hệ lao động. Vì vậy, cần thiết phải có sự thống nhất, liên kết, đồng bộ… các quan hệ đơn lẻ trong một trật tự chung thông qua một trung tâm chỉ huy và điều phối bằng các yêu cầu, đòi hỏi, mệnh lệnh… của NSDLĐ để đạt hiệu quả cao nhất”.(2) Quyền quản lí lao động của NSDLĐ chỉ tồn tại trong quan hệ HĐLĐ mà không tồn tại trong các quan hệ hợp đồng khác. Sự thừa nhận của pháp luật về vấn đề này và việc trao quyền quản lí lao động cho NSDLĐ trong quan hệ HĐLĐ là phù hợp với sự tồn tại và phát triển của quan hệ lao động trong nền kinh tế thị trường. Thứ hai, các nước trên thế giới như Áo, Bỉ, Pháp, Hoa Kỳ, Anh, Đức, Thụy Điển…, do coi quan hệ HĐLĐ thuộc lĩnh vực luật tư nên đều cho rằng HĐLĐ thể hiện rõ rệt quyền quản lí lao động của NSDLĐ.(3) Theo đó, bên NLĐ cam kết tiến hành công việc theo sự chỉ đạo của bên NSDLĐ và lệ thuộc vào NSDLĐ. Ví dụ: Luật lao động Pháp thừa nhận: HĐLĐ là sự thoả thuận, theo đó, một người cam kết tiến hành một hoạt động theo sự chỉ đạo của người khác, lệ thuộc vào người đó và được trả công. Hoặc pháp luật Đức coi hoạt động trong HĐLĐ là NLĐ thực hiện một công việc mang tính phụ thuộc và có trả công.(4) Do đặt bên NLĐ vào vị trí bị chỉ đạo/lệ thuộc, vì vậy pháp luật Đức cũng trao cho NSDLĐ quyền lực cần thiết để bảo đảm việc thực hiện công việc đã phân công cho NLĐ. HĐLĐ có hiệu lực khi NLĐ bằng chính hành vi lao động của mình thực hiện các nghĩa vụ lao động đã cam kết dưới sự chỉ đạo, điều hành, kiểm tra, giám sát... của NSDLĐ. Nhiều nhà khoa học luật lao động của một số nước trên thế giới đều có ý kiến thống nhất về vấn đề này. Theo các nhà nghiên cứu luật lao động Phần Lan thì “Nền móng của quyền quản lí lao động của NSDLĐ được đặt ở HĐLĐ. Cụ thể là trên cơ sở của HĐLĐ này, NLĐ sẽ phải đảm đương và thực hiện nhiệm vụ lao động của mình theo hướng dẫn của NSDLĐ”.(5) Lí giải điều này, họ cho rằng: "Bản chất của quan hệ lao động nói chung và HĐLĐ nói riêng tự nó tạo nên cho NSDLĐ khả năng chỉ đạo và giám sát công việc và sự lệ thuộc của bên lao động" .(6) Còn tác giả John Storey khi nghiên cứu về thương lượng tập thể cấp doanh nghiệp và quyền quản lí lao động ở Anh cũng thừa nhận: "Hạt nhân của quan hệ việc làm là vấn đề điều khiển và quyền tự do quyết định của NSDLĐ" .(7) Theo đó, HĐLĐ có thể được xem là "một tập hợp những điều khoản có ngầm định giữ lại quyền điều hành và giám sát một cách đầy đủ của bên sử dụng lao động" .(8) John Kinamugire - nhà nghiên cứu về quyền quản lí lao động trong luật lao động Nam Phi cũng khẳng định: "Chính các quan hệ lao động cá nhân là nơi quyền quản lí lao động của NSDLĐ được thực hiện nhiều nhất. Thực tế là những nội dung như bố trí công việc, địa điểm làm việc, thời giờ làm việc, tiền lương, tiền thưởng,... đều có thể là những vấn đề các bên cùng thoả thuận song quyết định lại thuộc về bên sử dụng lao động" .(9) Như vậy, có thể thấy rằng so với các công cụ quản lí lao động khác, HĐLĐ được coi là công cụ "rất có lợi cho quyền quản lí lao động của NSDLĐ". Điểm có lợi ở đây thể hiện ở "bản chất không minh bạch theo chủ ý của NSDLĐ" và hệ thống các nghĩa vụ mà NLĐ phải thực hiện. Ví dụ: NSDLĐ có quyền phân công công việc cho NLĐ nhưng trong HĐLĐ thường "im lặng", không nêu ra quyền đó gồm những gì tuy nhiên lại quy định rất tỉ mỉ về những gì NLĐ phải thực hiện. Điều này cũng dễ hiểu vì trong quan hệ lao động, nghĩa vụ của bên này tương ứng với quyền của bên kia. Nghĩa vụ của bên NLĐ càng bị liệt kê ra nhiều thì quyền quản lí lao động của NSDLĐ càng lớn.(10) Chính do yếu tố quản lí lao động trong HĐLĐ nên để duy trì, ổn định quan hệ lao động và bảo vệ lợi ích của cả hai bên, nhất là lợi ích của NLĐ, pháp luật lao động hiện hành của nhiều nước trên thế giới đều giới hạn quyền quản lí lao động của NSDLĐ trong HĐLĐ. Các nước như: Nga, Hàn Quốc, Trung Quốc, Campuchia, Lào, Malaysia, Singapore... đều có luật đơn hành về HĐLĐ hoặc có chương HĐLĐ trong Bộ luật lao động. Theo đó, các vấn đề về nội dung, hình thức, thời hạn HĐLĐ, nguyên tắc kí kết HĐLĐ, các trường hợp thay đổi, tạm hoãn hoặc chấm dứt HĐLĐ được quy định rất cụ thể. Một số nước khác như: Philippines, Thái Lan... tuy không có luật về HĐLĐ cũng như không có chương riêng về HĐLĐ trong Bộ luật lao động, song các quy định về trách nhiệm của NSDLĐ khi kí kết HĐLĐ và các trường hợp NSDLĐ không được cho NLĐ thôi việc được liệt kê chi tiết.(11) Điều đó đã thể hiện sự can thiệp của các nhà lập pháp vào quyền và trách nhiệm của NSDLĐ trong quá trình kí kết, thực hiện và chấm dứt HĐLĐ. Hay nói cách khác, khung pháp lí cho sự thoả thuận các nội dung trong HĐLĐ rõ ràng là hẹp hơn rất nhiều so với khung pháp lí cho sự thoả thuận các nội dung trong hợp đồng dân sự (các bên được tự do thoả thuận miễn là không vi phạm điều cấm và trái đạo đức xã hội). Điều đó lí giải tại sao trước đây vốn là một loại hợp đồng dân sự được điều chỉnh bởi pháp luật dân sự (như ở Pháp, Đức, Anh, Hoa Kỳ...) thì sau này HĐLĐ đã tách khỏi pháp luật dân sự và được pháp luật lao động điều chỉnh.(12) Đồng thời điều này cũng lí giải tại sao ra đời trên cơ sở thoả thuận mang tính cá nhân giữa NLĐ và NSDLĐ về quyền và nghĩa vụ của hai bên, song pháp luật lao động các nước, ở các mức độ khác nhau, đều quy định khá cụ thể các vấn đề pháp lí về HĐLĐ so với các văn bản nội bộ khác như thoả ước lao động tập thể, nội quy lao động, quy chế, quyết định. Thứ ba, ở Việt Nam hiện nay, quan hệ HĐLĐ được xác định thuộc lĩnh vực luật tư. Theo đó, pháp luật ngày càng bảo đảm hơn quyền tự định đoạt của các bên thay vì sự can thiệp trực tiếp của nhà nước vào quan hệ lao động nói chung, quan hệ HĐLĐ nói riêng giữa hai bên như trước đây. Nhiều nhà nghiên cứu luật lao động trong các công trình nghiên cứu khoa học của mình cũng đều nhấn mạnh quyền quản lí lao động của NSDLĐ đối với NLĐ trong HĐLĐ. Theo tác giả Phạm Công Trứ, HĐLĐ luôn có sự phụ thuộc pháp lí của NLĐ vào NSDLĐ.(13) Hoặc để nhấn mạnh quyền quản lí lao động của NSDLĐ thể hiện trong HĐLĐ, tác giả Nguyễn Hữu Chí đã khẳng định: “Yếu tố quản lí lao động trong HĐLĐ mang tính khách quan”. Lí giải thêm điều này, tác giả cho rằng “Trong quá trình thực hiện HĐLĐ, dường như yếu tố bình đẳng “lẩn, khuất” ở đâu đó mà biểu hiện ra bên ngoài là sự không bình đẳng, bởi một bên trong quan hệ có quyền ra các mệnh lệnh, chỉ thị và bên kia có nghĩa vụ thực hiện”.(14) Tác giả Lưu Bình Nhưỡng cũng đã phân tích cụ thể về quyền quản lí lao động của NSDLĐ thể hiện trong HĐLĐ, đó là: “NSDLĐ có quyền bố trí, sắp xếp công việc (cho NLĐ). Việc bố trí công việc sẽ tuân theo thoả thuận trong HĐLĐ đã giao kết giữa hai bên. Tuy nhiên, không tự nhiên mà NLĐ có HĐLĐ được làm việc ở nơi này hay nơi khác. Để thực sự vào việc, NLĐ phải được bố trí công việc cụ thể. Ví dụ: Nguyễn Văn H kí HĐLĐ với công ti cổ phần T. Công việc của H là làm kế toán. Trên cơ sở HĐLĐ đó, công ti sẽ bố trí H vào vị trí cụ thể trong bộ phận kế toán, làm kế toán tài sản, kế toán thanh toán hay kế toán tổng hợp”.(15)   Có thể thấy rằng quyền quản lí lao động được thể hiện rõ nét trong HĐLĐ, cả trong quá trình kí kết cũng như trong quá trình thực hiện, chấm dứt HĐLĐ. Tuy nhiên, do những ưu thế về mặt kinh tế và pháp lí nên trong quá trình kí kết cũng như duy trì, chấm dứt HĐLĐ, NSDLĐ dễ lạm dụng, xâm phạm đến quyền và lợi ích của NLĐ. Bởi thế, để bảo đảm quyền quản lí lao động của NSDLĐ trong mối tương quan với quyền và lợi ích của NLĐ, cũng giống như pháp luật lao động các nước trên thế giới, pháp luật lao động hiện hành của Việt Nam quy định khá cụ thể, chi tiết về HĐLĐ cũng như quyền, trách nhiệm của NSDLĐ khi kí kết, duy trì, chấm dứt HĐLĐ.(16) Khi các quy định của pháp luật đều ở mức tối thiểu về quyền lợi, tối đa về nghĩa vụ thì quyền, lợi ích, nghĩa vụ cụ thể của NLĐ trong HĐLĐ hoàn toàn do NSDLĐ quyết định. Thực tế, ở hầu hết đơn vị sử dụng lao động, các nội dung trong HĐLĐ về mức lương, hình thức trả lương, chế độ nâng lương, nâng bậc lương, đào tạo nghề, bảo hiểm xã hội... đều ghi chung chung "theo quy định của pháp luật hiện hành" hoặc "theo quy định của công ti". Các nội dung về phụ cấp lương, tiền thưởng, các khoản bổ sung khác đều ghi "đã tính vào lương". Nội dung công việc phải làm ghi "theo sự phân công của trưởng bộ phận" hoặc "theo nghề nghiệp của công nhân". Nội dung về thời giờ làm việc, thời giờ làm thêm ghi "8 tiếng một ngày, tăng ca theo yêu cầu tại từng thời điểm" hoặc "thời giờ làm việc theo yêu cầu của người quản lí trực tiếp"...(17) Tính chất không minh bạch trong các nội dung của HĐLĐ như trên thể hiện chủ ý của NSDLĐ trong việc ngầm giữ lại quyền quyết định ở các trường hợp cụ thể, tình huống cụ thể theo chiều hướng có lợi cho họ. 3. Như vậy, mặc dù ra đời trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng giữa các bên về quyền, lợi ích, nghĩa vụ song do những đặc điểm từ đối tượng hàng hóa sức lao động, vị thế các bên và lợi ích các bên cùng hướng đến, nên HĐLĐ thể hiện quyền quản lí lao động của NSDLĐ. Chính yếu tố quản lí lao động đã tạo nên đặc điểm khác biệt của quan hệ HĐLĐ so với các quan hệ hợp đồng khác. Điểm khác biệt này dẫn đến sự điều chỉnh của pháp luật đối với HĐLĐ cũng vì thế mà cụ thể và chi tiết hơn. Ngoài ra, do kết quả thoả thuận về ý chí giữa các bên thể hiện trong HĐLĐ là một trong các căn cứ để NSDLĐ chỉ đạo, điều hành NLĐ thực hiện quyền và nghĩa vụ lao động nên so với quyền quản lí lao động của nhà nước, quyền quản lí lao động của NSDLĐ được thể hiện mềm dẻo, uyển chuyển, linh hoạt hơn và phù hợp hơn với từng trường hợp, tình huống, đơn vị sử dụng lao động cụ thể. Mặt khác, cũng chính kết quả của sự thoả thuận trong HĐLĐ đã tác động sâu sắc tới quyền quản lí lao động của NSDLĐ. Nó làm cho quyền quản lí lao động của NSDLĐ ngày càng đổi mới theo hướng dân chủ, công bằng hơn và bảo đảm hơn lợi ích các bên./ Đỗ Thị Dung[1]   [1] Tiến sĩ luật học, giảng viên chính Trường Đại học Luật Hà Nội (1).Xem: Viện ngôn ngữ học, Từ điển tiếng Việt (In lần thứ bảy), Nxb. Đà Nẵng - Trung tâm từ điển học, Hà Nội-Đà Nẵng, 2000, tr. 207 và tr. 800. (2).Xem: Nguyễn Hữu Chí, Pháp luật HĐLĐ Việt Nam - Thực trạng và phát triển, Nxb. Lao động-xã hội, Hà Nội, 2003, tr. 58. (3).Xem: Đỗ Thị Dung, “Về khái niệm quyền quản lí lao động của NSDLĐ”, Tạp chí luật học, số 6/2013, tr. 11 - 17. (4).Xem: Nguyễn Hữu Chí, sđd, tr. 45. (5).Xem: Employer’s managerial prerogative, nguồn:  http://www.euro found.eu ropa.eu/emire/ FINLA ND/  ANCHOR-DIREKTIO-OIKEUSD IR EKTIO NS R- Auml-TT-FI.ht m, truy cập ngày 15/9/2012. (6).Xem: Employer’s managerial prerogative, tlđd. (7).Xem: John Storey, Managerial prerogative and the question of control, Routledge, 1983, p. 40. (8).Xem: John Storey, Managerial prerogative and the question of control, Routledge, 1983, p. 42. (9).Xem: John Storey, Workplace collective bargaining and managerial prerogatives, Industrial Relations Journal, 4/2007, p. 1. (10).Xem: John Storey, Managerial prerogative and the question of control, Routledge, 1983, p. 43. (11).Xem: Bộ lao động-thương binh và xã hội, Tài liệu tham khảo pháp luật lao động nước ngoài, Nxb. Lao động - xã hội, Hà Nội, 2010, tr. 38 - 61. (12).Xem: Phạm Thị Thúy Nga, “Sự phụ thuộc pháp lí - dấu hiệu đặc trưng nhất trong quan hệ HĐLĐ”, Tạp chí nhà nước và pháp luật, số 8/2008, tr. 31 - 36, 52. (13).Xem: Khoa luật, Trường đại học khoa học xã hội và nhân văn, Giáo trình luật lao động Việt Nam, Nxb. Đại học quốc gia Hà Nội, 1999, tr. 184 - 185. (14).Xem: Nguyễn Hữu Chí, sđd, tr. 58 - 59. (15).Xem: Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật lao động Việt Nam (Tái bản lần thứ 6 có sửa đổi, bổ sung), Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2013, tr. 311. (16).Xem: Chương HĐLĐ, từ Điều 15 đến Điều 49 Bộ luật lao động.   (17).Xem: Thanh tra Bộ, Bộ lao động-thương binh và xã hội, Kết quả thanh tra việc chấp hành pháp luật về lao động trên địa bàn các tỉnh/thành phố Hà Nội, Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai, Đà Nẵng, năm 2010, 2011, 2012.
Mặc dù Luật đất đai năm 2013 tiếp tục kế thừa  và  khẳng định quy định của Luật đất đai năm 2003: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lí song chế định này chứa đựng những sửa đổi, bổ sung (những điểm mới) cơ bản sau đây: 1. Về mối quan hệ giữa chủ sở hữu toàn dân và đại diện chủ sở hữu toàn dân là Nhà nước Xét về phương diện pháp lí, mặc dù pháp luật đất đai quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân song toàn dân không phải là pháp nhân nên phải chủ thể hoá thông qua chế định pháp lí về quyền sở hữu toàn dân. Nhà nước với tư cách là một pháp nhân công được trao quyền thực hiện đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai. Như vậy, ở đây cần phân biệt rạch ròi giữa Nhà nước - đại diện chủ sở hữu đất đai với toàn dân là chủ sở hữu đất đai. Điều này có nghĩa Nhà nước không phải là chủ sở hữu đất đai mà chỉ là người đại diện chủ sở hữu đất đai. Tư cách đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai của Nhà nước được pháp luật quy định. Nhà nước chỉ được thực hiện các quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai do pháp luật quy định. Nói cách khác, với tư cách một cộng đồng, toàn dân không thể tự đứng ra thực hiện các quyền năng của chủ sở hữu đối với đất đai mà phải uỷ quyền (bằng các quy định của pháp luật) cho Nhà nước thay mặt mình thực hiện quyền năng này. Tuy nhiên, việc ủy quyền này không hoàn toàn trao cho Nhà nước thực hiện tất cả các quyền của chủ sở hữu đối với đất đai mà toàn dân cũng trực tiếp thực hiện quyền sở hữu chủ về đất đai như cho ý kiến về chế độ sở hữu đất đai, về các chính sách quản lí và sử dụng đất v.v.. Trên thực tế, dường như các cơ quan nhà nước khi thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu đã tự coi mình như là chủ sở hữu đất đai. Họ tự quyết định việc phân phối đất đai, chuyển mục đích sử dụng đất, tự đưa ra phương án bồi thường… mà không coi trọng việc hỏi ý kiến của người dân - chủ sở hữu đất đai hoặc lạm dụng việc được giao quyền đại diện chủ sở hữu để giao, cho thuê đất; chuyển mục đích sử dụng đất và thu hồi đất tuỳ tiện vì lợi ích nhóm v.v.. Điều này có nguyên nhân do pháp luật đất đai không làm rõ mối quan hệ giữa chủ sở hữu toàn dân và đại diện chủ sở hữu toàn dân là Nhà nước. Khắc phục tồn tại này, Luật đất đai năm 2013 đã làm rõ hơn mối quan hệ giữa chủ sở hữu toàn dân và đại diện chủ sở hữu toàn dân là Nhà nước thông qua các quy định cụ thể sau: Thứ nhất, quy định rõ quyền và trách nhiệm của Nhà nước đối với đất đai. Cụ thể: Một là quyền của Nhà nước với tư cách đại diện chủ sở hữu về đất đai bao gồm các quyền năng cụ thể sau: 1) Quyết định quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất; 2) Quyết định mục đích sử dụng đất; 3) Quy định hạn mức sử dụng đất, thời hạn sử dụng đất; 4) Quyết định thu hồi đất, trưng dụng đất; 5) Quyết định giá đất; 6) Quyết định trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất; 7) Quyết định chính sách tài chính về đất đai; 8) Quy định quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất. Hai là trách nhiệm của Nhà nước đối với đất đai được biểu hiện trên các khía cạnh cụ thể như: 1) Trách nhiệm quản lí nhà nước về đất đai; 2) Bảo đảm của Nhà nước đối với người sử dụng đất; 3) Trách nhiệm của Nhà nước về đất ở, đất sản xuất nông nghiệp đối với đồng bào dân tộc thiểu số; 4) Trách nhiệm của Nhà nước trong việc xây dựng, cung cấp thông tin đất đai. Thứ hai, mặc dù chủ sở hữu toàn dân về đất đai trao quy chế đại diện chủ sở hữu đất đai cho Nhà nước song sở hữu chủ vẫn không mất đi các quyền năng của chủ sở hữu. Điều này có nghĩa là trong quá trình thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu đất đai, Nhà nước vẫn không “thoát li” khỏi sự chi phối của chủ sở hữu toàn dân. Cụ thể; Một là trong quá trình lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải lấy ý kiến đóng góp của nhân dân.(1) Mặt khác, sau khi quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cấp có thẩm quyền xét duyệt, cơ quan nhà nước phải công bố rộng rãi cho công chúng biết.(2) Hai là người dân với tư cách là chủ sở hữu đất đai có quyền giám sát, theo dõi và đánh giá việc quản lí, sử dụng đất đai của các cơ quan nhà nước. Việc giám sát này được thực hiện theo hai hình thức: 1) Giám sát trực tiếp, theo đó công dân trực tiếp thực hiện quyền giám sát thông qua việc phản ánh, gửi đơn kiến nghị đến các cơ quan, người có thẩm quyền giải quyết; 2) Giám sát gián tiếp; theo đó công dân gửi đơn kiến nghị đến các tổ chức đại diện được pháp luật công nhận để các tổ chức này thực hiện việc giám sát. Các tổ chức đại diện bao gồm Quốc hội, hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận.(3) Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi nhận được ý kiến của công dân và tổ chức đại diện cho người dân có trách nhiệm: Kiểm tra, xử lí, trả lời bằng văn bản theo thẩm quyền; chuyển đơn đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để giải quyết trong trường hợp không thuộc thẩm quyền; thông báo kết quả cho tổ chức, cá nhân đã phản ánh.(4) Nếu cơ chế giám sát, theo dõi và đánh giá việc quản lí, sử dụng đất đai thực hiện có hiệu quả sẽ góp phần ngăn ngừa, kiềm chế được sự lạm dụng (tha hoá) quyền lực của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc thực hiện chức năng đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai vì lợi ích nhóm, lợi ích cục bộ. Thứ ba, việc thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân trong quyết định số phận pháp lí của đất đai của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải dựa trên khuôn khổ quy định của pháp luật đất đai. Cụ thể: Một là Luật đất đai năm 2013 quy định cụ thể căn cứ, hình thức, thẩm quyền giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, điều kiện chuyển mục đích sử dụng đất. Theo đó: -       Giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất phải dựa trên căn cứ kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt và nhu cầu sử dụng đất thể hiện trong dự án đầu tư, đơn xin giao đất, thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất.(5) -       Không phải cơ quan nhà nước nào cũng có thẩm quyền giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất mà thẩm quyền này được trao cho uỷ ban nhân dân (UBND) cấp tỉnh và UBND cấp huyện.(6) -       Quy định các trường hợp chuyển mục đích sử dụng đất phải được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.(7) -       Bổ sung quy định về điều kiện giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư, bao gồm: 1) Đối với dự án có sử dụng đất trồng lúa, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng vào các mục đích khác mà không thuộc trường hợp được Quốc hội quyết định, Thủ tướng Chính phủ chấp thuận chủ trương đầu tư thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền chỉ được quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất khi có một trong các văn bản sau đây: Văn bản chấp thuận của Thủ tướng Chính phủ đối với trường hợp chuyển mục đích sử dụng từ 10 ha đất trồng lúa trở lên, từ 20 ha đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng trở lên; nghị quyết của HĐND cấp tỉnh đối với trường hợp chuyển mục đích sử dụng dưới 10 ha đất trồng lúa trở lên, dưới 20 ha đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng; 2) Đối với dự án sử dụng đất tại đảo và xã, phường, thị trấn biên giới, ven biển, cơ quan nhà nước có thẩm quyền chỉ được quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất khi được sự chấp thuận bằng văn bản của các bộ, ngành liên quan; 3) Người được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư phải có các điều kiện sau đây: Có năng lực tài chính để bảo đảm việc sử dụng đất theo tiến độ của dự án đầu tư; kí quỹ theo quy định của pháp luật về đầu tư; không vi phạm quy định của pháp luật về đất đai đối với trường hợp đang sử dụng đất do Nhà nước giao đất, cho thuê đất để thực hiện dự án đầu tư khác. Hai là việc thu hồi đất, trưng dụng đất (thu lại vĩnh viễn hoặc thu lại có thời hạn quyền sử dụng đất đã giao cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân) được thực hiện theo quy định của pháp luật. Theo đó: -       Việc thu hồi đất không áp dụng trong mọi trường hợp có nhu cầu sử dụng đất mà Nhà nước chỉ thu hồi đất trong các trường hợp sau: 1) Thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh;(8) 2) Thu hồi đất để phát triển kinh tế- xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng;(9) 3) Thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai;(10) 4) Thu hồi đất do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật, tự nguyện trả lại đất, có nguy cơ đe dọa tính mạng con người.(11) Đối với việc sử dụng đất để thực hiện dự án, công trình sản xuất, kinh doanh không thuộc trường hợp Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh hoặc thu hồi đất để phát triển kinh tế-xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng mà phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt thì chủ đầu tư được nhận chuyển nhượng, thuê quyền sử dụng đất, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật. -       Việc thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế-xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng phải dựa trên các căn cứ sau: 1) Dự án thuộc các trường hợp thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế-xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng; 2) Kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt; 3) Tiến độ sử dụng đất thực hiện dự án. -       Người bị thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế-xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng được Nhà nước bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo quy định của pháp luật. -       Quy định cụ thể trình tự, thủ tục thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế-xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng.(12) -       Bổ sung quy định về nguyên tắc, điều kiện, thẩm quyền và trình tự cưỡng chế thực hiện quyết định kiểm đếm bắt buộc, cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất nhằm đảm bảo tính uy quyền trong thực thi quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai của Nhà nước; đồng thời bảo hộ quyền sử dụng đất hợp pháp của người sử dụng.(13) -       Không phải cơ quan nhà nước nào cũng có thẩm quyền thu hồi đất mà chỉ có UBND cấp tỉnh và UBND cấp huyện mới có thẩm quyền này.(14) Việc giới hạn thẩm quyền thu hồi đất nhằm ngăn ngừa tình trạng thu hồi đất tràn lan đồng thời ràng buộc trách nhiệm pháp lí của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nếu thực hiện việc thu hồi đất trái pháp luật. -       Sửa đổi, bổ sung quy định về trưng dụng đất, trong đó xác định rõ điều kiện, thẩm quyền, trình tự, thời gian thực hiện việc trưng dụng đất và trách nhiệm bồi thường thiệt hại do việc trưng dụng đất gây ra cho người sử dụng đất.(15) 2. Về vai trò đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai Luật đất đai năm 2003 quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu.(16) Tiếp đó, Luật quy định Nhà nước thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai và thống nhất quản lí nhà nước về đất đai thông qua các cơ quan bao gồm: Quốc hội, Chính phủ, HĐND các cấp và UBND các cấp.(17) Như vậy, trong hệ thống tổ chức nhà nước, các tổ chức sau liên quan đến việc thực hiện chức năng đại diện chủ sở hữu đất đai: Quốc hội, HĐND các cấp; Chính phủ và UBND các cấp. Tuy nhiên, Chính phủ và UBND các cấp không chỉ thực hiện chức năng đại diện chủ sở hữu đất đai mà còn thực hiện chức năng thống nhất quản lí nhà nước về đất đai. Việc Luật đất đai năm 2003 quy định Nhà nước thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai và thống nhất quản lí nhà nước về đất đai trong cùng một điều luật đã không tách bạch vai trò đại diện chủ sở hữu nói chung và chưa minh định giữa chức năng đại diện chủ sở hữu đất đai với chức năng thống nhất quản lí nhà nước về đất đai của Chính phủ và UBND các cấp nói riêng. Điều này dễ dẫn đến tình trạng các cơ quan nhà nước có thẩm quyền lạm quyền, tiêu cực, chuyên quyền độc đoán trong việc quyết định số phận pháp lí của đất đai, tiềm ẩn nguy cơ tham nhũng; đồng thời “làm mờ nhạt” vai trò chủ sở hữu đất đai của toàn dân. Khắc phục tồn tại này, Luật đất đai năm 2013 đã sửa đổi, bổ sung làm rõ hơn vai trò đại diện chủ sở hữu. Theo đó, Luật quy định việc thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu về đất đai của Nhà nước được thực hiện thông qua các cơ quan gồm Quốc hội, HĐND các cấp, Chính phủ và UBND các cấp với định chế rõ ràng hơn, cụ thể hơn về quyền hạn của các cơ quan này. Cụ thể: -       Quốc hội ban hành luật, nghị quyết về đất đai; quyết định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp quốc gia; thực hiện quyền giám sát tối cao đối với việc quản lí và sử dụng đất trong phạm vi cả nước; -       HĐND các cấp thực hiện quyền thông qua quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của địa phương mình trước khi trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt; thông qua bảng giá đất, việc thu hồi đất thực hiện các dự án phát triển kinh tế-xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng của địa phương theo thẩm quyền quy định tại Luật này; giám sát việc thi hành pháp luật về đất đai tại địa phương; -       Chính phủ và UBND các cấp thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu về đất đai theo thẩm quyền quy định tại Luật này. Qua đây, chúng ta có thể nhận thấy rằng vai trò đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai đề cập trong Luật đất đai năm 2013 được xác định cụ thể, rõ ràng hơn chức năng thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu; trong đó, nhấn mạnh vai trò của các cơ quan đại diện (cơ quan dân cử) thay mặt người dân thực hiện quyền năng của chủ sở hữu đối với đất đai. 3. Về quyền hạn, nhiệm vụ của đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai Như phần trên đã đề cập, ở nước ta, vai trò của Nhà nước trong lĩnh vực đất đai được xem xét, đánh giá với ba tư cách: 1) Tư cách đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai; 2) Tư cách thống nhất quản lí đất đai; 3) Tư cách của người sử dụng đất trong từng trường hợp cụ thể. Trong mỗi tư cách, Nhà nước có các quyền hạn và nhiệm vụ không giống nhau. Luật đất đai năm 2003 chưa chế định rõ các quyền và nhiệm vụ của Nhà nước trong từng tư cách này. Luật này quy định quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai với quyền thống nhất quản lí nhà nước về đất đai. Điều này chưa làm nổi bật quyền hạn và trách nhiệm của Nhà nước trong vai trò đại diện chủ sở hữu đất đai dẫn đến trong quá trình quản lí, một số cơ quan nhà nước đã không phân biệt khi nào thì thực hiện các quyền năng đại diện chủ sở hữu, khi nào thực hiện nội dung quản lí nhà nước về đất đai và khi nào thực hiện tư cách của người sử dụng đất trong từng trường hợp cụ thể. Hậu quả là hiệu quả thực thi vai trò đại diện chủ sở hữu đất đai của Nhà nước không như mong muốn. Vì vậy, yêu cầu đặt ra là “cần phải phân định rõ vai trò của Nhà nước trong tư cách “đại diện chủ sở hữu” và trách nhiệm của các tổ chức, đơn vị nhà nước với tư cách là “người sử dụng đất”. Không phân định rõ điều này dễ dẫn đến không tường minh, không bình đẳng trong thực thi quan hệ đất đai”.(18) Khắc phục hạn chế này, Luật đất đai năm 2013 đã có quy định đề cập rõ hơn quyền hạn, nhiệm vụ của Nhà nước dưới khía cạnh thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai. Theo đó, Nhà nước thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu đất đai thể hiện ở 08 quyền năng quy định tại Điều 13, tập trung vào việc phân phối đất đai, quyết định số phận pháp lí của đất đai; đồng thời việc thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu đất đai của Nhà nước phải tuân theo các quy định của pháp luật đất đai hiện hành. 4. Về phân định chức năng đại diện chủ sở hữu với chức năng quản lí nhà nước về đất đai của các cơ quan nhà nước Một trong những nội dung sửa đổi, bổ sung của Luật đất đai năm 2013 là phân định rõ vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện chức năng đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai với chức năng quản lí nhà nước về đất đai. Đây là vấn đề rất quan trọng vì “nếu không phân định và chế định rõ sẽ rất dễ lẫn lộn trong thực hiện các chức năng của Nhà nước về quyền của đại diện chủ sở hữu và quyền quản lí nhà nước về đất đai, trong thực hiện các chính sách và cơ chế quản lí đất đai”.(19) Điều này thể hiện ở Mục 1 Chương II (từ Điều 13 đến Điều 21) quy định quyền của Nhà nước với tư cách đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai và Mục 2 Chương II (từ Điều 22 đến Điều 28) quy định trách nhiệm của Nhà nước trong thống nhất quản lí đất đai. Việc phân định rạch ròi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong chức năng thực hiện vai trò đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai với chức năng quản lí nhà nước về đất đai đem lại các ý nghĩa chủ yếu sau đây: Thứ nhất, như phần trên đã đề cập, không phải bất cứ cơ quan nhà nước nào cũng có thẩm quyền thực hiện vai trò đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai. Ví dụ: Giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất và thu hồi đất; xác định giá đất… là những hoạt động thể hiện quyền của Nhà nước trong việc thực hiện vai trò đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai được pháp luật đất đai quy định thẩm quyền thuộc UBND cấp tỉnh hoặc UBND cấp huyện.(20) Trong khi đó, chức năng quản lí nhà nước về đất đai được pháp luật quy định cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền chung (Chính phủ và UBND các cấp) và cơ quan nhà nước có thẩm quyền riêng (thẩm quyền chuyên môn) gồm: Bộ tài nguyên và môi trường, sở tài nguyên và môi trường, phòng tài nguyên và môi trường và đội ngũ cán bộ địa chính cấp xã thực hiện.(21) Việc quy định rạch ròi giữa vai trò đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai với vai trò quản lí đất đai của Nhà nước sẽ giúp các cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhận diện được phạm vi và thẩm quyền, chức năng, nhiệm vụ của mình trong quản lí đất đai; góp phần ngăn ngừa tình trạng giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất và thu hồi đất… trái thẩm quyền. Thứ hai, Luật đất đai năm 2003 quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lí.(22) Tuy nhiên, trên thực tế việc thực hiện vai trò đại diện chủ sở hữu đất đai và quản lí đất đai lại do các cơ quan nhà nước và cán bộ, công chức  nhà  nước  có  thẩm  quyền  thực  hiện. Như vậy, từ chế định đại diện chủ sở hữu đất đai do một pháp nhân công (Nhà nước) đã chuyển giao cho một tổ chức, cá nhân cụ thể (cơ quan nhà nước, công chức nhà nước có thẩm quyền) thực hiện. Quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai trong giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất và thu hồi đất v.v do cơ quan nhà nước thực hiện trên cơ sở quy định của pháp luật đất đai. Song trong quá trình quản lí, các cơ quan quản lí nhà nước về đất đai nhiều khi tự cho mình có những quyền năng đại diện chủ sở hữu trong việc quyết định số phận pháp lí của đất đai thông qua hoạt động giao đất, cho thuê đất và thu hồi đất v.v. Điều này làm nảy sinh tình trạng giao đất, cho thuê đất và thu hồi đất không đúng pháp luật hoặc vượt quá thẩm quyền. Khắc phục tình trạng này, Luật đất đai năm 2013 đã quy định rõ quyền của Nhà nước đối với đất đai và trách nhiệm của Nhà nước đối với đất đai. Hơn nữa, việc minh định quyền của Nhà nước đối với đất đai và trách nhiệm của Nhà nước đối với đất đai trong Luật đất đai năm 2013 còn thể hiện nguyên tắc bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong lĩnh vực đất đai. Theo đó, không chỉ các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất được pháp luật cho hưởng quyền và phải thực hiện nghĩa vụ pháp lí mà Nhà nước cho dù với tư cách đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai cũng có quyền và trách nhiệm đối với đất đai. Điều này thể hiện sự đối xử bình đẳng giữa các chủ thể trong quan hệ đất đai, không phân biệt đó là người sử dụng đất hay người đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai. Ở khía cạnh khác, Nhà nước không phải là chủ sở hữu đất đai mà chỉ là đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai. Nhà nước thực hiện vai trò đại diện chủ sở hữu đất đai dựa trên các quy định của pháp luật đồng thời Nhà nước thực hiện chức năng quản lí đất đai. Việc thực hiện song hành hai chức năng này của Nhà nước dựa trên bản chất dân chủ nhân dân của Nhà nước ta và là một tổ chức do nhân dân lao động thiết lập nên thay mặt xã hội quản lí đất đai vì lợi ích chung. Do vậy, Nhà nước phải ý thức được bổn phận và trách nhiệm của mình đối với đất đai để làm tròn sứ mạng mà nhân dân giao phó./. Nguyễn Quang Tuyến[1]   [1] Tiến sĩ luật học, phó giáo sư Trường Đại học Luật Hà Nội  (1).Xem: Điều 43 Luật đất đai năm 2013.   (2).Xem: Điều 48 Luật đất đai năm 2013.   (3).Xem: Điều 198, Điều 199 Luật đất đai năm 2013.   (4).Xem: Khoản 5 Điều 199 Luật đất đai năm 2013.   (5).Xem: Điều 52 Luật đất đai năm 2013.   (6).Xem: Điều 59 Luật đất đai năm 2013.   (7).Xem: Điều 57 Luật đất đai năm 2013.   (8).Xem: Điều 61 Luật đất đai năm 2013.   (9).Xem: Điều 62 Luật đất đai năm 2013. (10).Xem: Điều 64 Luật đất đai năm 2013. (11).Xem: Điều 65 Luật đất đai năm 2013. (12).Xem: Điều 69 Luật đất đai năm 2013.   (13).Xem: Điều 70, Điều 71 Luật đất đai năm 2013. (14).Xem: Điều 66 Luật đất đai năm 2013. (15).Xem: Điều 72 Luật đất đai năm 2013. (16).Xem: Khoản 1 Điều 5 Luật đai năm 2003. (17).Xem: Điều 7 Luật đất đai năm 2003.   (18).Xem: PGS.TS. Trần Quốc Toản (chủ biên), Đổi mới quan hệ sở hữu đất đai - Lí luận và thực tiễn, Nxb. Chính trị quốc gia-Sự thật, Hà Nội, 2013, tr. 245. (19).Xem: PGS.TS. Trần Quốc Toản (chủ biên), sđd, tr. 256.   (20).Xem: Điều 59, Điều 66, Điều 114 Luật đất đai năm 2013.   (21).Xem: Điều 23, Điều 24, Điều 25 Luật đất đai năm 2013.   (22).Xem: Điều 5 Luật đất đai năm 2003.  
1. Khái quát về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất 1.1. Khái niệm quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất “Quy hoạch”, “kế hoạch sử dụng đất” là những thuật ngữ được sử dụng phổ biến trong Luật đất đai năm 1993, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đất đai năm 1998 và năm 2001, Luật đất đai năm 2003. Tuy nhiên, chỉ đến khi Luật đất đai năm 2013 được ban hành, những thuật ngữ này mới được giải thích một cách chính thức và cụ thể tại Điều 3, theo đó: “Quy hoạch sử dụng đất là việc phân bổ và khoanh vùng đất đai theo không gian sử dụng cho các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội, quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường và thích ứng biến đổi khí hậu trên cơ sở tiềm năng đất đai và nhu cầu sử dụng đất của các ngành, lĩnh vực đối với từng vùng kinh tế-xã hội và đơn vị hành chính trong một khoảng thời gian xác định”;(1) “kế hoạch sử dụng đất là việc phân chia quy hoạch sử dụng đất theo thời gian để thực hiện trong kì quy hoạch sử dụng đất”.(2) “Quy hoạch”, “kế hoạch sử dụng đất” là những thuật ngữ thường đi kèm với nhau. Chúng được sử dụng để biểu đạt một trong những phương thức thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai của Nhà nước cũng như một trong những phương thức quản lí nhà nước đối với đất đai. Song về bản chất, giữa hai thuật ngữ này cũng có một số điểm khác biệt chủ yếu sau đây: Thứ nhất, quy hoạch sử dụng đất ra đời trước và kế hoạch sử dụng đất ra đời sau. Điều này có nghĩa là quy hoạch sử dụng đất được xây dựng trước. Sau đó, dựa trên quy hoạch sử dụng đất, cơ quan nhà nước có thẩm quyền mới xây dựng kế hoạch sử dụng đất. Thứ hai, quy hoạch sử dụng đất thường mang tính dài hạn. Kì quy hoạch sử dụng đất là 10 năm.(3) Trong khi đó, kế hoạch sử dụng đất mang tính ngắn hạn hơn, thường là 5 năm hoặc hàng năm.(4) Thứ ba, quy hoạch sử dụng đất mang tính vĩ mô. Quy hoạch sử dụng đất là sự định hướng chiến lược cho công tác quản lí và sử dụng đất trong tương lai, thể hiện ở việc phân bổ và khoanh vùng đất đai theo không gian sử dụng cho các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội, an ninh-quốc phòng, bảo vệ môi trường v.v.. Trong khi đó, kế hoạch sử dụng đất lại mang tính cụ thể với thời gian xác định, thể hiện ở việc phân chia quy hoạch sử dụng đất theo thời gian để thực hiện. 1.2. Vai trò, ý nghĩa của quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất Vai trò, ý nghĩa của quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được thể hiện trên các khía cạnh cơ bản sau đây: Thứ nhất, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất  là  một  trong  những  phương  thức  thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai của Nhà nước.(5) Chỉ Nhà nước với tư cách đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai mới có quyền quyết định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nhằm phân bổ và khoanh vùng đất đai theo không gian sử dụng cho các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội; an ninh-quốc phòng; bảo vệ môi trường… Điều này có nghĩa là thông qua quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, Nhà nước xác định mục đích sử dụng cụ thể cho từng loại đất, đáp ứng các nhu cầu sử dụng đất khác nhau trong xã hội.(6) Thứ hai, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là một trong những nguyên tắc sử dụng đất,(7) nó định hướng cho việc sử dụng đất phù hợp với các mục tiêu phát triển của đất nước hoặc ở mỗi địa phương, ngăn ngừa tình trạng sử dụng đất đai bừa bãi, lãng phí và kém hiệu quả. Ngoài ra, thông qua quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, đất đai trở thành nguồn lực quan trọng, nguồn vốn to lớn để phát triển đất nước. Thứ ba, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cùng với quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội, quy hoạch không gian vùng, quy hoạch xây dựng và quy hoạch đô thị… tạo thành hệ thống quy hoạch đồng bộ, thống nhất, phục vụ cho việc thực hiện kế hoạch kinh tế-xã hội 5 năm của cả nước và từng địa phương. Điều này có nghĩa là quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất góp phần thực hiện các chỉ tiêu phát triển kinh tế-xã hội trong 5 năm của cả nước và ở từng địa phương. 2. Những sửa đổi, bổ sung về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong Luật đất đai năm 2013 Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được quy định tại Chương IV Luật đất đai năm 2013, bao gồm 17 điều (từ Điều 35 đến Điều 51). Tìm hiểu nội dung các quy định về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong Luật đất đai năm 2013, đặt trong mối quan hệ so sánh, đối chiếu với những quy định về vấn đề này của Luật đất đai năm 2003 cho thấy có một số sửa đổi, bổ sung chủ yếu sau đây: Thứ nhất, về hệ thống quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất So với Luật đất đai năm 2003, Luật đất đai năm 2013 bổ sung quy định hệ thống quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất bao gồm: 1) Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp quốc gia; 2) Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp tỉnh; 3) Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp huyện; 4) Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất quốc phòng; 5) Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất an ninh.(8) Việc bổ sung này nhằm tạo sự thống nhất và tính kết nối giữa quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp quốc gia; quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp tỉnh; quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp huyện với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất quốc phòng-an ninh. Ngoài ra, Luật đất đai năm 2013 đã lược bỏ quy định về quy hoạch sử dụng đất chi tiết đến từng thửa của các xã không nằm trong quy hoạch phát triển đô thị. Theo đó, nội dung sử dụng đất của cấp xã được thể hiện trong quy hoạch sử dụng đất cấp huyện. Điều này có nghĩa là UBND cấp huyện lập quy hoạch sử dụng đất của cấp huyện thì đồng thời lập cả quy hoạch sử dụng đất của cấp xã. Việc sửa đổi quy định này xuất phát từ lí do cơ bản sau đây: Việc lập quy hoạch sử dụng đất chi tiết đến từng thửa là công việc đòi hỏi tính chuyên môn, kỹ thuật, nghiệp vụ cao. Điều này đòi hỏi người lập quy hoạch sử dụng đất phải là người am hiểu sâu sắc về chuyên môn, kĩ thuật, nghiệp vụ của quy hoạch sử dụng đất. Tuy nhiên trên thực tế, đội ngũ cán bộ cấp xã nói chung và cán bộ địa chính cấp xã nói riêng hầu như không có đủ năng lực, kiến thức và trình độ chuyên môn về quy hoạch sử dụng đất, vì vậy không thể thực hiện được công việc này hoặc thực hiện không có hiệu quả. Hơn nữa, để thực hiện việc lập quy hoạch sử dụng đất chi tiết đến từng thửa đòi hỏi nguồn kinh phí lớn, lên đến hàng tỉ đồng mà năng lực tài chính của cấp xã không đáp ứng được. Thứ hai, về nguyên tắc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất Trong Luật đất đai năm 2013, nguyên tắc này được quy định tại Điều 35 với những sửa đổi, bổ sung như sau: Một là bổ sung một trong những nguyên tắc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đó là: “Quy hoạch sử dụng đất cấp quốc gia phải đảm bảo tính đặc thù, liên kết của các vùng kinh tế-xã hội; quy hoạch sử dụng đất cấp huyện phải thể hiện nội dung sử dụng đất của cấp xã”.(9) Đây là bổ sung quan trọng bởi lẽ thực tiễn thi hành các quy định về quy hoạch sử dụng đất của Luật đất đai năm 2003 cho thấy các địa phương lập quy hoạch sử dụng đất nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng đất và phù hợp với điều kiện đặc thù của địa phương mình. Do thiếu tính liên kết giữa các vùng, địa phương nên khó tránh khỏi tính bình quân trong quy hoạch sử dụng đất, mà điều dễ nhận thấy nhất là việc quy hoạch khu công nghiệp. Hiện nay, ở tất cả các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đều xây dựng khu công nghiệp. Tuy nhiên, không phải ở tỉnh nào khu công nghiệp cũng có tỉ lệ “lấp đầy” đạt 100%. Có không ít khu công nghiệp ở các tỉnh do không có lợi thế về điều kiện tự nhiên như xa các trung tâm kinh tế lớn, xa cảng biển, ga đường sắt, trình độ dân trí thấp, hệ thống cơ sở hạ tầng kĩ thuật và hạ tầng xã hội nghèo nàn, thiếu đồng bộ v.v. nên tỉ lệ “lấp đầy” các khu công nghiệp đạt thấp, phần lớn đất đai tại đây bị bỏ hoang, hoá. Như vậy, có thể thấy “… quy hoạch sử dụng đất được lập theo đơn vị hành chính không đảm bảo tính kết nối liên vùng, không phát huy được thế mạnh của từng vùng và bảo đảm sự phát triển hài hoà giữa các vùng; quy hoạch sử dụng đất chưa thực hiện phân vùng chức năng sử dụng đất theo không gian mà mới chỉ chú ý đến việc phân bổ các chỉ tiêu loại đất”.(10) Việc bổ sung nguyên tắc này trong lập quy hoạch sử dụng đất sẽ đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ của quy hoạch sử dụng đất cấp quốc gia đồng thời phát huy được những lợi thế, tiềm năng, thế mạnh đặc thù của mỗi địa phương và khắc phục tình trạng lập quy hoạch sử dụng đất theo kiểu “phong trào”, không chú trọng đến yếu tố hiệu quả kinh tế trong sử dụng đất đai. Hai là bổ sung quy định việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất phải đảm bảo một trong những nguyên tắc là không chỉ khai thác hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường mà còn đáp ứng đòi hỏi của thích ứng với biến đổi khí hậu (11). Một trong những thách thức mà hiện nay nhân loại đang phải đối mặt, đó là biến đổi khí hậu trên phạm vi toàn cầu. Theo đánh giá của các chuyên gia môi trường thì Việt Nam là một trong 5 nước chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của việc biến đổi khí hậu. Để đối phó với biến đổi khí hậu, nước ta đã xây dựng kịch bản về vấn đề này. Việc phòng, chống biến đổi khí hậu có ý nghĩa lớn về chính trị, kinh tế-xã hội, an ninh-quốc phòng và bảo vệ môi trường, vì vậy Việt Nam không chỉ chuẩn bị các điều kiện vật chất, phương tiện, con người… mà còn phải quy hoạch quỹ đất cần thiết để đáp ứng nhu cầu của quá trình này. Ba là bổ sung nguyên tắc bảo đảm ưu tiên quỹ đất cho mục đích quốc phòng-an ninh, phục vụ lợi ích quốc gia, công cộng, an ninh lương thực và bảo vệ môi trường trong lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.(12) Sử dụng đất vào mục đích quốc phòng, an ninh, phục vụ lợi ích quốc gia, công cộng, an ninh lương thực và bảo vệ môi trường mang lại lợi ích thiết thực và giá trị xã hội to lớn cho cộng đồng. Vì vậy, việc bổ sung nguyên tắc này trong lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là cần thiết và dễ nhận được sự đồng thuận của xã hội. Bốn là bổ sung nguyên tắc “quy hoạch, kế hoạch của ngành, lĩnh vực, địa phương có sử dụng đất phải bảo đảm phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định, xét duyệt”(13) trong lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nhằm đảm bảo tính thống nhất, tương thích giữa quy hoạch sử dụng đất của cấp dưới với quy hoạch sử dụng đất của cấp trên; giữa quy hoạch sử dụng đất của các ngành với quy hoạch sử dụng đất của các địa phương và giữa quy hoạch sử dụng đất của địa phương với quy hoạch sử dụng đất của trung ương. Thứ ba, nếu như Luật đất đai năm 2003 có hai điều luật quy định chung về căn cứ để lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất (Điều 22) và quy định chung về nội dung quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất (Điều 23) thì Luật đất đai năm 2013 quy định căn cứ lập quy hoạch sử dụng đất và nội dung quy hoạch sử dụng đất; căn cứ lập kế hoạch sử dụng đất và nội dung kế hoạch sử dụng đất của từng cấp quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất ở từng điều luật cụ thể. Theo đó, Điều 38 quy định căn cứ lập quy hoạch sử dụng đất và nội dung quy hoạch sử dụng đất; căn cứ lập kế hoạch sử dụng đất và nội dung kế hoạch sử dụng đất cấp quốc gia;(14) Điều 39 quy định căn cứ lập quy hoạch sử dụng đất và nội dung quy hoạch sử dụng đất; căn cứ lập kế hoạch sử dụng đất và nội dung kế hoạch sử dụng đất cấp tỉnh;(15) Điều 40 quy định căn cứ lập quy hoạch sử dụng đất và nội dung quy hoạch sử dụng đất; căn cứ lập kế hoạch sử dụng đất và nội dung kế hoạch sử dụng đất cấp huyện;(16) Điều 41 quy định căn cứ lập quy hoạch sử dụng đất và nội dung quy hoạch sử dụng đất; căn cứ lập kế hoạch sử dụng đất và nội dung kế hoạch sử dụng đất quốc phòng-an ninh.(17) Quy định này của Luật đất đai năm 2013 mang tính khoa học hơn và thể hiện được một số đặc thù trong căn cứ, nội dung quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất giữa các cấp quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; đồng thời khắc phục tình trạng “Luật còn quy định chung về nguyên tắc, căn cứ và nội dung quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cho các cấp, do đó chưa thể hiện tính vĩ mô, định hướng của quy hoạch cấp trên và tính chi tiết, cụ thể của quy hoạch cấp dưới”.(18) Ngoài ra, khi so sánh giữa Luật đất đai năm 2003 và Luật đất đai năm 2013 về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất giữa các cấp lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, chúng ta có thể thấy một số điểm khác biệt như sau: Một là theo Luật đất đai năm 2013, một trong những căn cứ lập quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh, cấp huyện và quy hoạch sử dụng đất quốc phòng-an ninh là dựa vào định mức sử dụng đất. Tuy nhiên, nội dung này không phải là một trong những căn cứ lập quy hoạch sử dụng đất cấp quốc gia. Hai là trong Luật đất đai năm 2013, một trong những nội dung của quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh, cấp huyện và quy hoạch sử dụng đất quốc phòng-an ninh là xác định các khu vực sử dụng đất theo chức năng sử dụng hoặc xác định các khu vực sử dụng đất theo chức năng sử dụng đến từng đơn vị hành chính cấp xã hoặc xác định nhu cầu sử dụng đất quốc phòng-an ninh trong kì quy hoạch sử dụng đất phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội, quốc phòng-an ninh và kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của quốc gia. Trong khi đó, nội dung của quy hoạch sử dụng đất cấp quốc gia lại không có vấn đề này. Ba là một trong những nội dung của quy hoạch sử dụng đất cấp quốc gia là xác định các chỉ tiêu sử dụng đất đối với nhóm đất nông nghiệp, nhóm đất phi nông nghiệp và nhóm đất chưa sử dụng. Trong khi đó, một trong những nội dung quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh đề cập là việc xác định diện tích các loại đất đã được phân bổ trong quy hoạch sử dụng đất cấp quốc gia và diện tích các loại đất theo nhu cầu sử dụng đất cấp tỉnh; nội dung của quy hoạch sử dụng đất cấp huyện đề cập là việc xác định diện tích các loại đất đã được phân bổ trong quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh và diện tích các loại đất theo nhu cầu sử dụng đất của cấp huyện và cấp xã; nội dung của quy hoạch sử dụng đất quốc phòng-an ninh đề cập là xác định nhu cầu sử dụng đất quốc phòng-an ninh trong kì quy hoạch sử dụng đất phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội, quốc phòng-an ninh và kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của quốc gia. Điều này cho thấy sự khác biệt giữa nội dung quy hoạch sử dụng đất cấp quốc gia với nội dung quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh, cấp huyện và quy hoạch sử dụng đất quốc phòng-an ninh. Quy hoạch sử dụng đất cấp quốc gia hướng đến việc xác định chỉ tiêu sử dụng đất đối với các loại đất (mang tính vĩ mô); quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh, cấp huyện và quy hoạch sử dụng đất quốc phòng-an ninh tập trung vào việc xác định diện tích các loại đất đã được phân bổ trong quy hoạch sử dụng đất cấp quốc gia hoặc trong quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh và diện tích các loại đất theo nhu cầu của cấp tỉnh, của cấp huyện và cấp xã. Bốn là điểm đáng chú ý của Luật đất đai năm 2013 về quy hoạch sử dụng đất là quy định đối với quận có quy hoạch đô thị đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt thì không lập quy hoạch sử dụng đất nhưng phải lập kế hoạch sử dụng đất hàng năm. Trường hợp quy hoạch đô thị của quận không phù hợp với diện tích đã được phân bổ trong quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh thì phải điều chỉnh quy hoạch đô thị cho phù hợp với quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh.(19) Quy định này góp phần đảm bảo tính bền vững, tránh gây xáo trộn của quy hoạch đô thị đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt, đồng thời tiết kiệm kinh phí sử dụng vào việc xây dựng quy hoạch sử dụng đất trong bối cảnh quy hoạch đô thị của UBND quận đã được cấp có thẩm quyền xét duyệt và triển khai thực hiện. Thứ tư, Luật đất đai năm 2013 sửa đổi, bổ sung quy định về kì kế hoạch sử dụng đất cấp huyện. Luật  đất  đai năm 2003 quy định kì kế hoạch sử dụng đất của cả nước, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, huyện quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, xã, phường, thị trấn là 5 năm.(20) Trong Luật đất đai năm 2013, quy định này được sửa đổi như sau: “Kì kế hoạch sử dụng đất cấp quốc gia, cấp tỉnh và kì kế hoạch sử dụng đất quốc phòng, đất an ninh là 05 năm. Kế hoạch sử dụng đất cấp huyện lập hàng năm”.(21) Điều này nhằm nâng cao tính khả thi của kì kế hoạch sử dụng đất do UBND cấp huyện lập. Thứ năm, bên cạnh việc kế thừa nội dung của Luật đất đai năm 2003 về trách nhiệm tổ chức lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của Chính phủ, UBND cấp tỉnh, UBND cấp huyện, Luật đất đai năm 2013 bổ sung quy định Bộ tài nguyên và môi trường chủ trì giúp Chính phủ trong việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp quốc gia; cơ quan quản lí đất đai cấp tỉnh, cấp huyện chủ trì giúp UBND cùng cấp trong việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.(22) Điều này góp phần tăng cường trách nhiệm của cơ quan quản lí đất đai các cấp trong việc giúp Chính phủ và UBND các cấp thực hiện quản lí nhà nước về đất đai. Thứ sáu, Luật đất đai năm 2013 bổ sung quy định về lấy ý kiến về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trực tiếp tác động đến việc sử dụng đất của người dân và tiềm ẩn nguy cơ làm đảo lộn cuộc sống, sản xuất của họ; bởi lẽ, do quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là cơ sở để Nhà nước phân định mục đích sử dụng đất, chuyển  đổi mục  đích sử  dụng đất.  Vì vậy, để đảm bảo việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất phù hợp với mong muốn, lợi ích hợp pháp của người dân qua đó tạo sự đồng thuận xã hội, pháp luật đất đai đề cập nội dung lấy ý kiến đóng góp của nhân dân trong lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Tuy nhiên, Luật đất đai năm 2003 quy định vấn đề này trong một khoản (khoản 5 Điều 25), với phạm vi lấy ý kiến đóng góp hạn chế, đó là chỉ thực hiện đối với quy hoạch sử dụng đất của xã không nằm trong khu vực quy hoạch phát triển đô thị được lập chi tiết gắn với thửa đất. Trong Luật đất đai năm 2013, nội dung này được quy định thành điều luật riêng (Điều 45) và việc lấy ý kiến được thực hiện ở tất cả hệ thống quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, với quy định cụ thể về hình thức, nội dung và thời hạn lấy ý kiến nhân dân. Điều này cho thấy Nhà nước rất coi trọng việc tham vấn ý kiến người dân trong quá trình lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nhằm nâng cao tính khả thi của quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, đồng thời tạo cơ sở pháp lí xác lập trách nhiệm của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc tham vấn ý kiến của người dân khi lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Thứ bảy, để đảm bảo việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất mang tính khoa học, tính thống nhất, tính hợp lí và tính khả thi, Luật đất đai năm 2013 bổ sung quy định về thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất với những nội dung như sau: Một là Thủ tướng Chính phủ thành lập hội đồng thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp quốc gia. Bộ tài nguyên và môi trường có trách nhiệm giúp hội đồng thẩm định trong quá trình thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Hai là Bộ trưởng Bộ tài nguyên và môi trường thành lập hội đồng thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất quốc phòng-an ninh và quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp tỉnh. Cơ quan quản lí đất đai ở trung ương có trách nhiệm giúp hội đồng thẩm định trong quá trình thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Ba là chủ tịch UBND cấp tỉnh thành lập hội đồng thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp huyện. Cơ quan quản lí đất đai cấp tỉnh, cấp huyện có trách nhiệm giúp hội đồng thẩm định trong quá trình thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Bốn là nội dung thẩm định quy hoạch sử dụng đất bao gồm: 1) Cơ sở pháp lí, cơ sở khoa học của việc lập quy hoạch sử dụng đất; 2) Mức độ phù hợp của phương án quy hoạch sử dụng đất với chiến lược, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội, quốc phòng-an ninh của quốc gia và địa phương; quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực; 3) Hiệu quả kinh tế-xã hội, môi trường; 4) Tính khả thi của phương án quy hoạch sử dụng đất. Năm là nội dung thẩm định kế hoạch sử dụng đất bao gồm: 1) Mức độ phù hợp của kế hoạch sử dụng đất với quy hoạch sử dụng đất; 2) Mức độ phù hợp của kế hoạch sử dụng đất với kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội; 3) Tính khả thi của kế hoạch sử dụng đất. Thứ tám, Luật đất đai năm 2013 bổ sung quy định về tư vấn lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, theo đó: 1) Trong quá trình lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, cơ quan chịu trách nhiệm chủ trì việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được thuê tư vấn lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; 2) Chính phủ quy định điều kiện của tổ chức, cá nhân hoạt động tư vấn lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Như vậy, việc bổ sung quy định về tư vấn lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất sẽ giúp tháo gỡ khó khăn cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi thực hiện việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Thứ chín, Luật đất đai năm 2013 sửa đổi, bổ sung quy định về công bố công khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Luật đất đai năm 2013 quy định cụ thể hơn trách nhiệm công bố công khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất (Điều 48). Đây là một trong những giải pháp nhằm đảm bảo tính công khai, minh bạch trong lĩnh vực đất đai, đảm bảo sự bình đẳng trong tiếp cận thông tin đất đai. Thứ mười, về thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, Luật đất đai năm 2013 có những sửa đổi, bổ sung như sau: Một là Luật đất đai năm 2013 bổ sung nội dung Thủ tướng Chính phủ phân bổ chỉ tiêu sử dụng đất cho các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Bộ quốc phòng, Bộ công an trên cơ sở các chỉ tiêu sử dụng đất cấp quốc gia đã được Quốc hội quyết định. Hai là trường hợp quy hoạch sử dụng đất đã được công bố mà chưa có kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện thì người sử dụng đất được tiếp tục sử dụng và được thực hiện các quyền của người sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Trường hợp đã có kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện thì người sử dụng đất trong khu vực phải chuyển mục đích sử dụng đất và thu hồi đất theo kế hoạch, được tiếp tục thực hiện các quyền của người sử dụng đất nhưng không được xây dựng mới nhà ở, công trình, trồng cây lâu năm. Nếu người sử dụng đất có nhu cầu cải tạo, sửa chữa nhà ở, công trình hiện có thì phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép theo quy định của pháp luật. Điều này tạo cơ sở pháp lí để người sử dụng đất được thực hiện các quyền do pháp luật đất đai quy định. Ba là diện tích đất ghi trong kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện đã được công bố phải thu hồi để thực hiện dự án hoặc phải chuyển mục đích sử dụng đất mà sau 3 năm chưa có quyết định thu hồi đất hoặc chưa được phép chuyển mục đích sử dụng đất thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt kế hoạch sử dụng đất phải điều chỉnh, huỷ bỏ và phải công bố việc điều chỉnh, huỷ bỏ việc thu hồi hoặc chuyển mục đích đối với phần diện tích đất ghi trong kế hoạch sử dụng đất. Trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt kế hoạch sử dụng đất không điều chỉnh, huỷ bỏ hoặc có điều chỉnh, huỷ bỏ nhưng không công bố việc điều chỉnh, huỷ bỏ thì người sử dụng đất không bị hạn chế về quyền của người sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Đây là sửa đổi, bổ sung quan trọng nhằm xử lí tình trạng quy hoạch sử dụng đất “treo” đã tồn tại trong nhiều năm qua ở nước ta, gây khó khăn cho quá trình sử dụng đất của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong khu vực quy hoạch, đồng thời nâng cao tính khả thi đối với việc thực hiện quyền của người sử dụng đất được ghi nhận trong pháp luật đất đai hiện hành. Bốn là khi kết thúc kì quy hoạch sử dụng đất mà các chỉ tiêu quy hoạch sử dụng đất chưa thực hiện hết thì vẫn được tiếp tục thực hiện đến khi quy hoạch sử dụng đất kì tiếp theo được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định, phê duyệt. Thứ mười một, Luật đất đai năm 2013 bổ sung quy định về báo cáo thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Theo đó, đề cập trách nhiệm báo cáo hàng năm về kết quả thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của các cơ quan nhà nước; báo cáo kết quả thực hiện kế hoạch sử dụng đất hàng năm đối với năm cuối của kế hoạch sử dụng đất kì đầu phải kèm theo báo cáo tổng hợp việc thực hiện cả kì kế hoạch sử dụng đất; báo cáo kết quả thực hiện kế hoạch sử dụng đất hàng năm đối với năm cuối của kì quy hoạch sử dụng đất phải kèm theo báo cáo tổng hợp việc thực hiện cả kế hoạch sử dụng đất kì cuối và báo cáo tổng hợp việc thực hiện cả kì quy hoạch sử dụng đất. Điều này góp phần đề cao trách nhiệm của các cấp, ngành và địa phương trong việc tổ chức thực hiện nghiêm chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt. Thứ mười hai, Luật đất đai năm 2013 bổ sung quy định về giải quyết phát sinh về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất sau khi Luật đất đai năm 2013 có hiệu lực thi hành(23)./.  ĐỖ VIỆT CƯỜNG[1] [1] Thạc sĩ luật học, Khoa luật, Trường đại học kinh tế, Đại học Đà Nẵng (1).Xem: Khoản 2 Điều 3 Luật đất đai năm 2013.   (2).Xem: Khoản 3 Điều 3 Luật đất đai năm 2013.   (3).Xem: Khoản 1 Điều 37 Luật đất đai năm 2013.   (4). ì kế hoạch sử dụng đất cấp quốc gia, cấp tỉnh và kì kế hoạch sử dụng đất quốc phòng, an ninh là 5 năm. ế hoạch sử dụng đất cấp huyện được lập hàng năm (khoản 2 Điều 37 Luật đất đai năm 2013).   (5).Xem: Khoản 1 Điều 13 Luật đất đai năm 2013.   (6). Nhà nước quyết định mục đích sử dụng đất thông qua quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất và cho phép chuyển mục đích sử dụng đất (Điều 14 Luật   đất đai năm 2013).   (7). Đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và đúng mục đích sử dụng đất (khoản 1 Điều 6 Luật đất đai năm 2013).   (8).Xem: Điều 36 Luật đất đai năm 2013.   (9).Xem: Khoản 2 Điều 35 Luật đất đai năm 2013. (10). Đến cuối năm 2011 đã có 11 quy hoạch xây dựng vùng liên tỉnh được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, 9 quy hoạch xây dựng vùng dọc theo các tuyến đường cao tốc đang lập. Xem: Bộ tài nguyên và môi trường, Báo cáo số 193/BC-BTNMT về tổng k ết tình hình thi hành Luật đất đai 2003 và định hướng sửa đổi Luật đất đai, ngày 06/9/2012, tr. 14.   (11).Xem: Khoản 4 Điều 35 Luật đất đai năm 2013. (12).Xem: Khoản 7 Điều 35 Luật đất đai năm 2013. (13).Xem: Khoản 8 Điều 35 Luật đất đai năm 2013. (14).Xem: Điều 38 Luật đất đai năm 2013.   (15).Xem: Điều 39 Luật đất đai năm 2013. (16).Xem: Điều 40 Luật đất đai năm 2013. (17).Xem: Điều 41 Luật đất đai năm 2013.   (18).Xem: Bộ tài nguyên và môi trường, tlđd, tr.15. (19).Xem: Khoản 5 Điều 40 Luật đất đai năm 2013. (20).Xem: Khoản 2 Điều 24 Luật đất đai năm 2003. (21).Xem: Khoản 2 Điều 37 Luật đất đai năm 2013. (22).Xem: Điều 42 Luật đất đai năm 2013. (23).Xem: Điều 51 Luật đất đai năm 2013.    
1. Thực trạng về bảo vệ quyền làm mẹ trong pháp luật lao động và bảo hiểm xã hội 1.1. Bảo vệ quyền làm mẹ cho lao động nữ trong pháp luật lao động Lao động nữ được xác định là đối tượng thuộc nhóm lao động đặc thù. Do đó, pháp luật lao động có những quy định riêng nhằm đảm bảo sự công bằng, bình đẳng cho lao động nữ trên cơ sở có tính đến những yếu tố khác biệt về sức khoẻ, trách nhiệm xã hội cũng như thiên chức riêng của lao động nữ. Bảo vệ quyền làm mẹ của phụ nữ trong đời sống hiện đại luôn gắn với môi trường lao động để người phụ nữ có được những điều kiện cần thiết trong việc thực hiện vai trò của mình. Bộ luật lao động năm 2012 (BLLĐ) đặc biệt chú trọng, quan tâm đến quyền thiêng liêng đó của người phụ nữ bằng việc dành riêng một chương (Chương X) quy định về lao động nữ nhằm hướng tới việc đảm bảo điều kiện, môi trường làm việc cho lao động nữ gắn với quyền làm mẹ thông qua việc xác định chính sách của Nhà nước, trách nhiệm, nghĩa vụ của người sử dụng lao động (NSDLĐ) và các quyền của lao động nữ khi mang thai, sinh con. Thứ nhất, về việc làm Điều 160 BLLĐ quy định không được sử dụng lao động nữ đối với công việc có ảnh hưởng xấu đến chức năng sinh đẻ và nuôi con theo danh mục do Bộ lao động, thương binh và xã hội phối hợp với Bộ y tế ban hành; công việc phải ngâm mình thường xuyên dưới nước; công việc làm thường xuyên dưới hầm mỏ. Việc xác định những công việc này đã giới hạn phạm vi công việc sử dụng lao động nữ nhằm hướng tới sự bảo vệ lao động nữ cho việc thực hiện chức năng làm mẹ. Từ góc độ tiếp cận bảo vệ lao động nữ, đây là quy định đảm bảo sự công bằng được quy định không chỉ trong pháp luật quốc tế mà pháp luật của hầu hết các quốc gia. Trong trường hợp lao động nữ đang thực hiện công việc nặng nhọc, độc hại thì từ khi mang thai tháng thứ 7 sẽ được chuyển làm công việc nhẹ nhàng hơn hoặc được giảm bớt 1 giờ làm việc mà vẫn hưởng đủ lương (khoản 2 Điều 155 BLLĐ). Chủ sử dụng lao động không được sử dụng lao động nữ làm việc vào ban đêm, làm thêm giờ đối với lao động nữ mang thai từ tháng thứ 7 hoặc từ tháng thứ 6 nếu làm việc ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo và đối tượng đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi. Khi lao động nữ mang thai và đặc biệt là sinh con họ phải cần khoảng thời gian nghỉ ngơi nhất định để thực hiện chức năng sinh đẻ và hồi phục, tái tạo sức lao động. Thực tế cho thấy sau khi nghỉ sinh con, nguy cơ mất việc làm của lao động nữ dễ xảy ra. NSDLĐ cần người thay thế vị trí làm việc của lao động nữ nghỉ thai sản để duy trì và ổn định sản xuất, kinh doanh. Trong khi đó, khi lao động nữ quay trở lại làm việc họ thường mất khoảng thời gian nhất định mới bắt nhịp được với công việc mà trước đây họ đã làm, khó khăn này càng đẩy nguy cơ mất việc làm của lao động nữ sau khi sinh cao hơn. Vì vậy, Điều 158 BLLĐ quy định lao động nữ được đảm bảo việc làm cũ khi trở lại làm việc sau khi hết thời gian nghỉ sinh con (dù nghỉ 6 tháng theo giới hạn của quy định pháp luật hoặc nghỉ thêm); trường hợp việc làm cũ không còn thì NSDLĐ phải bố trí việc làm khác cho họ với mức lương không thấp hơn mức lương trước khi nghỉ thai sản. Thứ hai, về quyền tạm hoãn, đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của lao động nữ mang thai Nhằm bảo vệ sức khoẻ cho lao động nữ trong trường hợp lao động nữ có thai phải nghỉ việc theo chỉ định của thầy thuốc, Điều 156 BLLĐ quy định: “Lao động nữ mang thai nếu có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền chứng nhận tiếp tục làm việc sẽ ảnh hưởng xấu tới thai nhi có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hoặc tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động…”. Bên cạnh đó, để tránh trường hợp NSDLĐ chấm dứt hợp đồng lao động vì những lí do liên quan đến thực hiện thiên chức của lao động nữ khiến lao động nữ mất việc làm, khoản 3 Điều 155 BLLĐ cũng quy định NSDLĐ không được sa thải hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với lao động nữ vì lí do kết hôn, mang thai, nghỉ thai sản, nuôi con dưới 12 tháng tuổi. Tuy nhiên trên thực tế, nhiều NSDLĐ cố tình thực hiện trái quy định pháp luật với những cách thức tinh vi, dấu hiệu không rõ ràng, khó xác định và xử lí như không kí hợp đồng lao động như: Kí hợp đồng ngắn hạn đối với lao động nữ để dễ dàng chấm dứt hợp đồng lao động, nhất là sau khi lao động nữ nghỉ thai sản; hoặc kí hợp đồng với những điều khoản bất lợi cho lao động nữ, đặc biệt khi họ có thai, sinh con. Tình trạng doanh nghiệp vi phạm quy định về hợp đồng lao động đối với lao động nữ xảy ra khá nhiều. Theo kết quả khảo sát tại bốn tỉnh Quảng Nam, Phú Yên, Bình Định, Khánh Hoà năm 2011 có tới 80% số doanh nghiệp vi phạm. Riêng tỉnh Khánh Hoà có khoảng 20.000 lao động làm việc từ 3 tháng trở lên nhưng chưa được kí hợp đồng lao động, trong đó có đến 80% là lao động nữ.(1)   Thứ ba, về bảo hộ lao động, an toàn và vệ sinh lao động Để đảm bảo sức khoẻ cho lao động nữ, khoản 3 Điều 154 BLLĐ quy định tại đơn vị làm việc, NSDLĐ phải bảo đảm có đủ buồng tắm và buồng vệ sinh phù hợp cho lao động nữ. Đây là quy định bắt buộc đối với bất kì doanh nghiệp nào có sử dụng lao động nữ. Việc cấm sử dụng lao động nữ làm công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các chất độc hại có ảnh hưởng xấu đến chức năng sinh đẻ và nuôi con theo danh mục(2) cũng được quy định nhằm đảm bảo quyền làm mẹ cho lao động nữ. Bên cạnh đó, quy định các tiêu chí về tiếng ồn, độ rung, nóng, bụi,… để đảm bảo môi trường làm việc an toàn, vệ sinh. Thực tế cho thấy ở Việt Nam, việc đảm bảo môi trường làm việc đối với NLĐ nói chung và lao động nữ nói riêng còn rất nhiều hạn chế. Theo thống kê của Tổng liên đoàn lao động Việt Nam, năm 2011 có khoảng 56.2% lao động nữ làm việc trong môi trường tiếng ồn, rung, 55% làm việc trong môi trường nóng, bụi, 24.6% làm việc trong môi trường có  chất  độc, 12.9% công việc nặng nhọc,  trong đó có những công việc cấm lao động nữ..(3) Hơn 50% doanh nghiệp không có buồng tắm riêng, chỗ thay quần áo cho lao động nữ, các điều kiện tối thiểu nhất như nhà vệ sinh, buồng thay quần áo, nhà tắm dành cho nữ đều còn rất hạn chế, thiếu nước sạch.(4) NSDLĐ có trách nhiệm đóng bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế cho NLĐ theo quy định pháp luật BHXH, pháp luật bảo hiểm y tế. Hướng tới việc đảm bảo điều kiện làm việc nhằm bảo vệ quyền làm mẹ của lao động nữ, pháp luật hiện hành cũng quy định nghĩa vụ của NSDLĐ trong việc giúp đỡ, hỗ trợ xây dựng nhà trẻ, lớp mẫu giáo hoặc một phần chi phí gửi trẻ, mẫu giáo cho lao động nữ (khoản 4 Điều 154 BLLĐ). Thực hiện theo quy định của pháp luật, nhiều đơn vị, địa phương đã có những hình thức đa dạng hoá công tác chăm lo nhà trẻ, mẫu giáo cho lao động nữ làm việc tại các khu công nghiệp. Điển hình như ở Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Dương có nơi đã tổ chức thành công mô hình công đoàn cơ sở cùng doanh nghiệp xây dựng và quản lí nhà trẻ, mẫu giáo cho con của nữ công nhân, lao động.(5) Thứ tư, về thời gian làm việc, thời gian nghỉ ngơi Điều 155 BLLĐ quy định rõ NSDLĐ không được sử dụng lao động nữ mang thai từ tháng thứ 7 (hoặc từ tháng thứ 6 nếu làm việc ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo) hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi làm việc ban đêm, làm thêm giờ và đi công tác xa. Đồng thời, pháp luật cũng quy định về thời gian nghỉ ngơi của lao động nữ ngoài những quy định chung đối với NLĐ: “Lao động nữ trong thời gian hành kinh được nghỉ mỗi ngày 30 phút; trong thời gian nuôi con dưới 12 tháng tuổi, được nghỉ mỗi ngày 60 phút trong thời gian làm việc. Thời gian nghỉ vẫn được hưởng đủ tiền lương theo hợp đồng lao động”. Trên thực tế, tình trạng vi phạm quy định về thời giờ làm việc và thời giờ nghỉ ngơi diễn ra phổ biến đối với lao động nữ. Theo khảo sát của Tổng liên đoàn lao động Việt Nam, năm 2011 thành phố Hà Nội có trên 60% số lao động nữ phải làm thêm quá 4 giờ/ngày. Quy định cho NLĐ nữ nghỉ mỗi ngày 30 phút hầu như không được thực hiện trên thực tế, không trả lương cho lao động nữ trong thời gian này nếu họ không nghỉ. Quy định nghỉ mỗi ngày 60 phút đối với lao động nữ trong thời gian nuôi con dưới 12 tháng tuổi hầu như ít được thực hiện, đặc biệt ở các doanh nghiệp tổ chức sản xuất theo dây chuyền.(6) Một nội dung quan trọng thể hiện việc bảo vệ quyền làm mẹ đối với lao động nữ đó là việc quy định NLĐ nữ được nghỉ thai sản (Điều 157 BLLĐ). Theo đó, khi mang thai hoặc thực hiện các biện pháp tránh thai hoặc chăm sóc con ốm, lao động nữ được nghỉ trong khoảng thời gian nhất định tuỳ từng trường hợp. Chủ sử dụng lao động phải có trách nhiệm tạo điều kiện đảm bảo quyền nghỉ ngơi cho lao động nữ trong trường hợp này. Đối với trường hợp sinh con, thời gian lao động nữ được nghỉ trước và sau khi sinh con là 6 tháng; trường hợp sinh đôi trở lên, mỗi con người mẹ được nghỉ thêm 1 tháng. Trong thời gian này, lao động nữ được hưởng chế độ thai sản theo quy định pháp luật BHXH. Nhằm bảo vệ quyền làm mẹ với những trường hợp có nhu cầu nghỉ thêm ngoài thời gian luật định, pháp luật cũng cho phép lao động nữ có thể nghỉ thêm một thời gian không hưởng lương theo thoả thuận với NSDLĐ. Quy định này đã tạo điều kiện cho những lao động nữ sức khoẻ yếu sau khi sinh hoặc con yếu có thêm thời gian nghỉ, chăm sóc con. Lao động nữ có thể xin nghỉ không hưởng lương mà không bị giới hạn thời gian miễn là được sự đồng ý của chủ sử dụng lao động. Ngược lại, luật cũng cho phép lao động nữ đi làm trở lại trước thời hạn nghỉ thai sản nếu có nhu cầu song có kèm những điều kiện nhằm đảm bảo sức khoẻ cho người mẹ như phải có xác nhận của cơ quan y tế về việc đi làm sớm trở lại không có hại cho sức khoẻ NLĐ và ít nhất lao động nữ đã nghỉ 4 tháng. Trong trường hợp này, ngoài tiền lương do chủ sử dụng lao động trả, lao động nữ vẫn được hưởng trợ cấp thai sản theo quy định. Thứ năm, về xử lí kỉ luật đối với lao động nữ trong thời gian mang thai, sinh con, nuôi con nhỏ Pháp luật lao động quy định NSDLĐ không được phép xử lí kỉ luật lao động nữ trong thời gian họ thực hiện chức năng sinh đẻ và nuôi con, không được sa thải lao động nữ vì lí do liên quan đến thiên chức làm vợ, làm mẹ của họ. Theo đó, dù NLĐ nữ có hành vi vi phạm kỉ luật, kể cả đến mức phải bị “sa thải” thì trong thời gian mang thai, nghỉ hưởng chế độ khi sinh con, nuôi con dưới 12 tháng tuổi, lao động nữ cũng không bị xử lí kỉ luật. Khi hết thời gian quy định trên mà thời hiệu xử lí kỉ luật đã hết thì NSDLĐ được kéo dài thời hiệu xử lí kỉ luật lao động nhưng tối đa không quá 60 ngày kể từ ngày hết thời gian.   1.2. Bảo vệ quyền làm mẹ trong pháp luật BHXH Khi tham gia quan hệ lao động, NSDLĐ và NLĐ phải tham gia BHXH bắt buộc (trong phạm vi áp dụng); theo đó NLĐ phải trích đến 8% thu nhập của mình, NSDLĐ phải đóng 18% quỹ tiền lương của người tham gia bảo hiểm cho cơ quan bảo hiểm để hưởng các chế độ trợ cấp theo quy định. Mức đóng góp này không có sự phân biệt giữa lao động nam và lao động nữ nhằm tương trợ cộng đồng, chia sẻ rủi ro. Nói cách khác, bảo vệ quyền làm mẹ trong pháp luật BHXH xác định nghĩa vụ đối với cả lao động nam và nữ song việc hưởng thụ được chủ yếu xác định đối với lao động nữ và thực hiện chủ yếu qua chế độ hưởng bảo hiểm thai sản và chế độ nghỉ chăm sóc con ốm. Thứ nhất, về chế độ nghỉ để chăm sóc con ốm Chế độ bảo hiểm đối với NLĐ nữ chăm sóc con ốm ra đời cùng với sự ra đời của BHXH. Quan niệm lúc đầu là người phụ nữ phải chịu trách nhiệm chính trong việc chăm sóc con và xem chế độ này như là sự ưu tiên đặc biệt đối với lao động nữ. Vì vậy, về nguyên tắc chung, đối tượng hưởng bảo hiểm chỉ bao gồm những người mẹ nghỉ việc để chăm sóc con ốm và chỉ trong những trường hợp đặc biệt như mẹ chết, con ở với bố do mẹ đi công tác… thì việc trợ cấp mới có thể được thực hiện cho người bố. Về sau, các quan niệm này đã thay đổi, chế độ bảo hiểm chăm sóc con ốm được áp dụng chung cho cả lao động nam và nữ. Tuy nhiên trên thực tế, khi con ốm đau, hầu hết lao động nữ (người mẹ) là người được ưu tiên nghỉ việc để chăm sóc con ốm. -   Về điều kiện hưởng: Khoản 2 Điều 22 Luật BHXH quy định để được hưởng trở cấp khi nghỉ việc để chăm sóc con ốm đau, NLĐ phải thoả mãn 2 điều kiện: 1) Có con (con đẻ, con nuôi hợp pháp, con ngoài giá thú được pháp luật công nhận) dưới 7 tuổi bị ốm đau; 2) NLĐ phải nghỉ việc để chăm sóc con và có xác nhận của cơ sở y tế. Trường hợp cả cha và mẹ cùng tham gia BHXH, nếu một người đã hết thời hạn hưởng chế độ mà con vẫn ốm đau thì người kia được hưởng chế độ theo quy định. -   Về thời gian nghỉ, thời gian hưởng bảo hiểm: Thời gian nghỉ khi NLĐ chăm sóc con ốm được tính theo ngày làm việc và phụ thuộc vào độ tuổi của con ốm. Theo quy định tại Điều 24 Luật BHXH, NLĐ được nghỉ việc, hưởng bảo hiểm tối đa 20 ngày/năm nếu con dưới 3 tuổi và tối đa 15 ngày/năm nếu con từ đủ 3 tuổi đến 7 tuổi. Trường hợp cả cha và mẹ cùng tham gia BHXH, nếu một người đã hết thời hạn hưởng chế độ mà con vẫn ốm đau thì người kia được hưởng chế độ theo quy định với thời gian như trên. Nhìn  chung,  khoảng thời gian pháp  luật cho phép lao động nữ nghỉ việc để chăm sóc con ốm như trên là phù hợp. Tuy nhiên, thực tế cho thấy với những trường hợp trẻ bị mắc các bệnh cần điều trị dài ngày (bệnh tim, bệnh lao phổi,…) thì khoảng thời gian này là quá ngắn. Đối với trường hợp NLĐ bị ốm đau, pháp luật cũng đã chia làm hai loại thời gian nghỉ đó là trường hợp ốm đau thông thường và trường hợp mắc các bệnh cần điều trị dài ngày. Nên chăng pháp luật cũng quy định về thời gian nghỉ của NLĐ khi chăm sóc con mắc các bệnh cần điều trị dài ngày cho thật hợp lí để đảm bảo chế độ này thực sự có ý nghĩa trong đời sống của NLĐ, đặc biệt là lao động nữ trong việc bảo vệ quyền làm mẹ. - Về mức hưởng: Mức trợ cấp bảo hiểm khi nghỉ việc để chăm sóc con ốm được quy định cụ thể tại khoản 1 Điều 25 Luật BHXH. Theo đó, mức trợ cấp đối với NLĐ trong trường hợp nghỉ việc chăm sóc con ốm đau bằng 75% mức tiền lương làm căn cứ đóng BHXH của NLĐ trước khi nghỉ việc. Như vậy, có thể thấy các quy định về bảo hiểm ốm đau đối với NLĐ nữ đều hướng tới mục đích tạo điều kiện cho người mẹ có thời gian chăm sóc con cái tốt hơn và trong thời gian nghỉ việc để chăm sóc con ốm, NLĐ vẫn có trợ cấp để trang trải cuộc sống gia đình. Luật BHXH đã có nhiều quy định tiến bộ so với các quy định trước như: Lao động nữ được hưởng trợ cấp khi nghỉ chăm sóc con ốm chỉ cần có con dưới 7 tuổi ốm đau mà không phân biệt gia đình có bao nhiêu con và con thứ mấy; tách chế độ bảo hiểm đối với lao động nữ khi thực hiện các biện pháp kế hoạch hoá gia đình khỏi chế độ ốm đau và đưa những quy định về chế độ này sang chế độ bảo hiểm thai sản. Về cơ bản, các quy định trong Luật BHXH về chế độ nghỉ để chăm sóc con ốm là hợp lí và mang lại ý nghĩa thiết thực cho lao động nữ. Năm 2011, BHXH đã lần lượt giải quyết chế độ trợ cấp ốm đau cho khoảng 2,24 triệu lao động nữ, tăng 8,5% so với năm 2010.(7) Thứ hai, về chế độ bảo hiểm thai sản -  Đối  tượng  hưởng:  Theo  quy  định tại Điều 27 Luật BHXH và Nghị định của Chính phủ số 152/2006/NĐ-CP ngày 22/12/2007 hướng dẫn một số điều của Luật BHXH về bảo hiểm bắt buộc, đối tượng hưởng bảo hiểm thai sản gồm những người hưởng lương từ ngân sách nhà nước (như cán bộ, công nhân viên chức nhà nước, công nhân quốc phòng, công an nhân dân…) và những người hưởng lương theo hợp đồng lao động (với hợp đồng không xác định thời hạn và hợp đồng có thời hạn từ 3 tháng trở lên) theo quy định của BLLĐ. Trong quá trình thực thi chế độ bảo hiểm thai sản, số lao động nữ tham gia BHXH và được hưởng bảo hiểm thai sản ngày càng tăng cho thấy chế độ này đã và đang bảo vệ tốt quyền làm mẹ của lao động nữ. Số tiền chi trả hàng năm và số lượt hưởng bảo hiểm thai sản tăng đều. Nếu như trước năm 1997, bảo hiểm thai sản trợ cấp với số tiền là 125 tỉ đồng thì năm 1998 là 160 tỉ đồng, năm 2000 là 190 tỉ đồng.(8) Số lao động nữ tham gia BHXH năm 2011 là 5,037 triệu người, tăng 3,36% so với năm 2010. Trong đó, BHXH đã giải quyết chế độ thai sản cho 875.000 lượt người, tăng 28,15% so với năm 2010.(9) Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, chế độ bảo hiểm thai sản nói riêng và BHXH nói chung vẫn chưa có độ bao phủ cao, chưa bảo vệ được những đối tượng làm công việc không ổn định, làm việc theo hợp đồng dưới 3 tháng. Riêng chế độ thai sản chỉ áp dụng đối với bảo hiểm bắt buộc mà không có sự nới rộng cho các đối tượng được phép tham gia bảo hiểm tự nguyện. Pháp luật cũng chưa đề cập trường hợp lao động nam cũng được hưởng chế độ chăm sóc vợ, con khi người vợ sinh con, nuôi con nuôi hoặc thực hiện các biện pháp kế hoạch hoá gia đình mặc dù quy định đối tượng tham gia chế độ thai sản gồm cả nam và nữ với mức đóng vào quỹ này là như nhau. Bên cạnh đó, trên thực tế, đối tượng hưởng bảo hiểm thai sản chủ yếu vẫn là công chức, quân nhân và lao động ở khu vực nhà nước (chiếm khoảng 80% số người tham gia BHXH) còn tỉ lệ lao động khu vực tư nhân tham gia và hưởng bảo hiểm thai sản vẫn còn khá hạn chế. - Điều kiện hưởng: Theo quy định tại Điều 28 Luật BHXH, khoản 1 Điều 14 Nghị định của Chính phủ số 152/2006/NĐ-CP và phần II Mục B Thông tư của Bộ lao động, thương binh và xã hội số 03/2007/TT-BLĐTBXH(10) để được hưởng chế độ bảo hiểm thai sản, những đối tượng hưởng phải đáp ứng các điều kiện: 1) Tham gia đóng BHXH bắt buộc; 2) Phải thuộc một trong các trường hợp: Lao động nữ mang thai, sẩy thai, nạo, hút thai hoặc thai chết lưu; lao động nữ sinh con; NLĐ nhận nuôi con nuôi dưới 4 tháng tuổi; NLĐ đặt vòng tránh thai, thực hiện các biện pháp triệt sản. Riêng đối với trường hợp lao động nữ sinh con và NLĐ nhận nuôi con sơ sinh phải đóng BHXH từ đủ 6 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi sơ sinh.(11) Như vậy, pháp luật đã quy định khá chặt chẽ về điều kiện hưởng chế độ thai sản đối với lao động nữ sinh con và nhận nuôi con nuôi dưới 4 tháng tuổi, khắc phục được tình trạng lạm dụng để hưởng chế độ. Tuy nhiên, quy định này cũng còn bất hợp lí ở chỗ: Trường hợp NLĐ nữ đã nhiều năm đóng BHXH nhưng khi mang thai do thai không bình thường phải nghỉ dưỡng thai dài ngày hoặc do đơn vị khó khăn phải ngừng việc dài ngày thì không đủ điều kiện về thời gian như trên để hưởng chế độ thai sản khi sinh con, trong khi quá trình tham gia BHXH của họ lâu năm hơn NLĐ mới chỉ tham gia BHXH đủ 6 tháng trong thời gian 12 tháng trước khi nghỉ sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi dưới 4 tháng tuổi. Ngoài ra, khoản 2 Điều 28 Luật BHXH cũng chưa quy định cụ thể việc NLĐ phải đóng BHXH đủ 6 tháng liên tục hay chỉ cần 6 tháng cộng dồn trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi thì được hưởng chế độ thai sản. Ngoài yêu  cầu  về  điều  kiện  nội  dung, NLĐ nữ cũng phải đáp ứng yêu cầu về thủ tục để được hưởng bảo hiểm thai sản. Cụ thể, trong thời gian mang thai, lao động nữ phải có phiếu khám thai, có giấy xác nhận đối với người mang thai bệnh lí, thai không bình thường, sảy thai, thai chết lưu của cơ sở y tế có thẩm quyền. Khi sinh con, lao động nữ phải có giấy chứng sinh hoặc bản sao giấy khai sinh của con. Trong trường hợp sau khi sinh con mà con bị chết thì phải có giấy xác nhận của uỷ ban nhân dân cấp xã hoặc cơ sở y tế nơi sinh (nơi đăng kí hộ khẩu thường trú); nếu đã khai sinh mà con chết hoặc trường hợp mẹ chết thì phải có giấy chứng tử, giấy xác nhận của NSDLĐ về điều kiện làm việc đối với NLĐ làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm,… - Về thời gian nghỉ hưởng chế độ bảo hiểm thai sản: Thời gian hưởng chế độ khi khám thai được quy định tại Điều 29 Luật BHXH. Theo đó, trong thời gian mang thai, lao động nữ được nghỉ việc để đi khám thai 5 lần, mỗi lần 1 ngày; trường hợp ở xa cơ sở y tế hoặc người mang thai có bệnh lí hoặc thai không bình thường thì được nghỉ 2 ngày cho mỗi lần khám thai, không bao gồm ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hàng tuần. Quy định này phù hợp với quy định của Tổ chức lao động thế giới (ILO) và Tổ chức y tế thế giới (quy định người mẹ phải khám thai tối thiểu 5 lần). Tuy nhiên, thời gian mỗi lần khám thai chỉ 2 ngày đối với trường hợp ở xa cơ sở y tế như vậy là chưa hợp lí, không đủ thời gian để lao động nữ thực hiện các thủ tục cần thiết vì thời gian đi lại, nghỉ ngơi, đặc biệt là đối với các cán bộ, công chức, viên chức công tác tại vùng sâu, vùng xa rất khó khăn và tốn thời gian. Thời gian hưởng chế độ nạo, hút, sảy thai hoặc thai chết lưu được quy định tại Điều 30 Luật BHXH. Sảy thai, nạo, hút thai hoặc thai chết lưu gây ảnh hưởng rất lớn đến thể chất cũng như tinh thần của người phụ nữ. Để giúp NLĐ nữ nhanh chóng phục hồi sức khoẻ, sớm ổn định nhịp sinh học của cơ thể, pháp luật hiện hành quy định thời gian nghỉ phụ thuộc vào tuổi thai; theo đó, thai nhi càng lớn thì việc ảnh hưởng đến người mẹ càng nhiều, vì thế thời gian phục hồi sức khoẻ lâu hơn. Cụ thể, NLĐ nữ được nghỉ việc hưởng trợ cấp 10 ngày nếu thai dưới 1 tháng, 20 ngày nếu thai từ 1 tháng đến dưới 3 tháng, 40 ngày nếu thai từ 3 tháng đến dưới 6 tháng, 50 ngày nếu thai từ 6 tháng trở lên. Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản khi sảy thai, nạo, hút thai hoặc thai chết lưu tính cả ngày nghỉ lễ, nghỉ tết và ngày nghỉ hàng tuần. Thời gian hưởng chế độ khi sinh con được quy định tại Điều 31 Luật BHXH. Theo đó, NLĐ nữ khi sinh con được hưởng chế độ thai sản là 4 tháng nếu làm nghề hoặc công việc trong điều kiện lao động bình thường, 5 tháng nếu làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm. Tuy nhiên, BLLĐ năm 2012 có hiệu lực từ ngày 01/5/2013 quy định lao động nữ được nghỉ trước và sau khi sinh là 6 tháng, với thời gian nghỉ trước khi sinh tối đa không quá 2 tháng (Điều 157). Trường hợp lao động nữ sinh đôi trở lên thì tính từ con thứ 2 trở đi, cứ mỗi con, người mẹ được nghỉ thêm 1 tháng. Điều 157 cũng quy định hết thời gian nghỉ thai sản theo quy định, lao động nữ có thể nghỉ thêm một thời gian không hưởng lương theo thoả thuận với NSDLĐ. Như vậy, với thời hạn nghỉ sinh con được kéo dài, người phụ nữ sẽ có điều kiện để làm tốt quyền làm mẹ của mình, đảm bảo cho sự khoẻ mạnh của cả người mẹ và trẻ em. Mặt khác, lao động nữ cũng có thể đi làm trước thời hạn nghỉ sinh con theo quy định của Điều 157 BLLĐ năm 2012 với điều kiện có xác nhận của cơ sở khám, chữa bệnh có thẩm quyền về việc đi làm sớm không có hại cho sức khoẻ của NLĐ và được NSDLĐ đồng ý; lao động nữ có thể trở lại làm việc khi đã nghỉ ít nhất 4 tháng. Tuy nhiên, quy định này của BLLĐ dù mới được sửa đổi nhưng vẫn còn điểm chưa hợp lí. Luật đã khống chế thời gian nghỉ trước khi sinh của lao động nữ là không quá 2 tháng và phải nghỉ hưởng chế độ ít nhất 4 tháng nên chăng cần xoá bỏ quy định về điều kiện phải có xác nhận của cơ sở y tế về việc đi làm sớm không có hại cho sức khoẻ của NLĐ. Đối với trường hợp sinh xong mà người mẹ chết thì theo quy định tại Mục II Thông tư số 03/2007/TT-BLĐTBXH, người cha hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng sẽ được hưởng chế độ thai sản. Cụ thể, nếu chỉ có mẹ tham gia BHXH thì cha hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng được hưởng chế độ thai sản của mẹ cho đến khi con đủ 4 tháng tuổi; nếu cả cha và mẹ đều tham gia BHXH hoặc chỉ có cha tham gia BHXH thì cha nghỉ việc chăm sóc con được hưởng chế độ thai sản cho đến khi con đủ 4 tháng. Thời gian hưởng chế độ khi nhận nuôi con nuôi được quy định cụ thể tại Điều 34 Luật BHXH, theo đó NLĐ nam hay nữ nhận nuôi con nuôi dưới 4 tháng tuổi được nghỉ việc hưởng trợ cấp thai sản cho đến khi con đủ 4 tháng tuổi và pháp luật không khống chế số con nuôi sơ sinh. Theo quy định tại Điều 33 Luật BHXH, NLĐ nữ khi đặt vòng tránh thai được nghỉ việc 7 ngày, khi thực hiện các biện pháp triệt sản được nghỉ 15 ngày, tính cả ngày nghỉ, nghỉ tết và ngày nghỉ hàng tuần. Ngoài thời gian nghỉ ở các trường hợp trên, Điều 37 Luật BHXH còn quy định lao động nữ chưa phục hồi sức khoẻ sau thời gian hưởng chế độ bị sảy thai, nạo, hút thai hoặc thai chết lưu, sinh con thì được nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ. Thời gian nghỉ từ 5 ngày đến 10 ngày trên một lần trong một năm tính cả ngày nghỉ lễ, nghỉ tết, nghỉ hàng tuần, ngày đi và về nếu nghỉ tại cơ sở tập trung, do NSDLĐ và Ban chấp hành công đoàn cơ sở quyết định. - Về mức bảo hiểm thai sản: Có hai loại trợ cấp là trợ cấp thay lương và trợ cấp một lần, tuỳ từng trường hợp mà NLĐ được hưởng một hoặc cả hai loại trợ cấp này. Trợ cấp thay lương là khoản tiền do cơ quan BHXH trả cho NLĐ trong thời gian nghỉ hưởng thai sản nhằm giữ cân bằng về thu nhập, giúp NLĐ đảm bảo cuộc sống, từ đó giúp họ nhanh chóng phục hồi sức khoẻ và ổn định tâm sinh lí. Theo Điều 35 Luật BHXH, mức hưởng chế độ thai sản là 100% mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH của 6 tháng liền kề trước khi nghỉ việc. Trường hợp NLĐ đóng BHXH chưa đủ 6 tháng thì mức hưởng chế độ thai sản khi khám thai, sảy thai, nạo hút thai hoặc thai chết lưu, thực hiện các biện pháp tránh thai là mức bình quân tiền lương, tiền công tháng của các tháng đã đóng BHXH. Trợ cấp một lần là khoản trợ cấp mà quỹ BHXH trả cho NLĐ khi sinh con hoặc nhận nuôi con dưới 4 tháng tuổi cùng với khoản trợ cấp thay lương. Khoản trợ cấp này ra đời với mục đích giúp NLĐ đủ điều kiện vật chất để nuôi con vì khi sinh con, nhận nuôi con nuôi sơ sinh, NLĐ cần phải sắm sửa những vật dụng cần thiết cho việc nuôi con nhỏ nên chi phí tăng lên đột xuất. Như vậy, pháp luật đã rất “ưu ái” trong việc bảo vệ quyền làm mẹ của NLĐ nữ. Tuy nhiên, trên thực tế, việc chi trả mức trợ cấp không đúng với ý nghĩa của Luật bởi tiền lương, tiền công đóng BHXH quy định là tiền lương danh nghĩa (không phải thu nhập lương), tiền lương này thường chỉ bằng 50% thu nhập lương. Do vậy, khi lao động nữ nghỉ thai sản thì thu nhập bị giảm khá nhiều so với thu nhập khi làm việc, trong khi lúc này NLĐ cần rất nhiều khoản chi phí. Bên cạnh đó, việc nợ lương của NSDLĐ đang rất phổ biến, tạo ra sự thất thu khá lớn cho quỹ bảo hiểm thai sản nói riêng và quỹ BHXH nói chung đồng thời hạn chế quyền hưởng bảo hiểm thai sản của các lao động nữ. Tính riêng năm 2010, nợ đọng BHXH diễn ra ở hầu hết các địa phương trong cả nước, chủ yếu ở khu vực doanh nghiệp với số tiền là 1.723 tỉ đồng, bằng 3,4% số phải thu.(12) Các doanh nghiệp thường xảy ra tình trạng không nộp BHXH đúng thời hạn theo quy định hoặc chậm nộp để nợ kéo dài. Nhiều doanh nghiệp khai báo số lao động tham gia BHXH còn thấp so với số lao động thực tế đơn vị sử dụng, không đóng bảo hiểm cho nhân viên. Ngoài ra, doanh nghiệp chỉ kí hợp đồng với NLĐ theo thời vụ hoặc dưới 3 tháng nhằm tránh sự kiểm soát của cơ quan chức năng, thậm chí có đơn vị sử dụng lao động chỉ đăng kí BHXH cho NLĐ với mức lương thấp hơn so với mức lương thực tế. Ví dụ điển hình là Công ti trách nhiệm hữu hạn công nghiệp TS-ARITS (khu công nghiệp Khai Quang, Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc) với 100% vốn Hàn Quốc, hoạt động từ năm 2002 với trên 400 công nhân trong đó, 60 - 70% là lao độngnữ. Do hoạt động không hiệu quả, năm 2009, công ti bị phá sản, chủ doanh nghiệp bỏ trốn với món nợ BHXH đã thu từ công nhân trên 2,8 tỉ đồng và NLĐ bị mất việc làm. Trong giai đoạn từ 2007 - 2009 có hơn 100 nữ công nhân lao động sinh con nhưng do công ti nợ BHXH nên mọi chế độ thai sản của họ không được cơ quan chức năng chi trả. Cho đến năm 2011, khi Công ti hoàn tất mọi thủ tục phá sản và trả nợ cho BHXH tỉnh, BHXH của công nhân tại công ti trước đây bị nợ đọng đã được chốt sổ và trợ cấp thai sản cho nữ lao động đã làm việc tại doanh nghiệp trong thời gian từ 2007 - 2009 mới được chi trả.(13)   2. Một số kiến nghị nhằm đảm bảo quyền làm mẹ trong pháp luật lao động và bảo hiểm xã hội 2.1. Hoàn thiện pháp luật lao động nhằm đảm bảo quyền làm mẹ Thứ nhất, cần ban hành văn bản cụ thể hoá, giải thích, hướng dẫn thực hiện BLLĐ năm 2012 nhằm giúp việc hiểu và áp dụng pháp luật, đặc biệt là quy định về lao động nữ được dễ dàng, chính xác bởi một số quy định về lao động nữ của BLLĐ còn mang tính chất nguyên tắc và chưa rõ ràng. Cụ thể: Một là quy định cụ thể, rõ ràng những trường hợp xác định là “thời giờ làm việc có hưởng lương”, trong đó cần bao gồm những trường hợp: 1) Thời gian nghỉ mỗi ngày 60 phút đối với lao động nữ nuôi con dưới 12 tháng tuổi và 2) Thời giờ nghỉ ngơi mỗi ngày 30 phút đối với NLĐ nữ trong thời gian hành kinh. Hai là quy định về việc xử lí vi phạm trong lĩnh vực lao động, cụ thể là xử phạt vi phạm hành chính, trong đó có những quy định cụ thể về xử lí vi phạm đối với lao động nữ như: Hợp đồng lao động với những điều khoản bất lợi, hạn chế quyền làm mẹ, làm vợ của NLĐ nữ; hành vi không nhận lại NLĐ trở lại làm việc sau khi hết thời hạn tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động vì lí do “NLĐ nữ có thai phải nghỉ việc theo chỉ dẫn của thầy thuốc”… Thứ hai, cần nâng cao các biện pháp nhằm thực thi hiệu quả quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền làm mẹ của lao động nữ. Cụ thể: Một là đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giới thiệu các nội dung mới của BLLĐ nói chung và quy định pháp luật về lao động nữ nói riêng nhằm đảm bảo quyền làm mẹ của lao động nữ. Có thể thấy, tuyên truyền pháp luật là một trong những biện pháp hữu hiệu nhất để nâng cao ý thức pháp luật cho NLĐ và NSDLĐ. Hiện nay, mức độ hiểu biết pháp luật lao động của lao động nữ còn hạn chế. Do đó, họ không nắm được quyền lợi của mình để đòi hỏi hoặc không biết cách đòi lại quyền lợi cho mình khi bị xâm hại. Vì vậy, công tác tuyên truyền là biện pháp quan trọng, cơ bản để NLĐ, đặc biệt là lao động nữ tự có ý thức và có khả năng bảo vệ bản thân, trong đó có quyền làm mẹ. Hoạt động tuyên truyền có thể thực hiện qua nhiều cách thức khác nhau như tuyên truyền khi họ học tập ở các trung tâm đào tạo nghề, trung tâm giới thiệu việc làm; tuyên truyền qua phương tiện thông tin đại chúng; tổ chức các chuyên mục tư vấn, giải đáp thắc mắc về pháp luật cho lao động nữ… Hai là nâng cao vai trò của công đoàn cơ sở trong việc bảo vệ lao động nữ về quyền làm mẹ. Công đoàn là tổ chức đại diện bảo vệ quyền lợi hợp pháp của NLĐ. Tuy nhiên, ở nước ta hiện nay, tổ chức công đoàn còn yếu và hoạt động thiên về phúc lợi, vai trò bảo vệ lợi ích kinh tế, quyền lợi của NLĐ tại nơi làm việc chưa thực sự được chú trọng. Do đó, cần đổi mới, hoàn thiện phương thức hoạt động của tổ chức công đoàn và có sự thắt chặt mối liên kết giữa các cấp công đoàn nhằm thực hiện một cách hiệu quả nhất việc đại diện và bảo vệ lợi ích của NLĐ, trong đó có lao động nữ. Ba là đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra và xử phạt vi phạm pháp luật về lao động nữ trong nhiệm vụ bảo vệ quyền làm mẹ của đối tượng này. Cần ban hành quy chế kiểm tra, đánh giá trình độ của thanh tra viên lao động và có kế hoạch bồi dưỡng, đào tạo trình độ chuyên môn cho họ. Xây dựng các quy định cụ thể và thống nhất về trình tự thanh tra, ban hành quy chế kiểm tra, đánh giá chất lượng thanh tra viên định kì và có chế tài xử lí nghiêm khắc đối với những thanh tra viên vi phạm. Thường xuyên tiến hành kiểm tra tình hình thực hiện BLLĐ nói chung, các quy định về lao động nói riêng, đặc biệt là lao động nữ tại các địa phương, tập đoàn, tổng công ti, doanh nghiệp để kịp thời phát hiện và chấn chỉnh các vi phạm.   2.2. Hoàn thiện pháp luật bảo hiểm xã hội nhằm bảo vệ quyền làm mẹ Thứ nhất, hoàn thiện quy định pháp luật về BHXH ốm đau và thai sản. Một là về chế độ bảo hiểm ốm đau: Cần bổ sung quy định về thời gian nghỉ chăm sóc con ốm đối với trường hợp trẻ bị mắc các bệnh cần điều trị dài ngày căn cứ vào yêu cầu điều trị. Việc tính toán đưa ra những giới hạn nhất định đối với khoảng thời gian này là cần thiết dựa trên sự đóng góp ý kiến của cơ quan BHXH và cơ quan y tế. Hai là về chế độ bảo hiểm thai sản: Cần bổ sung quy định về đối tượng được hưởng chế độ bảo hiểm thai sản. Cụ thể, trong trường hợp người vợ sinh mà cả hai vợ chồng cùng đóng BHXH thì có thể quy định người chồng cũng được nghỉ hưởng chế độ bảo hiểm thai sản trong một khoảng thời gian (5 ngày) để chăm sóc vợ khi sinh con, giảm gánh nặng cho người phụ nữ. Pháp luật nhiều nước trên thế giới đã đề cập thời gian nghỉ của người cha như Anh, Thuỵ Điển,… với xu hướng cân bằng thời gian nghỉ của cha và mẹ để đảm bảo cho việc chăm sóc con tốt và giảm áp lực cho người phụ nữ sau sinh. Bên cạnh đó, Nhà nước nên đưa ra các chính sách và từ đó thể chế trong quy định pháp luật về bảo hiểm tự nguyện dành cho chế độ thai sản, đáp ứng nhu cầu tham gia của các đối tượng không thuộc diện bắt buộc. Đây cũng là cách để độ bao phủ của BHXH được mở rộng, cùng với đó, quyền làm mẹ vốn là quyền thiêng liêng của bất kì phụ nữ nào cũng cần được pháp luật bảo vệ trong xu thế công bằng. Đối với trường hợp NLĐ có nhiều năm đóng BHXH nhưng khi mang thai do thai không bình thường phải nghỉ dưỡng thai dài ngày hoặc do đơn vị gặp khó khăn phải ngừng việc dài ngày nên không đủ thời gian đóng tối thiểu, có thể quy định NLĐ đã đóng BHXH bắt buộc từ một số năm cụ thể trở lên (có thể là “từ 5 năm trở lên”) thì không áp dụng điều kiện có đóng BHXH 6 tháng trong vòng 12 tháng trước khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi. Cần làm rõ quy định tại khoản 2 Điều 28 Luật BHXH là NLĐ phải đóng BHXH từ đủ 6 tháng liên tục hay 6 tháng cộng dồn trong thời gian 12 tháng trước khi sinh, nhận nuôi con nuôi? Quy định tăng thời gian khám thai cho lao động nữ. Theo đó, lao động nữ được nghỉ việc để đi khám thai 5 lần, mỗi lần 2 ngày, trường hợp xa cơ sở y tế hoặc người mang thai có bệnh lí hoặc thai không bình thường thì được nghỉ 3 - 4 ngày cho mỗi lần khám thai để có thời gian theo dõi, làm các xét nghiệm cần thiết… Đồng thời, cần sửa đổi Luật BHXH cho phù hợp với quy định về thời gian nghỉ khi sinh con đã được quy định trong BLLĐ 2012, theo đó thời gian nghỉ của lao động nữ khi sinh con phải quy định tăng lên 6 tháng thay vì 4 tháng như quy định hiện hành của Luật BHXH. Thứ hai, nâng cao một số biện pháp nhằm thực thi hiệu quả quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền làm mẹ của lao động nữ. Một là cần tuyên truyền chính sách, pháp luật về BHXH nói chung, bảo hiểm thai sản nói riêng cho các đối tượng NSDLĐ và NLĐ, đặc biệt là lao động nữ để họ nâng cao ý thức pháp luật và hiểu về quyền lợi của mình, từ đó chủ động tham gia, thực hiện đúng quy định của pháp luật. Việc tuyên truyền cần thực hiện thông qua các kênh thông tin đa dạng, phong phú và cần có sự tham gia của tổ chức công đoàn. Hai là cần tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, xử phạt trong việc thực hiện pháp luật về BHXH, đặc biệt là bảo hiểm thai sản đối với lao động nữ. Ba là cần đưa ra biện pháp xử lí nghiêm khắc đối với các doanh nghiệp nợ đọng BHXH trong thời gian dài, không đóng hoặc cố tình không kí kết hợp đồng với NLĐ để trốn trách trách nhiệm tài chính./.  TS. NGUYỄN HIỀN PHƯƠNG[1] *  [1] Giảng viên Khoa pháp luật kinh tế , Trường Đại học Luật Hà Nội   (1).Xem: Viện khoa học lao động và các vấn đề xã hội, Trung tâm nghiên cứu khoa học về lao động nữ, Lao động nữ trong công nghiệp Việt Nam thời kì đổi mới, Nxb. Lao động-xã hội, Hà Nội, 2011,  tr. 52. (2).Xem: Danh mục công việc không được sử dụng lao động nữ ban hành kèm theo Thông tư liên bộ số 03/TTLB ngày 28/01/1994 của Bộ lao động, thương binh và xã hội và Bộ y tế quy định các điều kiện lao động có hại và các công việc không được sử dụng lao động nữ. (3).Xem: Phạm Thanh Hồng, “Vấn đề an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ”, Tạp chí lao động và xã hội, số 373/2011. (4).Xem: Viện khoa học lao động và các vấn đề xã hội, Trung tâm nghiên cứu khoa học về lao động nữ, sđd, tr. 54. (5).Xem: Phạm Cường, “Bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng cho lao động nữ”, nguồn: http://dangcongsan.vn/ cpv/Modules/News/, truy cập ngày 02/8/2013. (6).Xem: Liên đoàn lao động tỉnh Nghệ An, Báo cáo tình hình thực hiện chính sách đối với lao động nữ tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Nghệ An năm 2010. (7).Xem: Báo cáo tổng kết công tác năm 2011 và nhiệm vụ năm 2012 của BHXH Việt Nam. (8).Xem: Kỉ yếu hội thảo “Giải pháp thực hiện chính sách BHXH, bảo hiểm y tế trong giai đoạn mới”, Báo cáo tổng kết hàng năm của BHXH Việt Nam. (9).Xem: Báo cáo tổng kết công tác năm 2011 và nhiệm vụ năm 2012 của BHXH Việt Nam. (10). Nghị định của Chính phủ số 152/2006/NĐ-CP ngày 22/12/2006 hướng dẫn một số điều của Luật bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội bắt buộc; Thông tư của Bộ lao động thương binh và xã hội số 03/2007/TT-BLĐTBXH ngày 30/01/2007 hướng dẫn một số điều của Nghị định số 152/2006/NĐ-CP. (11).Xem: Khoản 2 Điều 28 Luật BHXH. (12).Xem: Lê Bạch Hồng, “Tiếp tục đổi mới, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XI trên lĩnh vực BHXH, bảo hiểm y tế”, nguồn:  http://baohiemxahoi.gov.vn/  ?u =n ws &s u =d &cid =384&id =5102, truy cập ngày 15/01/2014.   (13).Xem: Phương Loan, “Chi trả chế độ thai sản cho người lao động của Công ti trách nhiệm hữu hạn công nghiệp TS-ARI”, nguồn: http://vinhphuc.vnpt.vn/detail/ chi-t ra -ch e -d o -t h ai-s an -ch o -nguoi-lao-dong-cua-cong-ty-tnhh-cong-nghiep-tsari/44498/l1, truy cập ngày 15/01/2014.
Tại mục II Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004, Hội đồng Thẩm phán TANDTC đã hướng dẫn tương đối cụ thể về áp dụng quy định của pháp luật về thừa kế trong việc xác định thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế. Tuy nhiên, trong thực tiễn vẫn có những trường hợp tranh chấp về quyền thừa kế có những tình tiết đặc biệt chưa được hướng dẫn cụ thể nên việc xác định thời hiệu khởi kiện thiếu chính xác, gây thiệt hại quyền lợi hợp pháp của đương sự.
Vụ án nào cũng có những khó khăn dù ít dù nhiều cho người tiến hành xét xử khi phải thu thập, xem xét, đánh giá chứng cứ. Với những vụ “truy nhận cha cho con” thì việc xét xử lại càng khó trăm bề.

Đặt câu hỏi

Họ tên:
Email:
Điện thoại:
Tiêu đề:
Nội dung:

Tư vấn pháp luật