Cho đến nay, pháp luật nước ta vẫn chưa có quy định rõ ràng về “bí mật đời tư” là gì, phạm vi của “bí mật đời tư” như thế nào, mà chỉ có một số quy định về vấn đề này trong Hiến pháp năm 2013; Bộ luật Dân sự năm 2005 (BLDS); Luật Giao dịch điện tử năm 2005 (Luật GDĐT); Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009 - BLHS). Mà theo đó:- Điều 21 Hiến pháp năm 2013 có quy định: “1. Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình; có quyền bảo vệ danh dự, uy tín của mình. Thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình được pháp luật bảo đảm an toàn 2. Mọi người có quyền bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác. Không ai được bóc mở, kiểm soát, thu giữ trái luật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư của người khác”- Tại Điều 38 BLDS hiện hành, có quyền bí mật đời tư, như sau:“1. Quyền bí mật đời tư của cá nhân được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.2. Việc thu thập, công bố thông tin, tư liệu về đời tư của cá nhân phải được người đó đồng ý; trong trường hợp người đó đã chết, mất năng lực hành vi dân sự, chưa đủ mười lăm tuổi thì phải được cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên hoặc người đại diện của người đó đồng ý, trừ trường hợp thu thập, công bố thông tin, tư liệu theo quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.3. Thư tín, điện thoại, điện tín, các hình thức thông tin điện tử khác của cá nhân được bảo đảm an toàn và bí mật. Việc kiểm soát thư tín, điện thoại, điện tín, các hình thức thông tin điện tử khác của cá nhân được thực hiện trong trường hợp pháp luật có quy định và phải có quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.”Khoản 2 Điều 46 Luật GDĐT quy định:“Cơ quan, tổ chức, cá nhân không được sử dụng, cung cấp hoặc tiết lộ thông tin về bí mật đời tư hoặc thông tin của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác mà mình tiếp cận hoặc kiểm soát được trong giao dịch điện tử nếu không được sự đồng ý của họ, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.” - Điều 25 Luật bảo vệ sức khỏe nhân dân năm 1989 có quy địnhvề trách nhiệm của thầy thuốc “… phải giữ bí mật về những điều có liên quan đến bệnh tật hoặc đời tư mà mình được biết về người bệnh”.- Điều 125 BLHS có quy định Tội xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín của người khác, như sau:“1. Người nào chiếm đoạt thư, điện báo, telex, fax hoặc các văn bản khác được truyền đưa bằng phương tiện viễn thông và máy tính hoặc có hành vi trái pháp luật xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín của người khác đã bị  xử lý kỷ luật hoặc xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ một triệu đồng đến năm triệu đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến một năm. 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ từ một năm đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm:a) Có tổ chức;b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;c)  Phạm tội nhiều lần;d) Gây hậu quả nghiêm trọng;đ) Tái phạm.3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ hai triệu đồng đến hai mươi triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến năm năm.”Do luật và các văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành chưa có hướng dẫn cụ thể và cũng không quy định chi tiết thế nào là “bí mật đời tư”, nên đây cũng là vấn đề pháp lý gây tranh cãi nhiều nhất. Ý kiến chung nhất của các chuyên gia thì cho rằng “bí mật” là thông tin cần được che giấu, không công khai, chỉ một số ít người liên quan được biết. Ví dụ, nếu một đám cưới diễn ra công khai, nhiều người biết đến, tất nhiên sẽ không là chuyện “bí mật”. Còn vì sao có lễ cưới đó, có thể riêng tư vì một lý do tế nhị nào đó. Tuy nhiên nếu lý do này được nêu công khai từ một bên gia đình cô dâu hay gia đình chú rể của lễ cưới ấy, có lẽ mọi chuyện cũng khó thể gọi là “bí mật đời tư”. “Bí mật đời tư” là một cụm từ Hán - Việt, có nguồn gốc từ chữ Hán và được Việt hóa. Do đó, có thể hiểu “bí mật”  là những chuyện kín đáo, chuyện muốn che giấu, không muốn ai biết. “Tư” ở đây có nghĩa là riêng, việc riêng, của riêng. Như vậy, “bí mật đời tư” là chuyện thầm kín của một cá nhân nào đó. Bởi pháp luật hiện hành tuy có quy định nhưng không rõ ràng, thiếu cụ thể , nên đã gây khó khăn cho người dân khi muốn tiếp cận những thông tin cần thiết, mà theo họ, là “chứng cứ” cần thiết và quan trọng của vụ kiện dân sự, chính vì lẽ đó, trong nhiều trường hợp cơ quan chức năng đã vô tình đẩy người đi kiện vào “ngõ cụt” chỉ vì thiếu thống nhất chung về nhận thức thế nào là “quyền bí mật đời tư”. Dưới đây là trường hợp cụ thể, tác giả xin được dẫn chứng để minh họa cho nhận định trên.Theo đơn khởi kiện ngày 13/02/2014 của bà Nguyễn Thị L. (trú tại ấpT, xã  T.H, huyện C, tỉnh T), trình bày: Ngày 12/5/1991 cha của bà là cụ Nguyễn H. có nhận sang nhượng của cụ Phạm Văn V. (cùng ngụ tại địa chỉ trên) một thửa đất có diện tích 187m2 (chiều rộng 7,5m x chiều dài 25m) với số tiền là 1.500.000 đồng, nội dung giao dịch này được thể hiện trên giấy viết tay có chữ ký của bên sang nhượng, bên nhận sang nhượng cùng hai người làm chứng là ông Dương Văn Nh., Phạm Văn S. và  được lãnh đạo UBND xã T.H ký xác nhận vào ngày 12/10/1991. Sau khi lập hồ sơ thủ tục theo quy định, ngày 11/10/1999 bà L được UBND huyện C cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) với diện tích 187m2 loại đất thổ quả, thuộc thửa 2760, tờ bản đố số 01, tọa lạc tại ấp T, xã T.H, huyện C, tỉnh T. Cũng theo hồ sơ kê khai xin cấp GCNQSDĐ của bà L. thể hiện: Chiều rộng hai cạnh của thửa đất tiếp giáp với Quốc lộ IA và tiếp giáp với mí gò đất đều là 7,5m, nhưng qua đo đạc thực tế sau khi phát sinh tranh chấp cho thấy, chiều rộng tiếp giáp với Quốc lộ IA là 7,38m; chiều rộng tiếp giáp mí gò đất chỉ còn là 6,72m. Sở dĩ có sự khác biệt về số liệu đo đạc trên thực tế với số liệu trích lục bản đồ vị trí thể hiện trên GCNQSDĐ, là do bà Đoàn Thị N. năm 2004 khi làm nhà ở cạnh thửa đất của bà L. đã lấn chiếm, cụ thể chiều rộng thửa đất tiếp giáp Quốc lộ IA, bị bà N. lấn qua 0,11m với chiều dài 8,8m; chiều rộng tiếp giáp mí gò bị bà N. lấn qua 0,78m với chiều dài 6,95m. Bà L. đề nghị TAND huyện C tuyên buộc cụ V. và bà N. có trách nhiệm giao trả toàn bộ phần diện tích đất đã lấn chiếm gần 7m2.Phía bị đơn là cụ Phạm Văn V. và bà Đoàn Thị N. trình bày: Việc cụ V. sang nhượng cho cụ H. tại thời điểm khoảng tháng 5/1991 một thửa đất với giá 1.500.000 đồng là đúng sự thật, nhưng diện tích sang nhượng chỉ là 120m2 (chiều rộng 6,0m; chiều dài 20,0m), chứ không phải diện tích 187m2 như trong Đơn xin sang nhượng đất, mà phía bà L. cung cấp. Hơn nữa, hồ sơ xin cấp GCNQSDĐ cho bà L. có dấu hiệu giả chữ ký, vì bản thân cụ V. và bà N. cũng như những thành viên khác trong gia đình, không ai ký tên xác nhận “tứ cận” (giáp ranh với phần đất của người kế bên) vào hồ sơ kê khai xin cấp GCNQSDĐ của bà L., điều đó dẫn đến việc gia đình bà không hề hay biết việc phía bà L. làm thủ tục đề nghị UBND huyện C cấp GCNQSDĐ, mà cha của bà đã sang nhượng lên đến 187m2.Để có chứng cứ giao nộp cho Tòa án để bảo vệ quan điểm của mình, bà Đoàn Thị N. làm đơn gửi đến Văn phòng đăng ký đất đai thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T, yêu cầu trích lục hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất và hồ sơ cấp GCNQSDĐ đối với bà Nguyễn Thị L. vào năm 1999. Ngày 17/12/2015, Văn phòng đăng ký đất đai thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T, ban hành Công văn số 4314/TL-VPĐK trả lời yêu cầu của bà Đoàn Thị N., mà theo đó, tại điểm 2 của Công văn này có viết: “ …Căn cứ vào Điều 38 của Bộ luật Dân sự ngày 14/6/2005 quy định như sau:“việc thu thập, công bố thông tin, tư liệu về đời tư của cá nhân phải được người đó đồng ý; trong trường hợp người đó đã chết, mất năng lực hành vi dân sự, chưa đủ mười lăm tuổi thì phải được cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên hoặc người đại diện của người đó đồng ý, trừ trường hợp thu thập, công bố thông tin, tư liệu theo quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền. Do đó, Văn phòng Đăng ký đất đai không thể trích lục hồ sơ của bà Nguyễn Thị L. theo yêu cầu của bà được.””Vấn đề đặt ra, việc Văn phòng Đăng ký đất đai thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T, viện dẫn Điều 38 BLDS và cho rằng nếu thực hiện nội dung yêu cầu trích lục hồ sơ xin cấp GCNQSDĐ đối với bà Nguyễn Thị L. là xâm phạm đến quyền bí mật đời tư của đương sự, nên đã từ chối yêu cầu của bà N. có phù hợp với quy định của pháp luật không? Xoay quanh vấn đề này, hiện có các loại quan điểm sau:- Quan điểm thứ nhất: Bí mật đời tư của cá nhân được hiểu là những gì gắn với nhân thân con người, bao gồm những thông tin, tài liệu, hình ảnh về cá nhân, việc làm, tình yêu, gia đình, các mối quan hệ… gắn liền với một cá nhân mà người này giữ kín, không muốn để “lộ ra” cho người khác biết. Nói cách khác, bí mật đời tư có thể hiểu là chuyện riêng của người này mà không muốn cho người khác biết. Những bí mật đời tư này chỉ có bản thân người đó biết hoặc những người thân thích, người có mối liên hệ với người đó biết và họ chưa từng công bố ra ngoài cho bất kỳ ai. “Bí mật đời tư” có thể hiểu là “chuyện trong nhà” của cá nhân nào đó. Ví dụ: con ngoài giá thú, di chúc, hình ảnh cá nhân, tình trạng sức khỏe, bệnh tật, các loại thư tín, điện thoại, điện tín…”. Vì thế nên, bất cứ ai thu thập, công bố thông tin, tư liệu về đời tư cá nhân người khác, không phân biệt những thông tin, tư liệu ấy đang được cá nhân đó giữ bí mật hay đã được cá nhân đó để lộ ra mà không được sự đồng ý của cá nhân đó đều là xâm phạm bí mật đời tư. Hồ sơ xin cấp GCNQSDĐ đối với bà Nguyễn Thị L. là vấn đề thuộc về quyền riêng tư cá nhân, nên việc Văn phòng Đăng ký đất đai từ chối đáp ứng yêu cầu của bà N. tại Công văn số 4314/TL-VPĐK là có căn cứ.- Quan điểm thứ hai: Bí mật đời tư là những thông tin, tư liệu (gọi chung là thông tin) về tinh thần, vật chất, quan hệ xã hội hoặc những thông tin khác liên quan đến cá nhân trong quá khứ cũng như trong hiện tại, được pháp luật bảo vệ và những thông tin đó được bảo mật bằng những biện pháp mà pháp luật thừa nhận. Mặc dù Điều 38 BLDS không đưa ra khái niệm bí mật đời tư, nhưng theo lẽ thông thường có thể hiểu bí mật đời tư là những thông tin, tư liệu liên quan đến cá nhân mà cá nhân đó không muốn cho người khác biết. Trong hoàn cảnh pháp luật hiện chưa có quy định rõ ràng về khái niệm và phạm vi “bí mật đời tư ” thì xét ở góc độ nghĩa của từ ngữ theo từ điển tiếng Việt, bí mật đời tư của cá nhân được hiểu là những gì thuộc về đời sống riêng tư của cá nhân (thông tin, tư liệu…) được giữ kín, không công khai, không tiết lộ ra. Còn nếu các thông tin, tư liệu cá nhân đã được công khai, lộ ra thì không còn là bí mật đời tư nữa. Do đó, cần hiểu bí mật đời tư của cá nhân là những thông tin, tư liệu mà chỉ mỗi cá nhân đó biết và quyết giữ bí mật.Từ cách tiếp cận vấn đề như vậy, những người ủng hộ quan điểm này cho rằng: Sở dĩ, bà N. yêu cầu được cấp trích hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất và hồ sơ cấp GCNQSDĐ đối với bà Nguyễn Thị L., là do giữa đôi bên có tranh chấp về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất trước đó và hiện tại phía bà L. đã được UNND huyện C cấp GCNQSD diện tích đất được sang nhượng. Nhưng theo bà N., hồ sơ xin xác lập chủ quyền diện tích đất được sang nhượng  đã có sự giả mạo chữ ký của cụ V. (người sang nhượng), hơn nữa, diện tích đất sang nhượng thực tế là 120 m2, nhưng thực tế khi bà L. được cấp GCNQSDĐ lên đến 187 m2, trong khi theo quy định của pháp luật, là người sử dụng đất giáp ranh với đất của bà L., cụ V. hay bà N. phải ký tên xác nhận “tứ cận” – đất không có tranh chấp là mới đúng. Hồ sơ và quy trình, thủ tục cấp GCNQSDĐ theo quy định của của pháp luật là công khai. Cụ thể, Quyết định số 93/2007/QĐ-TTg ngày 22/6/2007 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương; Thông tư liên tịch số 14/2008/TTLT/BTC-BTNMT ngày 31/01/2008 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ tái định cư và trình tự thủ tục thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất; Thông tư số 17/2009/TT-BTNMT ngày 21/10/2009 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; Thông tư số 20/2010/TT-BTNMT ngày 22/10/2010 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định bổ sung về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất;Thông tư số 16/2010/TT-BTNMT ngày 20/5/2010 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định sửa đổi, bổ sung một số nội dung liên quan đến thủ tục hành chính về lĩnh vực đất đai;… mà theo đó, với thủ tục cấp GCNQSĐ cho cá nhân trong mọi trường hợp đều được công chức địa chính và UBND cấp xã công bố công khai kết quả kiểm tra về nguồn gốc đất, thời điểm sử dụng đất, tình trạng tranh chấp quyền sử dụng đất, sự phù hợp với quy hoạch,…tại trụ sở UBND cấp xã. Một khi tất cả các thông tin có liên quan về hồ sơ xin cấp GCNQSDĐ được công bố công khai thì tại trụ sở UBND cấp xã thì rõ ràng không còn là bí mật đời tư của cá nhân đó. Nếu hiểu thu nhập và tài sản hợp pháp của cá nhân có được là “bí mật đời tư”, theo tác giả là hoàn toàn sai lầm, bởi đã là thu nhập hợp pháp thì cớ gì phải giấu giếm, phải che đậy không muốn người khác biết. Mỗi người được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp GCNQSD bao nhiêu thửa đất, loại đất; diện tích sử dụng nhà ở bao nhiêu m2, loại nhà ở,… hoàn toàn không thuộc về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật của gia đình người đó. Hơn nữa, Điều 26a Luật Phòng chống tham nhũng năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2012) có quy định về công khai bản kê khai tài sản, mà theo đó, việc công khai bản kê khai tài sản của người có nghĩa vụ kê khai được công khai trong cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi người đó thường xuyên làm việc, như vậy, với đối tượng bắt buộc phải có nghĩa vụ kê khai tài sản theo luật quy định, thì Nhà nước đã xâm phạm “quyền bí mật đời tư” của tất cả họ sao? Cho dù, bà L. không là đối tượng thuộc diện người có nghĩa vụ kê khai tài sản theo Điều 7 Nghị định 78/2013/NĐ-CP ngày 17/7/2013 của Chính phủ, về minh bạch tài sản thu nhập, nhưng tài sản là quyền sử dụng 187 m2 đất bà L. đang là đối tượng của vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất, mà TAND huyện C đang thụ lý và cũng theo bị đơn hồ sơ thể hiện việc sang nhượng diện tích đất mà bà L. cung cấp cho cơ quan chức năng là giả mạo, thì lẽ ra cơ quan có chức năng phải tạo điều kiện hơn nữa để bà N. bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình là mới đúng. Do đó, việc Văn phòng Đăng ký đất đai từ chối yêu cầu của bà N. bằng việc vận dụng Điều 38 BLDS là thiếu cơ sở pháp lý và không thuyết phục, nếu không muốn nói đó là sự thờ ơ, thiếu trách nhiệm, là sự quan liêu của người có thẩm quyền.Tác giả đồng ý với quan điểm này. “Quyền bí mật đời tư” là quyền nhân thân bất khả xâm phạm của cá nhân. Về cơ bản có thể hiểu rằng quyền bí mật đời tư của cá nhân là quyền được bảo vệ về bí mật đời tư, nói cách khác không ai được quyền xâm phạm đến bí mật đời tư của cá nhân khi chưa được phép. Như vậy, có thể thấy rằng “quyền bí mật đời tư” được xây dựng trên khái niệm “bí mật đời tư”. Muốn xác định được phạm vi của “quyền bí mật đời tư” đòi hỏi chúng ta phải xác định khái niệm về “bí mật đời tư” là gì.Quy định về “quyền bí mật đời tư” đã được đề cập tới ngay trong bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta. Theo đó, Hiến pháp 1946 có quy định: “Tư pháp chưa quyết định thì không được bắt bớ và giam cầm công dân Việt Nam. Nhà ở và thư tín của công dân Việt Nam không ai được xâm phạm một cách trái pháp luật”. Điều này đã cho thấy rằng, từ khi mới thành lập, Nhà nước ta đã quan tâm và bảo vệ cho quyền riêng tư của công dân. Trải qua các thời kỳ phát triển khác nhau, các bản Hiến pháp của nước ta vẫn giữ quy định về việc bảo đảm quyền riêng tư của cá nhân với phạm vi bảo vệ ngày càng mở rộng hơn. Tuy nhiên, có thể thấy rằng các bản Hiến pháp này chỉ quy định việc bảo vệ bí mật đời tư của công dân đối với thư tín, điện thoại, điện tín mà thôi, tức là phạm vi quyền bí mật đời tư còn tương đối hẹp. Đến Hiến pháp năm 2013, quyền bí mật đời tư của cá nhân đã được tiếp cận theo cách khác, mà theo đó, như Điều 21 Hiến pháp năm 2013 mà tác giả đã trích dẫn ở phần trên. Hiến pháp 2013 đã mở rộng hơn rất nhiều đối với quyền bí mật đời tư, theo đó không chỉ bao gồm thư tín, điện thoại, điện tín mà tất cả các vấn đề về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình đều được pháp luật bảo vệ.Tiếp thu quan điểm tiến bộ này, Bộ luật Dân sự năm 2015 (sẽ có hiệu lực từ ngày 01/01/2017), mà theo đó, Điều 38 có quy định về quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, như sau:“1. Đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ.2. Việc thu thập, lưu giữ, sử dụng, công khai thông tin liên quan đến đời sống riêng tư, bí mật cá nhân phải được người đó đồng ý, việc thu thập, lưu giữ, sử dụng, công khai thông tin liên quan đến bí mật gia đình phải được các thành viên gia đình đồng ý, trừ trường hợp luật có quy định khác.3. Thư tín, điện thoại, điện tín, cơ sở dữ liệu điện tử và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của cá nhân được bảo đảm an toàn và bí mật.Việc bóc mở, kiểm soát, thu giữ thư tín, điện thoại, điện tín, cơ sở dữ liệu điện tử và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác chỉ được thực hiện trong trường hợp luật quy định.4. Các bên trong hợp đồng không được tiết lộ thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình của nhau mà mình đã biết được trong quá trình xác lập, thực hiện hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.”Tham khảo, quy định của pháp luật một số quốc gia trên thế giới, có thể thấy rằng “quyền bí mật đời tư” được hầu hết các nước thừa nhận với tên gọi và phạm vi khác nhau. Chẳng hạn:BLDS Pháp ghi nhận mọi người đều có quyền được tôn trọng đời tư của mình và quyền riêng tư này được pháp luật bảo vệ bằng nhiều hình thức khác nhau. Tuy nhiên, giống như BLDS Việt Nam, BLDS Pháp không có quy định hướng dẫn cụ thể về khái niệm cũng như phạm vi những quyền riêng tư này như thế nào. Ngày 13/4/1988, Tòa án tối cao Pháp đã có phán quyết giải thích về phạm vi của quyền riêng tư, theo đó thì đời sống riêng tư của một người bao gồm: Đời sống tình cảm, bạn bè, gia đình, sinh hoạt hằng ngày, quan điểm chính trị, công việc làm ăn hay tư tưởng tôn giáo và tình trạng sức khỏe. Hiểu một cách chung nhất quyền riêng tư cho phép mọi người không phân biệt giai cấp, độ tuổi hay tài chính chống lại hành vi xâm phạm mà không được sự cho phép của họ. Như vậy, có thể thấy rằng theo BLDS Pháp thì quyền riêng tư của mọi cá nhân là như nhau. Đồng thời phạm vi bảo vệ quyền riêng tư của cá nhân là rất rộng, bao gồm các thông tin được đưa ra cả tại nơi công cộng lẫn nơi riêng tư của cá nhân. Tuy nhiên, nếu như cá nhân chủ động công bố những thông tin đó thì sẽ không được coi là bí mật đời tư nữa.Hiến pháp Nhật tại Điều 13 ghi nhận rằng công dân có quyền sống, tự do và theo đuổi hạnh phúc và được tôn trọng với tư cách là một công dân. Đây là quy định làm nền tảng cho những quy định của pháp luật chuyên ngành về quyền bí mật đời tư như: Công dân không được phép xây nhà có thể nhìn vào nhà của người khác, nghiêm cấm nhìn ngó nơi cư ngụ của người khác hay đọc thư cá nhân của người khác. Năm 2003, Nhật Bản ban hành Luật Bảo vệ những thông tin cá nhân, trong đó quy định những thông tin về cá nhân sẽ được bảo vệ nếu thỏa mãn:a) Liên quan đến đời sống của cá nhân;b) Có thể dùng để xác định, phân biệt một công dân.Tòa án Nhật Bản đã giải thích quyền về bí mật đời tư của cá nhân, bao gồm: i) Quyền không bị công bố thông tin cá nhân nếu không có lý do chính đáng; ii) Quyền quyết định đối với thông tin cá nhân. Cũng theo Tòa án Nhật Bản, để xác định có sự vi phạm về quyền bí mật đời tư hay không phải đảm bảo các yêu cầu sau: i). Có liên quan đến đời sống riêng tư của cá nhân. ii). Cá nhân đó có mong muốn giữ bí mật. iii). Không phải là thông tin, hiểu biết công cộng. iv). Gây ảnh hưởng nặng nề đối với cá nhân nếu bị xâm phạm.Hội đồng Calcutt ở Vương quốc Anh cho rằng: “không nơi nào chúng ta có thể tìm thấy một định nghĩa hoàn toàn thỏa đáng về quyền riêng tư”. Nhưng Hội đồng này đã hài lòng với định nghĩa sau: Quyền riêng tư là các quyền của cá nhân được bảo vệ để chống lại sự xâm nhập vào đời sống cá nhân hay công việc của mình (hoặc những người trong gia đình) bằng các phương tiện vật lý trực tiếp hoặc bằng cách công bố thông tin.Như vậy, nhìn chung có thể thấy rằng pháp luật các quốc gia trên thế giới cũng nhìn nhận “quyền bí mật đời tư” dưới góc độ bảo vệ cho những thông tin liên quan đến đời sống riêng tư của cá nhân mà người đó có mong muốn được giữ bí mật. Trong trường hợp người đó chủ động công bố thông tin thì sẽ không được coi là bí mật đời tư và sẽ không được pháp luật bảo vệ nếu như những thông tin này được người khác sử dụng[1].Kiến nghịTừ những phân tích trên, tác giả đề xuất hai kiến nghị sau:Thứ nhất, về nguyên tắc luật, “Quyền bí mật đời tư” là không đồng nhất với khái niệm “Quyền riêng tư”. Quyền riêng tư cũng liên quan đến cá nhân, tuy nhiên những vấn đề thuộc về riêng tư xét ở khía cạnh nào đó lại không được coi là bí mật, mặc dù pháp luật vẫn bảo hộ những quyền này. Bất cứ cá nhân nào cũng có sự tự do trong suy nghĩ, hành động – đây là sự “riêng tư” của chính họ. Lẽ dĩ nhiên, nếu là sự tự do trong suy nghĩ thì vấn đề không có gì phức tạp, bởi không ai có thể bắt người khác phải suy nghĩ theo ý muốn của mình. Ngược lại, nếu là sự tự do trong hành động thì điều đó còn phụ thuộc vào các yếu tố khác như luật pháp, quan hệ với những người xung quanh, sự tác động của phong tục tập quán, thói quen…Có thể thấy, pháp luật nói chung, pháp luật Việt Nam nói riêng luôn tôn trọng sự riêng tư của cá nhân (quyền bất khả xâm phạm chỗ ở, quyền lựa chọn công việc cho phù hợp với khả năng và điều kiện của bản thân, quyền tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng…). Như vậy, để có thể hiểu được “Quyền bí mật đời tư” thì phải xây dựng được khái niệm “bí mật đời tư”. Và việc xây dựng khái niệm “bí mật đời tư” phải xác định được hai khái niệm cũng như sự liên kết của hai khái niệm, đó là khái niệm “bí mật” và khái niệm “đời tư”. Theo quan điểm của tác giả, tính “bí mật” trong khái niệm “bí mật đời tư” chỉ mang tính tương đối. Điều này có nghĩa là, cùng một nội dung vụ việc có tính chất như nhau, đối với người này có thể là bí mật, nhưng đối với người khác thì đây chỉ là một thông tin bình thường, có thể công bố rộng rãi và cá nhân có mong muốn giữ bí mật đối với những thông tin đó không. Do vậy, theo quan điểm đề xuất của tác giả, “Bí mật đời tư” thực chất là những thông tin liên quan đến cuộc sống của một cá nhân nhất định mà cá nhân đó thấy rằng cần thiết và mong muốn giữ bí mật.  “Quyền bí mật đời tư” và “quyền được bảo đảm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân” là giống nhau về bản chất, đều là sự bảo vệ đối với những thông tin liên quan đến cuộc sống riêng của cá nhân.Thứ hai, phạm vi những thông tin thuộc về “bí mật đời tư” của mỗi cá nhân.Vấn đề đặt ra, có phải mọi thông tin thuộc về cá nhân mà cá nhân muốn giữ bí mật sẽ trở thành “bí mật đời tư” và được pháp luật bảo vệ. Vấn đề này hiện đang có hai quan điểm sau:- Quan điểm thứ nhất cho rằng, những thông tin muốn được coi là “bí mật đời tư” phải là những thông tin hợp pháp. Bởi lẽ, đối với những thông tin trái pháp luật hay đạo đức xã hội thì pháp luật sẽ không bảo vệ, và như vậy sẽ không được coi là “bí mật đời tư” được.- Quan điểm thứ hai, không nên quá cứng nhắc mà nên có sự linh hoạt để áp dụng vào từng trường hợp cụ thể. Ví dụ, trường hợp con đánh bố mẹ, hay chồng hành hạ vợ, thì dù có là vấn đề riêng tư, cá nhân, thì xã hội, các tổ chức đoàn thể địa phương và những người xung quanh cũng không thể không can thiệp và lên tiếng, vì đó là hành vi bất hợp pháp. Tuy nhiên, với một trẻ em dưới 14 tuổi mà bị dâm ô hoặc bị người thành niên giao cấu, việc dư luận xã hội lên án đối tượng hiếp dâm, báo chí phanh phui sự việc là đương nhiên, nhưng không vì thế mà làm tổn thương thêm danh dự, nhân phẩm của đứa bé đó, kể cả trường hợp nạn nhân có sự “đồng tình” đi chăng nửa, thì phải xác định được rằng, do sự hạn chế về mặt nhận thức của một đứa trẻ chưa đến tuổi trưởng thành. Vì vậy, theo quy định tại Điều 116 và Điều 115 BLHS hiện hành, người thực hiện hành vi phạm tội phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự, khi xét xử, căn cứ quy định tại ý 2 Điều 18 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, Tòa án xét xử kín, nhưng tuyên án công khai. Thực hiện đúng quy định này là cần thiết, nhằm bảo vệ lợi ích cho nạn nhân, vì nó có thể còn liên quan đến lợi ích của họ sau này nữa.Người viết đồng ý với quan điểm này, có nghĩa cần linh động trong việc xác định thông tin nào được cho là “bí mật đời tư”. Có nghĩa là về nguyên tắc thì không phải mọi thông tin về đời sống riêng tư mà cá nhân không muốn công khai sẽ trở thành “bí mật đời tư” mà muốn được pháp luật bảo vệ thì những thông tin này phải hợp pháp. Tuy nhiên, để xác định “tính hợp pháp” này phải căn cứ vào từng trường hợp, hoàn cảnh sự việc cụ thể, mà ưu tiên hàng đầu đặt ra là bảo vệ tốt nhất cho quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân người trong cuộc. Th.S Lê Văn Sua   [1] https://kieuanhvu.wordpress.com/2015/09/09/quyen-bi-mat-doi-tu-trong-bo-luat-dan-su/  
Vấn đề bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện được quy định tại BLDS năm 1995, khi BLDS năm 2005 thay thế BLDS năm 1995 thì vấn đề bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện vẫn tiếp tục được quy định, nhưng trên thực tế các cấp Tòa án hầu như không áp dụng quy định này trong các vụ án thừa kế. Vì sao lại có hiện tượng đó? Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi xin nêu ra một trường hợp tranh chấp thừa kế tài sản và chia tài sản chung để bạn đọc cùng trao đổi phải áp dụng pháp luật như thế nào mới đúng, nhằm góp phần làm cho nhận thức và áp dụng pháp luật ngày càng chính xác và thống nhất. Theo đơn khởi kiện ngày 26/10/2008, ngày 21/11/2008 và quá trình tố tụng, các nguyên đơn bao gồm các ông, bà: Nguyễn Thị Minh, Nguyễn Thị Thư, Nguyễn Thị An, Nguyễn Thị Liên đã khởi kiện đối với các bị đơn là các ông: Nguyễn Văn Thắng, Nguyễn Văn Hoà, ông Nguyễn Ngọc Sơn, Nguyễn Ngọc Tám và ông Nguyễn Ngọc Tân yêu cầu chia di sản thừa kế của cha mẹ. Các nguyên đơn trình bày: cụ Nguyễn Văn Triệu (chết tháng 9/2001) và cụ Đinh Thị My (chết tháng 1/1995) có 09 người con chung là các ông, bà: Nguyễn Thị Minh, Nguyễn Thị Thư, Nguyễn Văn Thắng, Nguyễn Văn Hoà, Nguyễn Thị An, Nguyễn Thị Liên, Nguyễn Ngọc Sơn, Nguyễn Ngọc Tám và Nguyễn Ngọc Tân. Sinh thời, cha mẹ các ông bà có 3 khối tài sản gồm: nhà, đất tại số 74, 99 và 33/3 phố Ng.Q, thị xã ST, thành phố HN, cụ thể: - Nhà đất tại số 74 Ng.Q gồm: 3 gian nhà cấp 4; 3 gian nhà ngang cấp 4; 1 gian bếp, chuồng lợn trên diện tích đất 70m2; hiện do vợ chồng ông Nguyễn Ngọc Tân và vợ chồng ông Nguyễn Ngọc Tám quản lý, sử dụng. Vợ chồng ông Tân đã phá bỏ nhà ngang, bếp, chuồng lợn và xây mới bếp, nhà vệ sinh. - Nhà đất tại số 99 Ng.Q gồm: 3 gian nhà cấp 4; 1 gian nhà bếp; 1 chuồng lợn và công trình vệ sinh trên diện tích đất 92,5m2; hiện do 2 gia đình là vợ chồng ông Thắng và vợ chồng ông Sơn quản lý sử dụng. Năm 2001 vợ chồng ông Sơn đã phá bỏ 1 gian nhà cấp 4 và xây mới 1 nhà 3 tầng. Năm 2006, vợ chồng ông Thắng phá bỏ bếp cũ xây bếp mới và công trình phụ (tài sản cũ còn 2 gian nhà cấp 4). - Nhà đất tại số 33/3 Ng.Q gồm: 3 gian nhà cấp 4; 1 chuồng bò trên diện tích đất 80m2; hiện do vợ chồng ông Nguyễn Ngọc Hoà quản lý sử dụng. Vợ chồng ông Hoà đã phá bỏ chuồng bò và xây mới 1 nhà cấp 4. Ngày 25/4/2001, khi đó cụ Triệu còn sống, 9 người con có họp gia đình và thỏa thuận phân chia quyền sử dụng đất ở và quyền sở hữu nhà ở do bố mẹ để lại, với nội dung: khi cha mẹ còn khỏe đã phân chia nhà và đất ở cho 5 anh em trai…9 người con thỏa thuận để 5 anh em trai được ở nhà đất như bố mẹ đã phân chia nhưng không được chuyển nhượng, bán, đổi cho người khác ngoài 9 anh chị em…(Biên bản này có sự tham gia của tổ trưởng khu phố và xác nhận của UBND phường Ng.Q, có chữ ký của 9 người con, chỉ có bà An ghi thêm là không cho hẳn, chỉ ở thôi). Sau khi cụ Triệu và cụ My đã mất, ngày 20/7/2008, chín anh chị em họp gia đình bàn về việc phân chia tài sản thừa kế, nội dung thỏa thuận năm con trai được hưởng 3 khối tài sản do cha mẹ để lại, mỗi người con trai (5 người) góp 40 triệu để cho bốn bà con gái hưởng thừa kế của cha mẹ, tổng cộng là 200 triệu. Sau đó năm người con trai không thực hiện theo thỏa thuận nêu trên. Các nguyên đơn yêu cầu chia di sản thừa kế của cha mẹ và xin được chia hiện vật là ½ nhà đất số 74 Ng.Q để làm nơi thờ cúng cha mẹ. Năm bị đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (là vợ các bị đơn) đều thống nhất lời trình bày của nguyên đơn về cha mẹ và tài sản do cha mẹ để lại, nhưng không đồng ý chia thừa kế với lý do cha mẹ đã chia tài sản này cho năm anh em trai sử dụng. Tại bản án DSST số 12/2009/DSST ngày 15/9/2009 của TAND thị xã ST, thành phố HN nhận định: các đương sự thống nhất về hàng thừa kế và 3 khối tài sản trên là do cha mẹ nguyên đơn và bị đơn để lại, do năm người con trai đang quản lý. Tòa án định giá cả ba khối tài sản trên tổng cộng trị giá là 1.845.280.000đ - 148.989.000đ (là tài sản do các bị đơn phát triển) = 1.696.291.000đ. Cụ Đinh Thị My chết tháng 1 năm 1995, đến tháng 10 năm 2008 các nguyên đơn khởi kiện chia thừa kế là đã hết thời hiệu khởi kiện, nên tạm giao cho các bị đơn đang quản lý phần tài sản này. Phần di sản của cụ Triệu còn trong thời hiệu khởi kiện trị giá 848.145.700đ, chia thừa kế cho chín người con (5 người con trai được trích công sức duy trì là 50.000.000đ) và chia bằng hiện vật. Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 28/9/2009 ông Nguyễn Ngọc Tám kháng cáo không đồng ý giao nhà đất của ông tại 74 Ng.Q giao cho nguyên đơn; ông cho rằng việc định giá ½ nhà đất này gần 400 triệu là quá cao nên đề nghị Tòa án định giá lại và xin được ở lại nhà đất mà cha mẹ đã phân chia, nếu phải chia thừa kế thì chia bằng tiền. Ông Sơn có đơn kháng cáo cho rằng, phần đất của ông được định giá 11.000.000đ/1m2, bản án quyết định ông được sử dụng 12,25m2 x 11.000.000 = 134.750.000đ nhưng Tòa án lại quyết định 12,25m2 có trị giá 185.000.000đ và buộc ông phải thanh toán cho các thừa kế khác 86.307.000đ là không đúng. Ngày 10/10/2009 Ông Tân, ông Thắng không đồng ý chia di sản bằng hiện vật. Thực tế các nguyên đơn không có nhu cầu sử dụng nhà đất, trong khi đó 2 anh em (ông Tân, ông Tám) sử dụng 70m2, nay giao cho 2 anh em (2 gia đình) sử dụng chung 35m2 là không phù hợp với thực tế, ảnh hưởng đến cuộc sống hàng ngày của mình và yêu cầu định giá lại tài sản này. Tại bản án phúc thẩm số 359/2009/DSPT ngày 29/12/09, TAND thành phố HN quyết định: Hủy bản án sơ thẩm, để xét xử sơ thẩm lại; phần di sản của cụ My đã quá thời hiệu khởi kiện, không chia di sản của cụ My cho các đương sự. Tại bản án DSST số 01/2010/DSST ngày 19/10/2010, TAND thị xã ST nhận định: phần di sản của cụ Triệu trị giá 848.145.700đ (trích công sức cho năm con trai = 50.000.000), số còn lại chia đều chín con, mỗi người con gái được hưởng 88.682.000đ, mỗi người con trai được hưởng 98.682.000đ (trong đó có 10 triệu công sức duy trì, bảo quản di sản). Phần di sản của cụ My trị giá 848.145.700đ hết thời hiệu, chuyển thành tài sản chung chia đều cho 9 con, mỗi người được hưởng 94.238.000đ. Các tài sản do bị đơn phát triển được trên đất, bị đơn được sử dụng tài sản khác của cha mẹ còn lại trên đất các đương sự không tranh chấp. Từ đó quyết định (tóm tắt): Tổng cộng các kỷ phần được hưởng: của bốn người con gái (là bốn nguyên đơn) mỗi người được hưởng 182.920.000đ, năm con trai (là các bị đơn) mỗi người được hưởng 192.920.000đ (có 10 triệu công sức). Chia hiện vật: Bốn người con gái được hưởng bằng tiền tổng cộng là 731.680.000đ. Giao cho bốn người con gái sử dụng chung 45m2 đất trị giá 495.000.000đ và được sở hữu phần tài sản có trên đất gồm 1 nhà vệ sinh + bếp tại số 74 Ng.Q trị giá 10.640.000đ  và được nhận tiền chênh lệch còn thiếu do ông Sơn trả 76.580.000đ, ông Thắng trả 55.798.000đ, ông Tân trả 93.622.000đ. Giao ông Tân được sử dụng diện tích 25m2 đất trị giá 275.000.000đ và các tài sản trên đất tại số 74 Ng.Q trị giá 22.222.000đ, ông Tân trả chênh lệch cho các nguyên đơn là 93.662.000đ. Giao ông Thắng được sử dụng 59,63m2 đất và 8,37m lối đi tại 99 Ng.Q (phía trong) trị giá 470.268.000đ và được sở hữu phần tài sản trên đất gồm: 01 nhà xây cấp 4 và bếp + nhà vệ sinh trị giá tiền bằng 32.708.000đ, tổng cộng bằng 503.268.000đ; ông Thắng phải trả tiền chêch lệch về tài sản cho ông Tám 126.376.000đ, ông Hoà 84.256.000đ, bà Minh, bà Thư, bà An và bà Liên số tiền là 55.798.000đ. Giao ông Sơn sử dụng 24,5 m2 đất ở tại số 99 Ng.Q (giáp đường phố Ng.Q) trị giá 269.500.000đ và được sở hữu tài sản trên gồm: 01nhà xây 03 tầng trị giá 93.817.000đ (tổng cộng bằng 363.317.000đ, ông Sơn phải trả tiền chêch lệch về tài sản cho các nguyên đơn số tiền là 76.580.000đ). Giao ông Hoà sử dụng 51,06 m2 đất tại số 33/3 Ng.Q, trị giá 102.000.000đ và giao cho ông Hoà được sở hữu phần tài sản trên đất gồm: 01 nhà xây (gạch ba panh)+01 nhà mái lợp proximang trị giá 26.540.000đ; tổng cộng bằng 126.540.000 và ông Hoà được nhận tiền chênh lệch còn thiếu do ông Thắng trả là 84,256.000đ. Giao ông Tám được sử dụng 28,94m2 đất ở tại số 33/3 Ng.Q trị giá 57.880.000đ và giao cho ông Tám được sở hữu tài sản gồm: 01 nhà mái lợp proximang trị giá 8.664,000đ; tổng cộng bằng 66.544.000đ. Ông Tám được nhận tiền chênh lệch do ông Thắng trả là 126.376.000đ. (Diện tích đất giao cho các đương sự, có sơ đồ kèm theo). Sau khi xét xử sơ thẩm lần hai ông Hòa, ông Tám, ông Thắng kháng cáo không đồng ý việc chia hiện vật của Tòa án. Ông Hòa không đồng ý giao phần đất của ông cho ông Tám. Tại bản án DSPT số 61/2011/DSPT ngày 8/4/2011 của TAND thành phố HN có nhận định tương tự như bản án sơ thẩm, tuy nhiên do bản án sơ thẩm buộc các đương sự giao hiện vật và giá trị cùng một thời điểm nhưng vẫn buộc bên thanh toán tiền chịu lãi xuất nếu chậm thi hành án là không đúng pháp luật, từ đó quyết định: Sửa bản án DSST số 01/2010/DSST  ngày 19/10/ 2010 của TAND thị xã ST như sau: Chấp nhận yêu cầu chia tài sản chung và chia di sản thừa kế của bốn (04) nguyên đơn và các bị đơn. - Xác nhận di sản của vợ chồng cụ Triệu và cụ My gồm 03 khối tài sản là: nhà, đất tại số 74, số 99 và số 33/3 phố Ng.Q, có tổng trị giá 1.845.280.000đ. - Xác nhận công sức duy trì và phát triển di sản: của vợ chồng ông Thắng, bà Lý là 36.933.000đ; của vợ chồng ông Sơn, bà Cúc là 103.817.000đ; của vợ chồng ông Tân, bà Hải là 20.640.000đ; của vợ chồng ông Hoà, bà Cầm là 27.598.000đ; của vợ chồng ông Tám là 10.000.000đ (tổng cộng là 198.988.000, nên trị giá di sản của cụ Triệu, cụ My là 1.646.292.000đ). - Xác nhận thời điểm mở thừa kế cụ Triệu là tháng 9/2001, di sản thừa kế của cụ Triệu chia theo luật cho chín người con. - Xác nhận di sản cụ My là tài sản chung của chín  người con. Chia thừa kế và chia tài sản chung cho chín người con, mỗi người được hưởng bằng giá trị là 182.920.000đ. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn gộp chung bốn kỷ phần thừa kế và hưởng bằng hiện vật (4 kỷ phần có giá trị 731.680.000đ). - Gia đình ông Thắng được hưởng giá trị: kỷ phần chia thừa kế và chia tài sản chung, công sức duy trì di sản và phát triển di sản là 219.853.000đ. - Gia đình ông Tân được hưởng giá trị kỷ phần chia thừa kế, chia tài sản chung, công sức duy trì và phát triển di sản là 203.560.000đ. - Gia đình ông Sơn được hưởng giá trị kỷ phần chia thừa kế, chia tài sản chung, công sức duy trì và phát triển di sản là 286.737.000đ. - Gia đình ông Hoà được hưởng giá trị kỷ phần chia thừa kế, chia tài sản chung, công sức duy trì và phát triển di sản là 210.518.000đ. - Gia đình ông Tám được hưởng giá trị kỷ phần thừa kế, chia tài sản chung và duy trì di sản là 192.920.000đ. * Chia hiện vật: - Giao cho bốn bà: quyền sử dụng chung diện tích 45m2 đất ở tại số 74 phố Ng.Q và quyền sở hữu chung những tài sản có trên đất được giao gồm 1 bếp, 1 nhà vệ sinh; tổng trị giá 505.640.000đ và nhận thanh toán chênh lệch giá trị do các gia đình ông Thắng, gia đình ông Sơn và gia đình ông Tân thanh toán. Cụ thể: gia đình ông Thắng thanh toán 55.798.000đ;  gia đình ông Sơn thanh toán 76.580.000đ; gia đình ông Tân thanh toán 93.622.000đ. - Giao ông Tân quyền sử dụng diện tích đất là 25m2 tại 74 Ng.Q và sở hữu tài sản có trên đất, có tổng trị giá 297.222.000đ, nhưng phải thanh toán chênh lệch giá trị tài sản cho bốn  bà là các nguyên đơn số tiền là 93.662.000đ. - Giao ông Thắng quyền sử dụng 68m2 đất (gồm 59,63m2 đất ở và 8,37m2 đất lối đi) tại số 99 phố Ng.Q (phía trong) và quyền sở hữu những tài sản có trên đất được giao gồm 1 nhà xây cấp 4, 1 bếp + vệ sinh, tổng trị giá 503.268.000đ;  thanh toán chênh lệch tài sản cho 4 nguyên đơn là 55.798.000đ, thanh toán cho ông Hoà là 84.256.000đ và thanh toán cho ông Tám 126.376.000đ. - Giao ông Sơn quyền sử dụng 24,5m2 đất ở tại số 99 phố Ng.Q, (giáp đường phố Ng.Q) và quyền sở hữu tài sản có trên đất được giao là một nhà xây 3 tầng, tổng trị giá 363.317.000đ; thanh toán chênh lệch tài sản cho bốn nguyên đơn là 76.580.000đ. - Giao ông Hoà quyền sử dụng 51,06m2 đất ở tại 33/3 phố Ng.Q và sở hữu tài sản có trên đất được giao là 1 nhà xây gạch + 01 nhà lợp proximang, tổng trị giá 126.540.000đ; được nhận chênh lệch giá trị tài sản do ông Thắng thanh toán là 84.256.000đ. - Giao ông Tám quyền sử dụng 28,94m2 đất tại 33/3 phố Ng.Q và sở hữu tài sản có trên đất được giao là 01 nhà lợp proximang, tổng trị giá 66.544.000đ; được nhận chênh lệch giá trị tài sản do ông Thắng thanh toán là 126.376.000đ. Sau khi xét xử phúc thẩm, ông Hòa khiếu nại không đồng ý giao đất tại 33/3 Ng.Q cho ông Tám vì ông Tám không có yêu cầu đến đây ở. Mặt khác tại biên bản hòa giải ngày 3/6/2009, 4 bà nguyên đơn thừa nhận khi cha mẹ còn sống có nói cho vợ chồng ông Hòa nhà đất tại 33/3 Ng.Q, phần đất này ông đã ở đây từ năm 1973 đến nay đã gần 40 năm. Ông Tám khiếu nại không đồng ý giao đất tại 74 Ng.Q cho nguyên đơn, đất này ông đã được cha mẹ cho ở đến nay đã gần 50 năm, ông không đồng ý đến nhận đất của ông Hòa tại 33/3 Ng.Q theo quyết định của bản án phúc thẩm. Sau đó, bản án DSPT nêu trên đã bị kháng nghị, đề nghị cấp giám đốc thẩm xét xử hủy bản án DSPT và bản án DSST để xét xử sơ thẩm lại với nhận xét (trích) như sau: …Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm chia thừa kế theo pháp luật đối với tài sản của cụ Triệu, chia tài sản chung đối với tài sản của cụ My là đúng. Tuy nhiên, về cách chia hiện vật là chưa phù hợp, vì chia cho ông Tân được sử dụng diện tích đất 25m2 tại 74 Ng.Q, chia cho ông Tám phần diện tích đất 28,94m2 tại số 33/3 phố Ng.Q, nhưng theo Quyết định số 58/2009/QĐ-UB ngày 30/3/2009 của UBND thành phố HN quy định về hạn mức đất được tách thửa cho hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn thành phố HN phải có diện tích tối thiểu không nhỏ hơn 30m2, có chiều rộng mặt tiền và chiều sâu so với chỉ giới xây dựng từ 3m trở lên. Căn cứ kết quả xác minh tại cơ quan Tài nguyên Môi trường thị xã ST ngày 28/3/2014, thì nếu việc phân chia đất cho các đương sự không phù hợp diện tích theo quy định trên của UBND thành phố, nhưng các đương sự vẫn có quyền đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chung một thửa, thì vẫn được chấp nhận. Thực tế, đất của các cụ không rộng, ai cũng có nhu cầu sử dụng và một số người con đã đang trực tiếp sử dụng đất. Lẽ ra, phải giải thích để các đương sự thương lượng việc phân chia đất, nếu ai cũng có nhu cầu sử dụng thì vẫn phải chia và chỉ có quyền đề nghị cấp chung tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nếu các đương sự không đồng ý thì phải chia đất theo đúng quy định của UBND thành phố HN. Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm chưa làm rõ những nội dung trên nhưng vẫn chia đất cho các đương sự, có người không đủ điều kiện để cấp riêng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là chưa phù hợp. Căn cứ kết quả làm việc với Cơ quan thi hành án thị xã ST và đại diện UBND phường Ng.Q, thị xã ST ngày 28/3/2014, thì phần đất 28,94m2 tại 33/3 phố Ng.Q chia cho ông Tám, nhưng thực tế phần đất này ông Hòa đã chuyển nhượng cho bà Phạm Thị Hằng 24m2 từ ngày 25/5/2008 (giấy tờ viết tay), bà Hằng đã đóng thuế nhà đất từ năm 2009, hiện bà Hằng đang quản lý và sử dụng phần nhà đất này, nên Thi hành án không thể giao phần đất này cho ông Tám theo bản án được. Như vậy, việc thu thập chứng cứ của Tòa án cấp sơ thẩm, cấp phúc thẩm là có thiếu sót, không đưa bà Hằng tham gia tố tụng để giải quyết triệt để vụ án là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Trao đổi, bình luận Tại các lần xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, cấp sơ thẩm, cấp phúc thẩm đều chưa nghiên cứu toàn diện các quy định của pháp luật liên quan đến vấn đề thời hiệu khởi kiện, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, mà chỉ đơn thuần căn cứ vào thời điểm mở thừa kế để xác định di sản của cụ My hết thời hiệu khởi kiện, dẫn đến dù phải trải qua các lần xét xử khác nhau nhưng việc áp dụng pháp luật vẫn chưa bảo đảm chính xác. Khi xét xử sơ thẩm và phúc thẩm lần thứ nhất, Tòa án hai cấp đều xác định phần di sản của cụ My đã hết thời hiệu khởi kiện. Bản án sơ thẩm và phúc thẩm lần thứ hai và quyết định kháng nghị đều xác định di sản của cụ My đã được chuyển thành tài sản chung dù trong quá trình thương lượng, tự hòa giải, các thừa kế không đề cập, không thỏa thuận chuyển khối di sản của hai cụ thành tài sản chung của các thừa kế. Tại biên bản ngày 20/7/2008 cũng không có nội dung thể hiện là các đương sự thỏa thuận chuyển khối di sản của cụ My thành tài sản chung của các thừa kế. Biên bản này chỉ ghi nhận nội dung các đương sự đã tự hòa giải, thống nhất cách thức phân chia di sản của hai cụ. Do đó, việc xác định di sản của cụ My chuyển thành tài sản chung là không phù hợp với ý chí của đương sự, không đúng với những gì đã diễn ra với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Nghiên cứu diễn biến quá trình các đương sự tranh chấp, thỏa thuận thì thấy trước khi khởi kiện có hai lần các đương sự thỏa thuận về khối tài sản của hai cụ. Lần thứ nhất là ngày 25/4/2001 (khi cụ Triệu còn sống). Bản thỏa thuận có nội dung là để cho năm người con trai sử dụng tài sản của hai cụ, nhưng không có sự tham gia, không có ý kiến của cụ Triệu, không có chữ ký của cụ Triệu tại biên bản là xâm phạm đến quyền lợi của cụ Triệu. Bản thỏa thuận lần thứ hai là ngày 20/7/2008, sau khi cụ Triệu chết. Các đương sự (cả chín thừa kế) cùng nhau thương lượng, hòa giải và cuối cùng đã thống nhất cách phân chia khối di sản của hai cụ theo hướng năm người con trai được sử dụng, sở hữu ba khối di sản của hai cụ và mỗi người bỏ ra năm mươi triệu (tổng cộng hai trăm triệu) cho bốn bà con gái, chứ không thỏa thuận chuyển khối di sản thành tài sản chung. Thỏa thuận này là tự nguyện, không xâm phạm đến quyền lợi người khác, không vi phạm điều cấm của pháp luật. Tuy nhiên, những người con trai của hai cụ đã không tự nguyện thực hiện thỏa thuận và cũng chưa có cơ chế để thỏa thuận đó có hiệu lực cưỡng chế thi hành khi không tự nguyện thực hiện thỏa thuận nên dẫn đến tranh chấp, các nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án chia thừa kế.  Thỏa thuận ngày 20/8/2008 là một tài liệu, chứng cứ quan trọng, nhưng việc đánh giá, sử dụng tài liệu, chứng cứ đó như thế nào cho đúng với bản chất của sự việc và áp dụng chính xác các quy định của pháp luật dân sự là điều cần nghiên cứu, trao đổi thận trọng. Qua theo dõi thực tiễn giải quyết quan hệ thừa kế, hoặc liên quan đến di sản thừa kế, hiện nay, nhiều Thẩm phán khi tiếp nhận, giải quyết yêu cầu phân chia tài sản là di sản thừa kế thường chỉ nhìn nhận ở phạm vi rất hẹp, có trường hợp cũng không chú ý đến thời hiệu. Khi xem xét vấn đề thời hiệu cũng thường chỉ chú ý thời hạn 10 năm kể từ khi mở thừa kế. Sau khi có nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC thì Thẩm phán mới chú ý đến việc khối di sản đó có chuyển hóa thành tài sản chung hay không. Nhưng đồng thời cũng xuất hiện trường hợp nhận thức chưa thật đúng là không chia thừa kế được thì chia tài sản chung; không xem xét một cách toàn diện các vấn đề có liên quan, đặc biệt những trường hợp khi khởi kiện đã quá 10 năm. Theo tác giả để có thể xác định đúng quan hệ tranh chấp thì trước hết phải xem xét quan hệ gần gũi, trực tiếp là quan hệ thừa kế và tất cả các quy định có liên quan đến thời hiệu khởi kiện. Đặc biệt nếu nhận thấy kể từ khi mở thừa kế cho đến thời điểm khởi kiện đã quá 10 năm, thì lại càng phải quan tâm kiểm tra xem trong vụ án có căn cứ nào cho phép “kéo dài” thời gian khởi kiện chia thừa kế hay không, như: có thuộc trường hợp thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện không, có căn cứ nào để áp dụng trường hợp bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện không…? Nếu có căn cứ xác định thuộc một trong trường hợp nói trên thì phải chỉ ra các căn cứ trong hồ sơ, viện dẫn các quy định pháp luật tương ứng để xác định quan hệ pháp luật phải giải quyết vẫn là quan hệ tranh chấp thừa kế. Nếu không thuộc trường hợp trên thì cần xem có chuyển hóa từ di sản thừa kế sang tài sản chung của các thừa kế hay không. Muốn kết luận phần di sản nào đó trong vụ án trở thành tài sản chung của các thừa kế phải dựa trên căn cứ có ý nghĩa cốt lõi là: căn cứ vào sự thống nhất ý chí và thể hiện ý chí của tất cả các thừa kế có quyền hưởng di sản đó. Khi tất cả các thừa kế có quyền hưởng di sản thống nhất thỏa thuận chuyển khối di sản đó thành tài sản chung thì mới có thể xác định khối di sản thành tài sản chung. Sự thống nhất thỏa thuận của các thừa kế được thể hiện dưới những hình thức nhất định và trở thành chứng cứ của vụ án. Như phần trên đã phân tích, với tài liệu trong hồ sơ và căn cứ vào chính chứng cứ mà Tòa án cấp sơ thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm, kháng nghị giám đốc thẩm dựa vào để đưa ra kết luận thì tác giả thấy việc Tòa án các cấp xác định phần di sản của cụ My là tài sản chung của các thừa kế là không đúng, đã phạm các sai lầm cơ bản sau: Một là: trong vụ án này, các đương sự không thỏa thuận khối di sản của hai cụ hoặc phần di sản của cụ My chuyển thành tài sản chung, mà các thừa kế chỉ thỏa thuận cách thức phân chia di sản của cả hai cụ. Như vậy, di sản của cụ Triệu, di sản của cụ My không thể tự nhiên thành tài sản chung của các thừa kế hoặc tài sản chung của bất kỳ ai. Kết luận của các cấp Tòa án rõ ràng chưa đúng với thực tế, không phù hợp với thỏa thuận của các thừa kế và chưa phản ánh đúng bản chất của vụ án. Hai là: từ việc xác định phần di sản của cụ My được chuyển thành tài sản chung của các thừa kế chỉ là kết luận chủ quan của Hội đồng xét xử, không dựa trên căn cứ pháp lý nào dẫn đến sẽ không thể lý giải được dựa vào đâu để chia đều phần di sản của cụ My cho các thừa kế. Nếu biện luận rằng dựa vào thỏa thuận ngày 25/4/2001, thì trong thỏa thuận này các thừa kế chỉ giao cho năm người con trai sử dụng 3 khối tài sản là nhà đất, thuộc di sản của cả hai cụ, chứ không phải chỉ có phần di sản của cụ My. Điều quan trọng là khi đó cụ Triệu còn sống mà không có ý kiến của cụ và như trên đã phân tích thỏa thuận đó không có giá trị pháp lý. Xét về cả nội dung thỏa thuận lẫn giá trị pháp lý đều chưa đủ cơ sở để coi thỏa thuận đó là căn cứ xác định di sản của cụ My được chuyển thành tài sản chung. Nếu coi thỏa thuận ngày 20/7/2008 là căn cứ để xác định các thừa kế đã thỏa thuận chuyển di sản thành tài sản chung, thì không chỉ phần di sản của cụ My mà di sản của cả hai cụ đều chuyển thành tài sản chung. Vì bản thỏa thuận đó đã định đoạt toàn bộ khối di sản cùng theo một phương thức. Như vậy quyết định của các bản án là tự mâu thuẫn nhau, khi căn cứ pháp luật thừa kế để phân chia phần di sản của cụ Triệu, căn cứ quyền về tài sản chung để phân chia phần di sản của cụ My. Khi xử lý theo hướng đó, quyết định trong bản án sơ thẩm và phúc thẩm xuất hiện tiếp một mâu thuẫn mới, đó là trong bản thỏa thuận ngày 20/7/2008 không có nội dung nào xác định mỗi thừa kế có quyền sở hữu, sử dụng ngang nhau phần di sản của cụ My khi chuyển thành tài sản chung.  Trong bản thỏa thuận, các thừa kế của hai cụ đã xác định rất rõ quyền tài sản của mỗi thừa kế trong toàn bộ khối di sản của hai cụ là không bằng nhau. Năm người con trai hưởng phần lớn khối di sản của hai cụ, mỗi bà chỉ được hưởng 50.000.000đ. Như vậy thì logic tiếp theo khi Tòa án đã xác định phần di sản của cụ My chuyển thành tài sản chung thì buộc Tòa án phải xác định phần quyền của mỗi thừa kế trong khối tài sản chung đã được xác định đúng như các thừa kế đã thỏa thuận, nên việc Tòa án các cấp xác định quyền hưởng giá trị bằng nhau cho các thừa kế phần di sản của cụ My là không có căn cứ. Tuy thỏa thuận ngày 20/7/2008 không phải là căn cứ xác định di sản chuyển thành tài sản chung, nhưng dưới góc độ pháp lý thỏa thuận ngày 20/7/2008 của các thừa kế lại rất có giá trị, vì nội dung của thỏa thuận cho thấy các đương sự trong vụ án này không chỉ thừa nhận quyền và nghĩa vụ của các thành viên trong quan hệ thừa kế, mà còn tiến một bước cao hơn trong việc tự giải quyết mâu thuẫn, xung đột về lợi ích giữ các thừa kế đó là đã tự hòa giải, thỏa thuận việc phân chia lợi ích giữa các thừa kế. Do đó, bản thỏa thuận này phù hợp với một tình huống về bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện đã được dự liệu tại điểm c khoản 1 Điều 162 BLDS năm 2005 đó là: “các bên đã tự hòa giải với nhau”. Như vậy, căn cứ quy định tại điểm c khoản 1 Điều 162, căn cứ biên bản tự thỏa thuận, hòa giải ngày 20/7/2008 thì phải xác định vụ án này thuộc trường hợp áp dụng quy định về bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện. Theo quy định tại khoản 2 Điều 162 thì: “Thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự bắt đầu lại kể từ ngày tiếp theo sau ngày xảy ra sự kiện quy định tại khoản 1 Điều này”. Ngày 20/7/2008 các thừa kế lập biên bản tự thỏa thuận, hòa giải thì thời điểm để xác định ngày bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện chia thừa kế của vụ án này là ngày 21/7/2008. Theo quy định tại Điều 645 BLDS năm 2005 thì: “Thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.” Căn cứ vào các quy định nói trên của pháp luật thì tính đến ngày 22/7/2018 vụ án này mới hết thời hiệu khởi kiện. Do đó, ngày 26/10/2008, các nguyên đơn đã khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ My, cụ Triệu là còn trong thời hiệu khởi kiện. Lẽ ra, khi giải quyết tranh chấp, Tòa án vừa phải áp dụng điểm c khoản 1 Điều 162 BLDS, vừa phải áp dụng các quy định về chia thừa kế theo pháp luật trong BLDS để phân chia di sản của cả hai cụ theo pháp luật thì mới đúng. Từ các phân tích trên có thể thấy, có những quy định của pháp luật chưa  được các cấp Tòa án, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan có nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật nghiên cứu, áp dụng; đây là mắt xích yếu nhất của các cơ quan chức năng trong việc áp dụng pháp luật của vụ án này, cũng như một số trường hợp tương tự.                   Tưởng Duy Lượng – Nguyên Phó Chánh án TAND tối cao
Từ nhiều năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm xây dựng và tổ chức thực hiện các chính sách xã hội; coi đây vừa là mục tiêu, vừa là động lực để phát triển bền vững, ổn định chính trị - xã hội, thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ ta. Điều đó cũng bác bỏ những ý kiến sai trái cho rằng Nhà nước ta thiếu quan tâm đến quyền con người.   Thực vậy, Nghị quyết Trung ương 5 (khóa XI) chỉ rõ: “Chính sách xã hội có vai trò đặc biệt quan trọng, là mục tiêu, là động lực để phát triển nhanh và bền vững trong mọi giai đoạn phát triển”[1]. Mục tiêu cơ bản của chính sách xã hội là bảo đảm ổn định xã hội, tạo điều kiện cho sự tăng trưởng và phát triển, hướng tới sự công bằng, tiến bộ xã hội, không ngừng cải thiện, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và cuộc sống tốt đẹp, bình đẳng, hạnh phúc của nhân dân. Chính sách xã hội bao trùm trên mọi mặt của đời sống con người, như: điều kiện lao động, sinh hoạt, giáo dục, văn hóa, chăm sóc sức khỏe… và luôn gắn chặt, phụ thuộc rất lớn vào quá trình phát triển kinh tế, bản chất chính trị - xã hội của mỗi quốc gia, dân tộc. Chính sách xã hội và quyền con người có mối quan hệ chặt chẽ. Thực hiện tốt chính sách xã hội là một trong những bảo đảm quan trọng về quyền con người ở nước ta. Bởi, quyền con người luôn gắn bó mật thiết với các quyền cơ bản của dân tộc, với quyền công dân; phụ thuộc vào các điều kiện phát triển kinh tế - xã hội, lịch sử, văn hóa, dân tộc. Đảng ta xác định: "Chăm lo cho con người, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tất cả mọi người; tôn trọng và thực hiện các điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã ký kết tham gia"[2]. Thực hiện chính sách xã hội chính là quá trình cụ thể hóa quyền con người đã được ghi nhận và bảo vệ trong Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước cũng như các thỏa thuận pháp lý quốc tế[3]. Thông qua chính sách xã hội mà quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được bảo đảm ngày càng đầy đủ, hoàn thiện hơn, góp phần tạo động lực to lớn trong sự nghiệp xây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Cùng với quá trình đổi mới, phát triển kinh tế - xã hội, Đảng, Nhà nước ta đã nhận thức ngày càng cụ thể, đầy đủ hơn tầm quan trọng, mục tiêu và nội dung của việc giải quyết vấn đề xã hội, đặc biệt là an sinh xã hội, phúc lợi xã hội, bảo đảm toàn diện và tốt hơn quyền con người; khẳng định mục tiêu chính sách xã hội là nhằm xây dựng và phát triển con người, đem lại cuộc sống hạnh phúc cho con người, góp phần lành mạnh hóa xã hội và phát triển bền vững đất nước. Với nhận thức đó, trong những năm qua, nhất là trong thời kỳ đổi mới, Đảng, Nhà nước ta không ngừng hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về lĩnh vực xã hội; nguồn lực đầu tư được tăng cường và đa dạng hóa; phát huy được sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân thực hiện chính sách xã hội, chăm lo cho con người, tạo động lực xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nhìn lại 30 năm đổi mới, có thể nhận thấy, chính sách xã hội ở nước ta được triển khai tích cực, toàn diện, với hệ thống văn bản pháp lý đồng bộ, ngày  càng hoàn thiện; phản ánh tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa, đáp ứng được nguyện vọng của nhân dân và đã đạt được những thành tựu hết sức quan trọng trong việc chăm lo cho con người. Thứ nhất, các chính sách về lao động và việc làm của Nhà nước đã chuyển biến theo hướng ngày càng phù hợp hơn với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Bộ luật Lao động ban hành năm 1994 được sửa đổi nhiều lần (2002, 2006, 2007, 2012) đã tạo hành lang pháp lý cho việc hoàn thiện các tiêu chuẩn lao động, thiết lập quan hệ lao động giữa các chủ thể, điều chỉnh các quan hệ xã hội có liên quan đến quan hệ lao động, như: hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể, tiền lương, bảo hiểm xã hội, thời gian làm việc, vệ sinh lao động, kỷ luật lao động, giải quyết tranh chấp lao động, đình công, v.v. Việc xây dựng, triển khai thực hiện Luật Việc làm và Chương trình việc làm công đã góp phần định hướng nghề nghiệp, ổn định và phát triển thị trường lao động ở Việt Nam. Bình quân mỗi năm, nước ta đã tạo ra được từ 1,5 đến 1,6 triệu việc làm mới. Chất lượng lao động qua đào tạo không ngừng tăng lên, cơ cấu ngày càng phù hợp thị trường lao động. Năm 2014, lao động trong khu vực chính thức đạt trên 30% tổng số lao động. Thứ hai, Đảng và Nhà nước ta luôn nhất quán về chính sách giảm nghèo bền vững đi đôi với khuyến khích làm giàu hợp pháp. Đẩy mạnh việc triển khai thực hiện các nghị quyết của Chính phủ và Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo, những năm qua, nước ta thường xuyên chú trọng chính sách giảm nghèo đa chiều và khắc phục nguy cơ tái nghèo, nhất là đối với các huyện, xã nghèo, ở khu vực biên giới, biển, đảo còn nhiều khó khăn; thu hẹp chênh lệch về mức sống và an sinh xã hội so với bình quân cả nước. Đồng thời, tiến hành điều chỉnh chuẩn nghèo theo từng thời kỳ phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước. Nhờ đó, thành tựu về giảm nghèo của Việt Nam được Liên hợp quốc và cộng đồng quốc tế đánh giá cao; tỷ lệ hộ nghèo cả nước hằng năm giảm từ 1,5 đến 2%; các huyện, xã đặc biệt khó khăn giảm 4% theo tiêu chuẩn nghèo từng giai đoạn. Năm 1993, tỷ lệ hộ nghèo cả nước là 58,1%, đến năm 2014 giảm xuống còn 5,8 - 6%; phấn đấu đến năm 2015, tỷ lệ hộ nghèo còn dưới 5%, vùng đặc biệt khó khăn dưới 3%. Thứ ba, việc quan tâm chăm sóc sức khỏe cho nhân dân có nhiều tiến bộ. Hệ thống cơ sở y tế đã được hình thành trong cả nước; số bác sĩ, số giường bệnh trên một vạn dân tăng nhanh; hệ thống dịch vụ y tế ngày càng mở rộng và nâng cao chất lượng. Trong 10 năm gần đây, các quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng đã được thể chế hóa trong Hiến pháp năm 2013 và 20 luật liên quan đến lĩnh vực y tế, dân số, tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc chăm sóc sức khỏe người dân. Các chủ trương, giải pháp phát triển hệ thống y tế tương đối toàn diện, coi trọng cả về xây dựng thể chế và phát triển đồng bộ: y tế dự phòng, y học cổ truyền, quản lý thuốc, khám, chữa bệnh, phục hồi chức năng, vệ sinh an toàn thực phẩm... Tỷ lệ người tham gia bảo hiểm y tế hiện nay là trên 70% dân số (khoảng trên 61 triệu người); phấn đấu đến năm 2020, cơ bản hoàn thành lộ trình bảo hiểm y tế toàn dân. Thứ tư, chính sách ưu đãi người có công được Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm và ngày càng mở rộng đối tượng, mức thụ hưởng với chế độ ưu đãi toàn diện hơn. Cả nước hiện có khoảng 8,8 triệu người có công, chiếm khoảng 10% dân số, trong đó có khoảng 1,4 triệu người có công và thân nhân được hưởng trợ cấp thường xuyên, với mục tiêu là bảo đảm mức sống của người có công bằng hoặc cao hơn mức sống trung bình của dân cư trên địa bàn. Cùng với chính sách ưu đãi người có công, các đối tượng tham gia các thời kỳ kháng chiến, chiến tranh bảo vệ Tổ quốc (quân nhân, thanh niên xung phong, dân quân du kích, dân công hỏa tuyến,…) tiếp tục được hưởng các chế độ, chính sách và hỗ trợ của Nhà nước và cộng đồng. Các thiết chế chăm sóc người có công, tri ân các anh hùng, liệt sĩ ngày càng hoàn thiên và được quan tâm đầu tư. Công tác tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ được chú trọng, thể hiện tinh thần “Hiếu nghĩa bác ái”, “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc ta trong điều kiện mới. Thứ năm, xây dựng và từng bước hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội toàn diện, đa dạng, ngày càng mở rộng, hiệu quả. Nhà nước giữ vai trò chủ đạo kết hợp với xã hội hóa, mở rộng sự chia sẻ của cộng đồng; đồng thời, phát triển mạnh hệ thống bảo hiểm (bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp), khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để người lao động tiếp cận và tham gia. Đến năm 2014, cả nước có hơn 11 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, 190 nghìn người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện và hơn 9 triệu người tham gia bảo hiểm thất nghiệp. Hệ thống an sinh xã hội không ngừng phát triển phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội, khả năng huy động và cân đối nguồn lực của đất nước trong từng thời kỳ; trong đó, ưu tiên những người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, người nghèo và đồng bào dân tộc thiểu số. Chính sách bảo trợ xã hội được xây dựng và từng bước hoàn thiện, đối tượng hưởng đa dạng, mức hưởng ngày càng nâng lên; mở rộng các hình thức cứu trợ xã hội, giảm thiểu rủi ro, v.v. Thứ sáu, từng bước bảo đảm cung ứng với chất lượng ngày càng cao hơn một số dịch vụ xã hội cơ bản cho người dân. Người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn và đồng bào dân tộc thiểu số được bảo đảm nhu cầu tối thiểu về giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch, thông tin. Nhà nước đã quan tâm xây dựng, thực hiện chiến lược phát triển nhà ở quốc gia và chương trình xóa nhà tạm, phát triển nhà ở xã hội; xây dựng, ban hành và thực hiện nhiều chính sách, pháp luật về bình đẳng giới, chăm sóc bà mẹ và trẻ em, hôn nhân và gia đình, chăm sóc người cao tuổi, phòng, chống tệ nạn xã hội, bạo lực gia đình; tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về dân tộc, tôn giáo; tăng cường đầu tư về kết cấu hạ tầng, kinh phí cho miền núi, vùng sâu, vùng xa; bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các dân tộc và các tôn giáo trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Có thể khẳng định, những thành tựu về chính sách xã hội trong thời gian qua thể hiện sự nỗ lực vượt bậc của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Điều đó góp phần không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, nhất là những người có công, gia đình chính sách. Đồng thời, phản ánh truyền thống nhân văn của dân tộc và bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa luôn lấy con người làm trung tâm, vì sự phát triển tự do và toàn diện của con người, phù hợp với điều kiện của đất nước ta trong thời kỳ đầu quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Những thành tựu đó là tiền đề rất quan trọng để tạo sự đồng thuận trong xã hội, đưa nước ta ngày càng phát triển, tiến nhanh, tiến vững chắc trên con đường chủ nghĩa xã hội; khẳng định vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Điều đáng chú ý là, những kết quả đạt được nói trên càng trở nên quan trọng trong bối cảnh đất nước còn nhiều khó khăn (nước có thu nhập trung bình thấp). Qua đó, mới thấy hết được những cố gắng của Đảng, Nhà nước ta trong việc chăm lo đến quyền con người; đồng nghĩa với việc bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động cho rằng quyền con người ở Việt Nam không được bảo đảm. Quyền con người mặc dù mang giá trị phổ quát, nhưng việc bảo đảm quyền ấy đến đâu, đến mức độ nào còn tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa, tôn giáo và phong tục tập quán… của mỗi nước, mỗi dân tộc. Vì vậy, không thể đem điều kiện của nước này để áp vào quyền con người của nước khác để so sánh và phê phán. Cách làm đó không những không phù hợp với thực tiễn và dư luận quốc tế mà còn vi phạm nhân quyền, hơn thế là quyền của một quốc gia - dân tộc. Việt Nam không phủ nhận trong thực hiện bảo đảm quyền con người còn có mặt hạn chế, nhưng xét một cách tổng thể thì mặt được, mặt ưu việt là chủ yếu. Để bảo đảm quyền con người ở nước ta ngày càng tốt hơn, thời gian tới, các cấp, các ngành và địa phương cần tiếp tục quán triệt sâu sắc và thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 5, Trung ương 7 (khóa XI) về chính sách xã hội đến năm 2020; bám sát mọi mặt đời sống xã hội, gắn bó mật thiết với nhân dân để những thành tựu về chính sách, an sinh xã hội sẽ được tiếp tục phát huy, đời sống của người dân ngày càng được cải thiện./.             Thiếu tướng, TS. TRẦN VĂN MINH Cục trưởng Cục Chính sách     [1]- Nghị quyết Trung ương 5 (khoá XI), Nxb CTQG, H. 2012, tr. 68. [2]- ĐCSVN - Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb CTQG, H. 2001, tr. 134. [3]-Việt Nam đã tham gia 8 Công ước, 2 Nghị định thư quốc tế về quyền con người và là thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2014 - 2016.    
1. Quá trình hình thành, phát triển quy định của pháp luật về định giá đất Từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng cộng sản Việt Nam năm 1986, với chủ trương, chính sách “mở cửa”, nền kinh tế Việt Nam bắt đầu chuyển đổi từ mô hình quản lí “kinh tế kế hoạch hoá tập trung” sang mô hình “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Theo đó, nền kinh tế nhiều thành phần chính thức được thừa nhận, tạo điều kiện cho giao lưu kinh tế, thương mại phát triển. Để tạo dựng hành lang pháp lí cho những hoạt động giao thương này, cơ quan lập pháp đã đặc biệt chú trọng việc ban hành các văn bản pháp luật nhằm điều chỉnh các quan hệ kinh tế vận hành theo quỹ đạo của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Một trong những văn bản quan trọng sớm được ban hành trong thời kì đổi mới là Luật đất đai năm 1987 - văn bản luật đầu tiên điều chỉnh quan hệ thuộc lĩnh vực đất đai, yếu tố được xem là tư liệu sản xuất, yếu tố đầu vào quan trọng của mọi hoạt động sống, hoạt động sản xuất hàng hoá, dịch vụ… Do vừa bước ra khỏi nền kinh tế “quan liêu, bao cấp”, Luật đất đai năm 1987 vẫn còn ảnh hưởng tính bao cấp trong quan hệ sử dụng đất. Quan hệ sử dụng đất đóng khung theo “chiều dọc” với công thức “Nhà nước - Người sử dụng đất”, người sử dụng đất có nhu cầu thì được Nhà nước cấp đất, khi hết nhu cầu thì phải trả lại đất cho Nhà nước; pháp luật đất đai quy định nghiêm cấm việc “mua, bán, phát canh thu tô dưới mọi hình thức”.(1) Tuy nhiên, pháp luật thời kì này lại cho phép các chủ thể sử dụng đất hợp pháp được “hưởng thành quả lao động, kết quả đầu tư trên đất được giao, được quyền chuyển, nhượng, bán nhà ở, vật kiến trúc khác, cây lâu năm”(2) trên đất được giao. Ở giai đoạn này, pháp luật đất đai chưa thừa nhận đất đai là tài sản được tham gia giao lưu trong nền kinh tế thị trường, vì thế chưa xây dựng khuôn khổ định chế về giá đất. Hoạt động mua bán đất đai bị xử lí bằng chế tài xử phạt hành chính.(3) Đây là nguyên nhân cản trở việc hình thành thị trường bất động sản; phát sinh những giao dịch “ngầm” về mua bán đất đai mà hệ luỵ mang lại là những khiếu nại, khiếu kiện, những quan hệ đất đai phức tạp. Nền kinh tế thị trường không có sự tham gia đầy đủ của các loại hàng hoá bất động sản là khiếm khuyết lớn và là rào cản cho sự tặng trưởng của nền kinh tế. Theo đánh giá của Hernando de Soto - học giả người Peru thì “bất động sản chiếm khoảng 50% của cải quốc gia của các nước tiên tiến; ở các nước đang phát triển, con số này là gần ba phần tư”.(4) Trong khoảng thời gian từ năm 1987 đến năm 1993, việc các chủ thể sử dụng đất không được quyền mua bán, chuyển nhượng đất đai đồng nghĩa với việc khối lượng tài sản đất đai được đánh giá chiếm tới 75% tổng giá trị tài sản của quốc gia đã không được tham gia vào sự vận động của nền kinh tế thị trường; một nguồn vốn lớn không đưa vào lưu thông trên thị trường và đương nhiên thị trường bất động sản nói chung và thị trường đất đai nói riêng dường như chưa được hình thành. Trước tình hình đó, việc ban hành Luật đất đai năm 1993 với nhiều nội dung quan trọng đã giúp khai thông quan hệ sử dụng đất như: Việc xác lập các hình thức sử dụng đất khác nhau (giao đất, cho thuê đất; quy định về thời hạn sử dụng đất); mở ra các quyền năng về chuyển quyền sử dụng đất cho các chủ thể sử dụng đất hợp pháp… Đặc biệt, Luật đất đai năm 1993 lần đầu tiên thừa nhận đất đai là loại tài sản có giá, “Nhà nước xác định giá các loại đất để tính thuế chuyển quyền sử dụng đất, thu tiền khi giao đất hoặc cho thuê đất, tính giá trị tài sản khi giao đất, bồi thường thiệt hại về đất khi thu hồi đất. Chính phủ quy định khung giá các loại đất đối với từng vùng và theo từng thời gian”.(5) Như vậy, giá đất “khoản tiền quy định từ mức tối thiểu tới mức tối đa cho từng loại đất nhằm xác định nghĩa vụ tài chính của người sử dụng đất”(6) mang sứ mệnh quan trọng trong hoạt động quản lí và sử dụng đất tại Việt Nam; là cơ sở đầu tiên và cần thiết cho sự hình thành và phát triển thị trường bất động sản một cách toàn diện, trong đó có thị trường quyền sử dụng đất. Điều 12 Luật đất đai năm 1993 lần đầu tiên tiếp cận thuật ngữ “giá đất” trên cơ sở phân định các loại, các nhóm đất khác nhau để xác định giá các loại đất. Để cụ thể hoá các quy định về giá đất theo Luật đất đai năm 1993, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 80-CP ngày 06/11/1993 quy định khung giá các loại đất để tính thuế chuyển quyền sử dụng đất, thu tiền khi giao đất, cho thuê đất, tính giá trị tài sản khi giao đất, bồi thường thiệt hại về đất khi thu hồi. Việc định giá đất được xác định trên cơ sở phân loại các nhóm đất khác nhau như đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất khu dân cư nông thôn, đất đô thị và ở mỗi nhóm đất được phân hạng đất theo vị trí địa lí. Cụ thể: 1) Đối với đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, giá đất được xác định cho từng hạng đất tính thuế sử dụng đất nông nghiệp và chia theo ba loại xã: đồng bằng, trung du, miền núi; 2) Đối với đất khu dân cư nông thôn, giá đất được xác định cho từng hạng đất và chia theo ba loại xã: đồng bằng, trung du, miền núi; 3) Đối với đất khu dân cư ở các vùng ven đô thị, thị trấn, đầu mối giao thông và trục đường giao thông chính, khu thương mại, khu du lịch, khu công nghiệp, giá đất được xác định theo hai loại và chia thành sáu hạng đất; 4) Đối với khu dân cư ở đô thị, giá đất được xác định cho năm loại đô thị theo Quyết định của Hội đồng bộ trưởng số 132/HĐBT ngày 05/5/1990. Mỗi loại đô thị được chia ra thành ba đến bốn loại đường phố, mỗi loại đường phố được chia ra bốn vị trí đất khác nhau, từ đó hình thành bảng khung giá đất. Trên cơ sở này, uỷ ban nhân dân (UBND) tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quy định giá các loại đất, hạng đất phù hợp với thực tế tại mỗi địa phương theo nguyên tắc giá đất do địa phương quy định sát với giá thị trường và không thấp hơn bảng khung giá chuẩn do Chính phủ ban hành. Theo Nghị định của Chính phủ số 87-CP ngày 17/8/1994 quy định về khung giá các loại đất (thay thế Nghị định số 80-CP), căn cứ vào bảng khung giá của Chính phủ, UBND cấp tỉnh quy định giá các loại đất để làm cơ sở tính thuế chuyển quyền sử dụng đất, thu tiền khi giao đất, cho thuê đất, tính giá trị tài sản khi giao đất, bồi thường thiệt hại về đất khi thu hồi. Đồng thời Nghị định số 87-CP cũng xây dựng và hình thành hệ số k - hệ số điều chỉnh khung giá được sử dụng cho những trường hợp cùng một loại đô thị mà đất có khả năng sinh lợi khác nhau, mức độ hoàn thiện cơ sở hạ tầng khác nhau thì địa phương được phép vận dụng hệ số điều chỉnh khung giá từ 0,8 đến 1,2 lần mức giá của cùng loại đô thị, cùng loại đường phố và vị trí đất quy định trong bảng khung giá đất đô thị. Giá các loại đất do địa phương quy định được xác định với nguyên tắc không được thấp hơn giá tối thiểu và không được cao hơn giá tối đa của khung giá và hệ số điều chỉnh khung giá. Tuy nhiên, đến Nghị định của Chính phủ số 17-CP ngày 21/3/1998 sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 4 Nghị định số 87-CP lại quy định theo hướng giá các loại đất do địa phương quy định có thể thấp hơn giá tối thiểu hoặc cao hơn giá tối đa của khung giá các loại đất ban hành kèm theo Nghị định số 87-CP và hệ số k đã được điều chỉnh tại Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 302/TTg ngày 13/5/1996 nhưng mức giảm hoặc tăng giá không vượt quá 50%. Tiếp theo, Luật đất đai năm 2003 đã làm rõ thuật ngữ “giá đất” tại Điều 4, theo đó “giá đất là số tiền tính trên một đơn vị diện tích đất do Nhà nước quy định hoặc được hình thành trong giao dịch về quyền sử dụng đất”;(7) Điều 56 Luật đất đai năm 2003 xác định  rõ  những  nguyên  tắc  trong  việc  xác định giá đất như sau: Thứ nhất, giá đất do Nhà nước quy định phải sát với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường trong điều kiện bình thường; khi có chênh lệch lớn so với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường thì phải điều chỉnh cho phù hợp. Đây là nguyên tắc mang tính kế thừa từ Nghị định số 80-CP. Việc luật hoá nguyên tắc này được xem là bước đột phá nhằm khẳng định quan điểm trong hoạt động quản lí nhà nước về đất đai là hướng tới giá đất do Nhà nước ban hành thực sự sát với giá thị trường nhằm đảm bảo việc xác định các nghĩa vụ tài chính trong quan hệ đất đai một cách chính xác và công bằng; đồng thời hướng tới việc xác định giá đất trong đền bù khi Nhà nước thu hồi đất cho người sử dụng đất một cách thoả đáng. Tuy nhiên, trong thực tế 10 năm thi hành Luật đất đai năm 2003 cho thấy mặc dù các cơ quan quản lí nhà nước về định giá đất đã rất cố gắng song giá đất do Nhà nước quy định so với giá đất giao dịch trên thị trường luôn có sự chênh lệch khá lớn. Sự chênh lệch này đã gây ra nhiều bức xúc trong xã hội, nhất là công tác đền bù, giải phóng mặt bằng hay thu hồi đất. Thực tế đó đòi hỏi phải có những giải pháp đồng bộ để giá đất do Nhà nước quy định phải phù hợp với giá giao dịch trên thị trường. Thứ hai, giá đất do Nhà nước quy định đối với các thửa đất liền kề nhau, có điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, kết cấu hạ tầng như nhau, có cùng mục đích sử dụng hiện tại, cùng mục đích sử dụng theo quy hoạch thì mức giá như nhau. Thứ  ba, giá đất do Nhà nước quy định đối với đất tại khu vực giáp ranh giữa các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, có điều kiện tự nhiên, kết cấu hạ tầng như nhau, có cùng mục đích sử dụng hiện tại, cùng mục đích sử dụng theo quy hoạch thì mức giá như nhau. Luật đất đai năm 2003 cũng bước đầu tạo dựng cơ sở cho việc hình thành các phương pháp xác định giá đất bằng việc trao quyền xây dựng phương pháp xác định giá đất cho Chính phủ. Trên cơ sở đó, Chính phủ ban hành Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 quy định về khung giá các loại đất và phương pháp xác định giá đất. Theo đó có các phương pháp xác định giá đất sau: - Phương pháp so sánh trực tiếp: Là phương pháp xác định mức giá thông qua việc tiến hành phân tích các mức giá đất thực tế đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên thị trường của loại đất tương tự (về loại đất, diện tích đất, thửa đất, hạng đất, loại đô thị, loại đường phố và vị trí) để so sánh, xác định giá của thửa đất, loại đất cần định giá. Phương pháp so sánh trực tiếp được áp dụng để định giá đất khi trên thị trường có các loại đất tương tự đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất so sánh được với loại đất cần định giá. Giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất của loại đất tương tự sử dụng để phân tích, so sánh với loại đất cần định giá phải là giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường trong điều kiện bình thường. - Phương pháp thu nhập: Là phương pháp xác định mức giá tính bằng thương số giữa mức thu nhập thuần tuý thu được hàng năm trên 1 đơn vị diện tích đất so với lãi suất tiền gửi tiết kiệm bình quân một năm (tính đến thời điểm xác định giá đất) của loại tiền gửi VND kì hạn 01 năm (12 tháng) tại ngân hàng thương mại nhà nước có mức lãi suất tiền gửi tiết kiệm cao nhất trên địa bàn. Phương pháp thu nhập chỉ áp dụng để định giá cho các loại đất xác định được các khoản thu nhập mang lại từ đất. Ngày 27/7/2007, Chính phủ ban hành Nghị định số 123/2007/NĐ-CP sửa đổi một số điều của Nghị định số 188/2004/NĐ-CP, theo đó bổ sung thêm hai phương pháp xác định giá đất: - Phương pháp chiết trừ: Là phương pháp xác định giá đất của thửa đất có tài sản gắn liền với đất bằng cách loại trừ phần giá trị tài sản gắn liền với đất ra khỏi tổng giá trị bất động sản (bao gồm giá trị của đất và giá trị của tài sản gắn liền với đất). Phương pháp chiết trừ được áp dụng để xác định giá đất của thửa đất có tài sản gắn liền với đất trong trường hợp không có đủ số liệu về giá thị trường của các thửa đất trống tương tự để áp dụng phương pháp so sánh trực tiếp, trong khi có thể thu thập số liệu về giá thị trường của các thửa đất có tài sản gắn liền với đất tương tự với thửa đất cần xác định giá. - Phương pháp thặng dư: Là phương pháp xác định giá đất của thửa đất trống có tiềm năng phát triển theo quy hoạch hoặc được phép chuyển đổi mục đích sử dụng để sử dụng tốt nhất bằng cách loại trừ phần chi phí ước tính để tạo ra sự phát triển ra khỏi tổng giá trị phát triển giả định của bất động sản. Phương pháp thặng dư được áp dụng để xác định giá đất của các thửa đất trống có tiềm năng phát triển do thay đổi quy hoạch hoặc do chuyển mục đích sử dụng đất trong khi không có giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất tương tự trên thị trường để áp dụng phương pháp so sánh trực tiếp. Hiệu lực của bảng giá đất do UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương xây dựng và ban hành trên cơ sở bảng khung giá đất của Chính phủ thời kì này được xác định hàng năm từ ngày 01/01 tới ngày 31/12 của năm đó và được công bố công khai vào ngày 01/01 hàng năm. Bảng giá đất này được sử dụng làm căn cứ để tính thuế sử dụng đất, thuế thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất; tính tiền sử dụng đất và tiền thuê đất khi giao đất, cho thuê đất không thông qua đấu giá quyền sử dụng đất hoặc đấu thầu dự án có sử dụng đất; tính giá trị quyền sử dụng đất khi giao đất không thu tiền sử dụng đất, lệ phí trước bạ, bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất; tính tiền bồi thường đối với người có hành vi vi phạm pháp luật về đất đai mà gây thiệt hại cho Nhà nước.(8) Như vậy, kể từ khi văn bản luật đất đai đầu tiên được ban hành - Luật đất đai năm 1987 cho tới trước thời điểm ban hành Luật đất đai năm 2013 là quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật về định giá đất. Nếu Luật đất đai năm 1987 vẫn còn ảnh hưởng tính bao cấp trong quan hệ sử dụng đất, đất đai chưa là đối tượng giao lưu trong nền kinh tế, đất đai không có giá, không được định giá thì Luật đất đai năm 1993 đã thay đổi căn bản cách tiếp cận đối với đất đai - loại tài sản đặc biệt của mỗi quốc gia. Theo đó, Luật đất đai năm 1993 thừa nhận đất đai là loại tài sản có giá, được định giá với những nguyên tắc xác định; đồng thời xác lập các quy định về quyền chuyển quyền sử dụng đất của các chủ thể tham gia trong quan hệ pháp luật đất đai, tạo cơ sở cho đất đai trở thành đối tượng được giao lưu trong nền kinh tế. Đặc biệt, đến Luật đất đai năm 2003, với các quy định về định giá đất đã tạo nên bước tiến quan trọng trong hoạt động quản lí nhà nước về đất đai. Ở Luật đất đai năm 1993, “giá đất do Nhà nước quy định được áp dụng cho nhiều mục đích khác nhau, vừa áp dụng để thu các nghĩa vụ tài chính của người sử dụng đất, vừa là cơ sở để người sử dụng thoả thuận khi thực hiện các giao dịch dân sự về đất đai, là căn cứ để xác định bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất. Với các quy định trước đây thì giá đất do Nhà nước xác định thể hiện sự bao cấp trong giao đất, cho thuê đất. Do vậy, giá đất này được sử dụng để tính bồi thường cho người bị Nhà nước thu hồi đất đã không nhận được sự đồng thuận của người sử dụng đất. Hơn nữa, giá đất này lại không thể là giá mà các bên thoả thuận khi chuyển quyền sử dụng đất. Đây là nguyên nhân làm nảy sinh những vấn đề tiêu cực và phức tạp trong thực tế như: “lách luật để trốn thuế”, lậu thuế; khiếu nại, tố cáo… kéo dài trong lĩnh vực bồi thường, giải phóng mặt bằng”.(9) Đến Luật đất đai năm 2003, nguyên tắc giá đất do Nhà nước quy định “sát với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường trong điều kiện bình thường”(10) đã được luật định; đồng thời Luật cũng xây dựng bốn phương pháp định giá đất nhằm đảm bảo cho nguyên tắc này được thực hiện trong thực tiễn. Tuy nhiên, việc áp dụng các quy định của Luật đất đai năm 2003 về nguyên tắc và phương pháp định giá đất trong việc xác định nghĩa vụ tài chính, xác định giá bồi thường khi thu hồi đất vẫn còn gặp nhiều vướng mắc. Luật đất đai năm 2013 được thông qua và có hiệu lực kể từ ngày 01/07/2014 với nhiều nội dung được kì vọng là khung khổ pháp lí toàn diện nhằm khắc phục những bất cập, hạn chế trong hoạt động quản lí, sử dụng đất hiện nay, trong đó có định giá đất. Vấn đề này sẽ được đi sâu phân tích ở phần sau để thấy rõ được những sửa đổi căn bản và những giá trị mang lại trong quản lí nhà nước về định giá đất ở những nội dung: Nguyên tắc định giá đất; phương pháp định giá đất và áp dụng phương pháp định giá đất; khung giá đất và xây dựng, áp dụng bảng giá đất; định giá đất cụ thể và tư vấn xác định giá đất.   2. Nội dung quản lí nhà nước về định giá đất theo Luật đất đai năm năm 2013 Theo Luật  đất  đai  năm  2013  và  Nghị định của Chính phủ số 44/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014, quản lí nhà nước về định giá đất gồm những nội dung đáng chú ý sau đây: Thứ nhất, về nguyên tắc định giá đất So với Luật đất đai năm 2003, Luật đất đai năm 2013 đã bổ sung 2 nguyên tắc và chỉnh sửa 1 nguyên tắc. Cụ thể, các nguyên tắc định giá đất bao gồm: 1) Theo mục đích sử dụng đất hợp pháp tại thời điểm định giá; 2) Theo thời hạn sử dụng đất; 3) Phù hợp với giá đất phổ biến trên thị trường của loại đất có cùng mục đích sử dụng đã chuyển nhượng, giá trúng đấu giá quyền sử dụng đất đối với những nơi có đấu giá quyền sử dụng đất hoặc thu nhập từ việc sử dụng đất; 4) Cùng một thời điểm, các thửa đất liền kề nhau có cùng mục đích sử dụng, khả năng sinh lợi, thu nhập từ việc sử dụng đất tương tự như nhau thì có mức giá như nhau.(11) Với việc quy định như trên, Luật đất đai năm 2013 đã phần nào cho thấy khả năng sẽ khắc phục được những tồn tại về nguyên tắc định giá đất trong Luật đất đai năm 2003, đó là: Chưa định lượng được thế nào là “sát với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường trong điều kiện bình thường”;(12) chưa quy định cụ thể theo mục đích sử dụng đất mà mới chỉ dừng lại xem xét về mục đích sử dụng đất trong mối tương quan giữa các thửa đất liền kề nhau nếu “có điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, kết cấu hạ tầng như nhau, có cùng mục đích sử dụng hiện tại, cùng mục đích sử dụng theo quy hoạch thì mức giá như nhau”;(13) chưa quy định cụ thể việc định giá đất theo thời hạn sử dụng đất đồng thời quy định về định giá đất của Luật đất đai năm 2003 cũng chưa bao hàm hết đối với những nơi, những loại đất không có giao dịch về quyền sử dụng đất. Thứ hai, về phương pháp định giá đất và áp dụng phương pháp định giá đất - Về phương pháp định giá đất: Trên cơ sở quy định tại khoản 2 Điều 112 Luật đất đai năm 2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 44/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 quy định về giá đất. Nghị định này đã kế thừa quy định tại Nghị định số 188/2004/NĐ-CP và Nghị định số 123/2007/NĐ-CP; theo đó, tiếp tục quy định 4 phương pháp định giá đất là: Phương pháp so sánh trực tiếp; phương pháp chiết trừ; phương pháp thu nhập và phương pháp thặng dư. Đối với bốn phương pháp định giá này, Nghị định số 44/2014/NĐ-CP đã chỉnh sửa, bổ sung thông tin về giá đất lựa chọn để so sánh không chỉ là giá chuyển nhượng thực tế trên thị trường mà còn có giá trúng đấu giá quyền sử dụng đất cho phù hợp với Điều 112 Luật đất đai năm 2013. Bên cạnh đó, Nghị định đã bổ sung phương pháp hệ số điều chỉnh giá đất. Đây là phương pháp định giá đất bằng cách sử dụng hệ số điều chỉnh giá đất nhân (x) với giá đất trong bảng giá đất do UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ban hành. Phương pháp này được áp dụng trong một số trường hợp tính thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, tính giá trị quyền sử dụng đất mà thửa đất (khu đất) của dự án có giá trị không lớn; xác định giá đất tính bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất đối với trường hợp dự án có các thửa đất liền kề nhau, có cùng mục đích sử dụng, khả năng sinh lợi và thu nhập từ việc sử dụng đất tương tự nhau. Việc bổ sung phương pháp này đáp ứng được yêu cầu thực tiễn trong công tác định giá đất, bởi trong cơ chế kinh tế thị trường hiện nay mỗi giao dịch diễn ra trong nền kinh tế luôn chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khách quan, chủ quan, thậm chí dẫn tới không thể kiểm soát được giá thị trường. Trong trường hợp đó, việc bổ sung giá đất lựa chọn để so sánh còn là giá trúng đấu giá quyền sử dụng đất được đảm bảo bằng cơ chế kiểm soát theo hoạt động đấu giá quyền sử dụng đất, vì thế giá đất lựa chọn để so sánh đảm bảo minh bạch và phù hợp với thị trường. Ngoài ra, việc sửa đổi như vậy về giá đất lựa chọn để so sánh, định giá còn mang lại cơ hội cho việc định giá đất đồng loạt với những thửa đất ở nơi ít có giao dịch hoặc không có giao dịch, đáp ứng nhu cầu định giá đất với số lượng thửa đất còn lớn như hiện nay bổ sung sự khiếm khuyết về năng lực của đội ngũ tư vấn giá đất còn hạn chế. - Về áp dụng phương pháp định giá đất: Nghị định số 44/2014/NĐ-CP cũng đã quy định cụ thể yêu cầu thông tin trong áp dụng phương pháp định giá đất phải bảo đảm khách quan, trung thực. Đối với phương pháp so sánh trực tiếp mà tại khu vực định giá không có thông tin giá đất thị trường thì có thể thu thập thông tin ở khu vực lân cận có đặc điểm tương tự. Thứ ba, về khung giá đất và xây dựng, áp dụng bảng giá đất - Về khung giá đất: Khoản 3 Điều 56 Luật đất đai năm 2003 quy định giao cho Chính phủ ban hành khung giá các loại đất nhưng chưa quy định rõ thời hạn phải ban hành mới khung giá các loại đất và chỉ quy định việc điều chỉnh khung giá các loại đất khi giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường có biến động lớn. Luật đất đai năm 2013 đã giao “Chính phủ ban hành khung giá các loại đất định kì 05 năm một lần đối với từng loại đất, theo từng vùng. rong thời gian thực hiện khung giá đất mà giá đất ph biến trên thị trường tăng từ 20% trở lên so với giá tối đa hoặc giảm từ 20% trở lên so với giá tối thiểu trong khung giá đất thì Chính phủ điều chỉnh khung giá đất cho phù hợp” (Điều 113). Việc điều chỉnh khung giá đất còn được quy định cụ thể hơn ở Nghị định số 44/2014/NĐ-CP đối với trường hợp khi giá đất phổ biến trên thị trường tăng từ 20% trở lên so với giá tối đa hoặc giảm từ 20% trở lên so với giá tối thiểu trong khung giá đất trong khoảng thời gian từ 180 ngày trở lên thì Bộ tài nguyên và môi trường tổ chức xây dựng, trình Chính phủ điều chỉnh khung giá đất. Về trình tự, trách nhiệm xây dựng và thẩm định khung giá đất điều chỉnh thực hiện tương tự như xây dựng khung giá đất. - Về xây dựng và áp dụng bảng giá đất: Theo quy  định  của  Luật  đất  đai  năm 2003 thì bảng giá đất do UBND cấp tỉnh xây dựng, ban hành và công bố công khai vào ngày 01/01 hàng năm. Bảng giá đất được sử dụng làm căn cứ để thực hiện thu nghĩa vụ tài chính và tính bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất. Tuy nhiên, do bảng giá đất phải đảm bảo hài hoà nhiều mục đích khác nhau, đã dẫn đến thực tế là giá đất trong bảng giá đất luôn thấp hơn giá chuyển nhượng thực tế trên thị trường (phổ biến bằng 30 - 60% giá đất thị trường),(14) gây thất thu cho ngân sách nhà nước khi thực hiện giao đất, cho thuê đất và gây khiếu kiện khi Nhà nước thu hồi đất. Đồng thời, việc ban hành bảng giá đất hàng năm gây khó khăn trong công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng do người có đất thu hồi có tâm lí chờ đợi giá đất mới của năm sau cao hơn năm trước và tốn kém về kinh phí, nhân lực, nhất là đối với nơi, loại đất không có giao dịch về quyền sử dụng đất hoặc không có biến động về giá đất thị trường. Để khắc phục những tồn tại, bất cập này, Luật đất đai năm 2013 đã quy định như sau: Bảng giá đất được xây dựng định kì 05 năm một lần và công bố công khai vào ngày 01/01 của năm đầu kì. Trong thời gian thực hiện bảng giá đất, khi Chính phủ điều chỉnh khung giá đất hoặc giá đất phổ biến trên thị trường có biến động thì UBND cấp tỉnh điều chỉnh bảng giá đất cho phù hợp. Trước khi trình hội đồng nhân dân cùng cấp thông qua bảng giá đất ít nhất 60 ngày, UBND cấp tỉnh gửi dự thảo bảng giá đất đến cơ quan có chức năng xây dựng khung giá đất xem xét, trường hợp có chênh lệch lớn về giá đất giáp ranh giữa các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì báo cáo Thủ tướng Chính phủ quyết định (khoản 1 Điều 114). Bảng giá đất được sử dụng để làm căn cứ trong các trường hợp: 1) Tính tiền sử dụng đất khi Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất ở của hộ gia đình, cá nhân đối với phần diện tích trong hạn mức; cho phép chuyển mục đích sử dụng đất từ đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp không phải là đất ở sang đất ở đối với phần diện tích trong hạn mức giao đất ở cho hộ gia đình, cá nhân; 2) Tính thuế sử dụng đất; 3) Tính phí và lệ phí trong quản lí, sử dụng đất đai; 4) Tính tiền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai; 5) Tính tiền bồi thường cho Nhà nước khi gây thiệt hại trong quản lí và sử dụng đất đai; 6) Tính giá trị quyền sử dụng đất để trả cho người tự nguyện trả lại đất cho Nhà nước đối với trường hợp đất trả lại là đất Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, công nhận quyền sử dụng đất có thu tiền sử dụng đất, đất thuê trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê (khoản 2 Điều 114). Thứ tư, về định giá đất cụ thể Đây là một trong những nội dung mới của Luật đất đai năm 2013. Luật đất đai năm 2003 chưa có quy định về định giá đất cụ thể nhưng trong quá trình tổ chức thực hiện,  Chính phủ  đã  ban hành Nghị định số 17/2006/NĐ-CP (khoản 2 Điều 4, khoản 1 Điều 5, Điều 6) và Nghị định số 123/2007/NĐ-CP (khoản 12 Điều 1), Nghị định số 69/2009/NĐ-CP (Điều 11) quy định về vấn đề này theo hướng: Trường hợp giá đất trong bảng giá đất chưa sát với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường thì UBND cấp tỉnh căn cứ vào giá đất chuyển nhượng thực tế trên thị trường quyết định giá đất cụ thể nhằm hạn chế thất thu cho ngân sách nhà nước, bảo đảm tốt hơn quyền lợi của người có đất bị thu hồi. Tuy nhiên, quy định này chưa thực sự rõ ràng, gây ra tình trạng hầu hết các địa phương lúng túng trong việc xác định giá đất trong các quan hệ quản lí nhà nước về đất đai, vì vậy trên thực tế để “né tránh sự khó khăn này” các địa phương vẫn áp dụng bảng giá đất để tính thu các khoản nghĩa vụ tài chính và tính bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất. Để khắc phục tồn tại này, Luật đất đai năm 2013 đã quy định: “UBND cấp tỉnh quyết định giá đất cụ thể. Cơ quan quản lí đất đai cấp tỉnh có trách nhiệm giúp UBND cấp tỉnh t chức việc xác định giá đất cụ thể. Trong quá trình thực hiện, cơ quan quản lí đất đai cấp tỉnh được thuê t chức có chức năng tư vấn xác định giá đất để tư vấn xác định giá đất cụ thể. Việc xác định giá đất cụ thể phải dựa trên cơ sở điều tra, thu thập thông tin về thửa đất, giá đất thị trường và thông tin về giá đất trong cơ sở dữ liệu đất đai; áp dụng phương pháp định giá đất phù hợp. Căn cứ kết quả tư vấn xác định giá đất, cơ quan quản lí đất đai cấp tỉnh trình hội đồng thẩm định giá đất xem xét trước khi trình UBND cùng cấp quyết định. Hội đồng thẩm định giá đất gồm chủ tịch UBND cấp tỉnh làm chủ tịch và đại điện của cơ quan, tổ chức có liên quan, t chức có chức năng tư vấn xác định giá đất” (khoản 3 Điều 114). Giá đất cụ thể được sử dụng làm căn cứ trong các trường hợp sau: “a) Tính tiền sử dụng đất khi Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân đối với phần diện tích đất ở vượt hạn mức; cho phép chuyển mục đích sử dụng đất từ đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp không phải là đất ở sang đất ở đối với phần diện tích vượt hạn mức giao đất ở cho hộ gia đình, cá nhân. Tính tiền thuê đất đối với đất nông nghiệp vượt hạn mức giao đất, vượt hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân; b) Tính tiền sử dụng đất khi Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất không thông qua hình thức đấu giá quyền sử dụng đất; công nhận quyền sử dụng đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất đối với t chức mà phải nộp tiền sử dụng đất; c) Tính tiền thuê đất đối với trường hợp Nhà nước cho thuê đất không thông qua hình thức đấu giá quyền sử dụng đất; d) Tính giá trị quyền sử dụng đất khi c phần hoá doanh nghiệp nhà nước mà doanh nghiệp cổ phần sử dụng đất thuộc trường hợp Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê; tính tiền thuê đất đối với trường hợp doanh nghiệp nhà nước c phần hoá được Nhà nước cho thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm; đ) Tính tiền bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất” (khoản 4 Điều 114). Thứ năm, về tư vấn xác định giá đất Luật đất đai năm 2003 chỉ dành một điều quy định về tư vấn giá đất và giá đất tư vấn chỉ được sử dụng để tham khảo trong quản lí nhà nước về tài chính đất đai và trong hoạt động giao dịch về quyền sử dụng đất. Do vậy, hoạt động tư vấn giá đất hạn chế, năng lực tư vấn định giá đất chưa đáp ứng được yêu cầu. Để khắc phục tồn tại này, Luật đất đai năm 2013 đã dành hai điều (Điều 115, Điều 116) để quy định các trường hợp tư vấn giá đất được thực hiện, điều kiện hoạt động tư vấn giá đất và hành nghề tư vấn giá đất, quyền và nghĩa vụ của tổ chức tư vấn có chức năng tư vấn xác định giá đất; đặc biệt Luật quy định giá đất tư vấn xác định là một trong các căn cứ để cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định giá đất. Cụ thể hoá quy định tại khoản 2 Điều 115 Luật đất đai năm 2013, Nghị định số 44/2014/NĐ-CP đã quy định nguyên tắc hoạt động tư vấn định giá đất, điều kiện hoạt động tư vấn xác định giá đất, hành nghề tư vấn xác định giá đất. Theo đó: “1. T chức được hoạt động tư vấn xác định giá đất khi có đủ các điều kiện sau đây: a)   Có chức năng tư vấn xác định giá đất hoặc thẩm định giá hoặc tư vấn định giá bất động sản; b)   Có ít nhất 03 định giá viên đủ điều kiện hành nghề tư vấn xác định giá đất quy định tại Khoản 2 Điều này. 2. Cá nhân chỉ được hành nghề tư vấn xác định giá đất trong t chức có chức năng tư vấn xác định giá đất và phải có đủ các điều kiện sau đây: a)   Có năng lực hành vi dân sự; b)   Có phẩm chất đạo đức, liêm khiết, trung thực, khách quan; c)    Có trình độ từ đại học trở lên chuyên ngành về quản lí đất đai, vật giá, thẩm định giá, địa chính, kinh doanh bất động sản, kinh tế bất động sản và các chuyên ngành khác liên quan đến định giá đất; d)   Có thời gian công tác thực tế theo chuyên ngành đào tạo từ 36 tháng trở lên sau khi có bằng tốt nghiệp chuyên ngành quy định tại điểm c khoản này; e)    Có hẻ thẩm định viên về giá được cấp theo quy định của pháp luật về giá hoặc có Chứng chỉ định giá bất động sản được cấp theo quy định của pháp luật về kinh doanh bất động sản hoặc Chứng chỉ định giá đất” (Điều 20)./. Đỗ Xuân Trọng[1]   *  [1] Thạc sĩ luật học, giảng viên -Trường Đại học Luật Hà Nội (1).Xem: Điều 5 Luật đất đai năm 1987. (2).Xem: Điều 49 Luật đất đai năm 1987. (3).Xem: Điều  53 Luật  đất đai năm 1987 quy định:   “Người nào mua, bán, lấn, chiếm đất đai, phát canh thu tô… thì bị xử phạt hành chính”.   (4).Xem: Hernando De Soto, Sự bí ấn của tư bản (TS. Nguyễn Quang A dịch), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr. 86.   (5).Xem: Điều 12 Luật đất đai năm 1993.   (6).Xem: Trường Đại học Luật Hà Nội, Từ điển thuật ngữ luật học, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 1999, tr. 34.   (7).Xem: Điều 4 Luật đất đai năm 2003.   (8).Xem: Khoản 4 Điều 56 Luật đất đai năm 2003.   (9).Xem: TS. Nguyễn Thị Nga, T ng quan pháp luật về giá đất, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2013, tr. 151.   (10).Xem: Điều 56 Luật đất đai năm 2003.   (11).Xem: Khoản 1 Điều 112 Luật đất đai năm 2013. (12).Xem: Điều 56 Luật đất đai năm 2003.     (13).Xem: Điểm b khoản 1 Điều 56 Luật đất đai năm 2003. (14). Nguồn: http://vneconomy.vn/bat-dong-san/khong-the-co-chuyen-khung-gia-dat-bang-gia-thi-truong-20130808124211982.htm, truy cập ngày 11/9/2014.
Luật Bảo hiểm xã hội sửa đổi (Luật BHXH 2014) chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 1-1-2016 là một bước phát triển mới về chính sách an sinh xã hội (ASXH) nói chung, hệ thống pháp luật BHXH nói riêng. Trước yêu cầu phát triển của giai đoạn mới, chính sách BHXH với vai trò trụ cột đang đứng trước thời cơ, vận hội mới, cần có những giải pháp phù hợp, hiệu quả hơn. Phát triển BHXH trong tình hình mới Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định“Công dân có quyền được bảo đảm an sinh xã hội” (Điều 34) và “Nhà nước tạo bình đẳng về cơ hội để công dân thụ hưởng phúc lợi xã hội, phát triển hệ thống an sinh xã hội...” (Điều 59). Để hiện thực hóa Hiến pháp 2013, tại kỳ họp thứ 8, ngày 20-11-2014, Quốc hội khóa XIII thông qua Luật BHXH 2014. Việc sửa đổi Luật BHXH đã cơ bản đáp ứng mục tiêu đổi mới căn bản, toàn diện pháp luật về BHXH nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển hệ thống ASXH phù hợp nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế trong tình hình mới. Đồng thời, khắc phục những hạn chế trong chính sách, pháp luật BHXH hiện hành và nhằm tháo gỡ những khó khăn, bất cập trong tổ chức thực hiện, tiến tới BHXH cho mọi người lao động (NLĐ). Vì vậy, Luật BHXH 2014 có thêm nhiều quy định mới với những mục tiêu cụ thể: Một là, mở rộng diện bao phủ BHXH: Nghị quyết số 21-NQ/T.Ư ngày 22-11-2012, Bộ Chính trị ban hành về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác BHXH, BHYT giai đoạn 2012-2020, xác định đến năm 2020 có khoảng 50% số lực lượng lao động tham gia BHXH (với khoảng 28 triệu người, trong đó, 25 triệu người tham gia BHXH bắt buộc và ba triệu người tham gia BHXH tự nguyện). Để đạt mục tiêu này, Luật BHXH 2014 đã mở rộng phạm vi đối tượng tham gia BHXH. Trong đó, bổ sung một số nhóm đối tượng thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc như: NLĐ làm việc theo mùa vụ, hợp đồng lao động (HĐLĐ) từ một đến dưới ba tháng, NLĐ là công dân nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam có giấy phép lao động được cơ quan thẩm quyền của Việt Nam cấp, cán bộ không chuyên trách ở cấp xã… Mở rộng chính sách đối với người tham gia BHXH tự nguyện như bỏ quy định giới hạn trần tuổi tham gia BHXH tự nguyện, cho nên mọi công dân Việt Nam từ đủ 15 tuổi trở lên không thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc có nguyện vọng đều được tham gia BHXH tự nguyện; bỏ quy định mức sàn thu nhập tối thiểu làm căn cứ đóng BHXH tự nguyện để phù hợp khả năng tham gia của người dân và Nhà nước có chính sách hỗ trợ người tham gia BHXH tự nguyện... Hai là, sửa đổi một số nội dung về các chế độ BHXH theo hướng vừa bảo đảm quyền lợi cho NLĐ, từng bước thực hiện nguyên tắc cân bằng đóng - hưởng. Trong đó, chế độ hưu trí là chế độ được sửa đổi, bổ sung nhiều nhất. Các nội dung sửa đổi, bổ sung đều hướng đến bảo đảm công bằng xã hội (trong đó có bình đẳng giới), từng bước cải thiện tình hình quỹ hưu trí, tử tuất, bảo đảm cho quỹ được cân đối trong thời gian dài hơn; các chế độ BHXH như ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp… đều có những quy định mới có lợi cho NLĐ. Đồng thời, nhằm cải thiện mức hưởng, nâng cao đời sống cho người về hưu, Luật bổ sung chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung. Đây là chính sách BHXH mang tính chất tự nguyện, bổ sung cho chế độ hưu trí trong BHXH bắt buộc, cơ chế tạo lập Quỹ từ sự đóng góp của NLĐ và người sử dụng lao động dưới hình thức tài khoản tiết kiệm cá nhân, được bảo toàn và tích lũy thông qua hoạt động đầu tư theo quy định của pháp luật. Ba là, sửa đổi, bổ sung các quy định nhằm đổi mới phương thức và tổ chức thực hiện chính sách BHXH: Nguyên tắc BHXH được Luật BHXH 2014 quy định rõ, việc thực hiện BHXH phải đơn giản, dễ dàng, thuận tiện, bảo đảm kịp thời và đầy đủ quyền lợi của người tham gia BHXH. Luật quy định việc hiện đại hóa trong quản lý BHXH, khuyến khích đầu tư phát triển công nghệ và phương tiện kỹ thuật tiên tiến để quản lý, thực hiện BHXH; đến năm 2020, hoàn thành việc xây dựng và vận hành cơ sở dữ liệu điện tử về quản lý BHXH trong cả nước. Theo đó, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý, chuyên nghiệp hóa nghiệp vụ, giảm chi phí quản lý, giảm thiểu các thủ tục hành chính cho doanh nghiệp, NLĐ.   Luật BHXH 2014 cũng quy định xây dựng và hoàn thiện các quy chế về đầu tư quỹ BHXH bảo đảm tính hiệu quả, linh hoạt trong hoạt động đầu tư; tăng cường việc giao quyền và trách nhiệm cho đơn vị, tổ chức thực hiện đầu tư; các khoản đầu tư phải bảo đảm được nguyên tắc về bảo toàn và tăng trưởng quỹ BHXH, đa dạng hóa các hình thức đầu tư nhưng vẫn bảo đảm tính an toàn. Bốn là, tăng thẩm quyền, bổ sung chức năng, nhiệm vụ cho cơ quan tổ chức thực hiện: Luật BHXH 2014 quy định cơ quan BHXH là cơ quan nhà nước có chức năng thực hiện chế độ, chính sách BHXH, quản lý và sử dụng các quỹ BHXH, BHYT, BH thất nghiệp; thanh tra việc đóng BHXH, BHYT, BH thất nghiệp và các nhiệm vụ khác theo quy định của luật và hướng dẫn của Chính phủ. Luật BHXH 2014 tăng thẩm quyền cho cơ quan BHXH được thanh tra chuyên ngành việc đóng BHXH, BHYT, BH thất nghiệp và xử lý vi phạm hoặc kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để xử lý vi phạm. Đồng thời, tăng chế tài xử lý đối với hành vi vi phạm quy định về đóng BHXH sẽ góp phần hạn chế tình trạng vi phạm pháp luật về BHXH, BHYT. Vấn đề đặt ra và giải pháp đưa luật vào cuộc sống Có thể nói, với quy định đối tượng có HĐLĐ từ một đến dưới ba tháng tham gia BHXH bắt buộc sẽ góp phần đẩy nhanh tỷ lệ bao phủ BHXH, đồng thời tránh được tình trạng người sử dụng lao động lách luật để trốn đóng BHXH bằng cách ký các chuỗi HĐLĐ dưới ba tháng. Tuy nhiên, quy định này cũng đặt ra thách thức trong tổ chức thực hiện vì việc quản lý đối với người có HĐLĐ dưới ba tháng là rất khó khăn, nếu không có hạ tầng công nghệ thông tin tốt và cơ sở dữ liệu được quản lý đồng bộ, sẽ rất khó quản lý. Việc mở rộng đối tượng tham gia BHXH tự nguyện ở khu vực lao động phi chính thức cũng còn nhiều vấn đề cần làm rõ như quy định mức hỗ trợ của Nhà nước, đặc biệt, khi đời sống của người dân còn khó khăn thì việc vận động họ tham gia BHXH tự nguyện để bảo đảm ASXH khi về già sẽ thật sự là một bài toán khó. Quy định về việc thu hẹp đối tượng hưởng trợ cấp BHXH một lần nhằm bảo đảm ASXH về lâu dài cho NLĐ theo Điều 60, vừa qua đã gặp trở ngại khi một bộ phận nhỏ NLĐ chưa đồng tình. Tuy nhiên, thể theo nguyện vọng của một bộ phận NLĐ có khó khăn về kinh tế và có nguyện vọng được nhận BHXH một lần theo quy định hiện hành, Quốc hội thống nhất thông qua Nghị quyết về việc cho phép NLĐ sau một năm nghỉ việc hoặc không tham gia BHXH tự nguyện mà có nguyện vọng thì được lựa chọn nhận BHXH một lần. Về lâu dài, cần nghiên cứu, bổ sung quy định về mức hưởng trợ cấp BHXH một lần cho phù hợp với mức đóng và tỷ lệ đóng BHXH của NLĐ; đồng thời cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền để NLĐ nhận thức rõ hơn về tính ưu việt của việc hưởng lương hưu và tiếp tục tham gia BHXH để có cơ hội được hưởng lương hưu với nhiều quyền lợi hơn, bảo đảm an sinh bền vững hơn đối với bản thân họ, gia đình và xã hội... Để Luật BHXH 2014 đi vào cuộc sống và triển khai hiệu quả, đòi hỏi sự nỗ lực của các cấp, ngành và sự cộng tác của người dân. Với vai trò là đơn vị trực tiếp tổ chức thực hiện chính sách, hiện nay cơ quan BHXH Việt Nam đã chuẩn bị sẵn sàng cho thời điểm 1-1-2016. Ngành đã chủ động phối hợp với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và các bộ, ngành liên quan trong việc xây dựng các văn bản hướng dẫn thi hành Luật BHXH. Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật BHXH đến mọi người sử dụng lao động và NLĐ. Tiếp tục rà soát, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động nghiệp vụ BHXH. Trước mắt, đẩy nhanh tiến độ ứng dụng giao dịch điện tử trong thực hiện thủ tục hành chính về BHXH để giảm thời gian giao dịch của các doanh nghiệp, phấn đấu đến hết năm 2015 giảm xuống còn 49,5 giờ cho các giao dịch của doanh nghiệp với cơ quan BHXH. Đồng thời, ngành BHXH cũng kiện toàn bộ máy tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của ngành theo quy định của Luật BHXH 2014. Trong đó, tập trung xây dựng một đội ngũ cán bộ, công chức đủ năng lực, trình độ chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp, nâng cao chất lượng phục vụ; góp phần tích cực vào sự nghiệp bảo đảm ASXH... TS Nguyễn Thị Minh     http://www.nhandan.com.vn/xahoi/bhxh-va-cuoc-song/item/27861702-doi-moi-phat-trien-chinh-sach-bao-hiem-xa-hoi-trong-tinh-hinh-moi.html
Đến nay Bảo hiểm xã hội (BHXH) ở Việt Nam đã trải qua chặng đường hơn nửa thế kỷ tồn tại và phát triển với 2 thời kỳ quan trọng: Thời kỳ trước năm 1995, chế độ BHXH được hình thành cùng với cơ chế quản lý nền kinh tế hành chính tập trung dưới sự bao cấp của Nhà nước về BHXH. Từ sau năm 1995, cùng với sự ra đời của nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước, chính sách BHXH cũng được cải cách cho phù hợp với công cuộc đổi mới của đất nước. Đến cuối năm 1980 và đầu những năm 1990, việc thu BHXH do Bộ Tài chính thực hiện được tính vào khoản thu ngân sách Nhà nước mà không hình thành quỹ BHXH độc lập. Thời kỳ này việc chi chế độ hưu trí, mất sức lao động và tử tuất do NSNN đảm nhiệm được tính trong kế hoạch chi NSNN hàng năm. Bên cạnh những ưu điểm là ổn định cuộc sống cho hàng triệu cán bộ công nhân viên chức, lực lượng vũ trang... việc thực hiện chế độ BHXH của thời kỳ này đồng thời đã bộc lộ những tồn tại và hạn chế. Đó là: Chỉ những người lao động trong khu vực Nhà nước mới được hưởng chế độ BHXH, đối tượng tham gia BHXH vì thế cũng hạn hẹp. Nhà nước không hình thành quỹ BHXH nên việc thu - chi quỹ BHXH được tính trong NSNN, do NSNN đảm bảo, trong khi yêu cầu chi năm sau đều cao hơn năm trước đã ảnh hưởng trực tiếp đến việc thực hiện chế độ BHXH đối với người lao động, người đã nghỉ hưu, đồng thời ảnh hưởng đến việc cân đối NSNN. Mặt khác, việc quản lý BHXH thời kỳ này do nhiều cơ quan cùng thực hiện nên bị phân tán, không thống nhất trong thực hiện chế độ về đối tượng, điều kiện hưởng, mức lương và thời hạn hưởng... Để kịp thời khắc phục những tồn tại nói trên, năm 1994 Quốc hội đã ban hành Bộ Luật Lao động; trong đó có chương XII về BHXH. Theo đó, Chính phủ cũng đã ban hành Điều lệ BHXH, kèm theo Nghị định số 12/CP về cơ cấu tổ chức của BHXH Việt Nam , để thống nhất thực hiện chính sách BHXH và quản lý quỹ BHXH theo cơ chế mới. Như vậy là từ năm 1995 đến nay, đối tượng tham gia BHXH bắt buộc ở nước ta bao gồm cả người lao động trong các thành phần kinh tế có sử dụng 10 lao động trở lên, quỹ BHXH cũng được hình thành từ việc đóng BHXH của người sử dụng lao động và người lao động đồng thời được quản lý thống nhất, tập trung, độc lập với NSNN, được Nhà nước bảo hộ. Từ đầu năm 2003 thực hiện Điều lệ BHXH bổ sung sửa đổi, mọi người lao động trong các cơ quan, doanh nghiệp, tổ chức có hợp đồng lao động từ 3 tháng trở lên thuộc các thành phần kinh tế dù trong biên chế hay ngoài biên chế, đều có quyền và nghĩa vụ tham gia BHXH bắt buộc. Những kết quả ban đầu Nếu năm 1995 cả nước có 2,85 triệu người tham gia thì đến cuối năm 2003 đã có 5,24 triệu người tham gia BHXH. Nếu chỉ tính trong vòng 8 năm, BHXH đã giải quyết cho hơn 1 triệu người nghỉ hưu và trợ cấp BHXH một lần thì bình quân mỗi năm nước ta tăng 40 vạn người, bằng khoảng 1% nguồn lao động xã hội. Năm 1993 cả nước có 3,7 triệu người tham gia Bảo hiểm Y tế (BHYT) thì đến năm 2003 số người tham gia BHYT là 16,8 triệu người, chiếm khoảng 21% dân số cả nước. Ngoài loại hình BHYT bắt buộc, bước đầu BHYT tự nguyện đã đuợc triển khai thực hiện, đến năm 2003 đã có 4,6 triệu học sinh, sinh viên tham gia BHYT tự nguyện. Cùng với việc tăng trưởng số người tham gia đóng BHXH, thời gian qua BHXH Việt Nam còn đảm bảo việc chi trả trợ cấp hàng tháng các chế độ: tuất, hưu trí, mất sức lao động... cho gần 2 triệu người đảm bảo đúng đối tượng, đủ số lượng, kịp thời, tận tay đối tượng. Chất lượng chăm sóc sức khoẻ ban đầu, khám chữa bệnh nội trú, ngoại trú có thẻ BHYT ngày càng được nâng cao. Đến nay trên 90% bệnh nhân chạy thận nhân tạo tại các bệnh viện được điều trị bằng thẻ BHYT; những người hưu trí, mất sức lao động đều được chăm sóc sức khoẻ theo BHYT. Ngoài ra Đảng và Nhà nước còn thực hiện chế độ BHYT cho người nghèo từ nguồn NSNN.. . Có thể nói, từ năm 1995 đến nay, đối tượng tham gia BHXH ở nước ta đã từng bước được mở rộng, đảm bảo cho việc thực hiện chính sách BHXH được tiến hành vững chắc, mang lại niềm tin cho người lao động vào việc cải cách chính sách BHXH. Việc hình thành hệ thống BHXH Việt Nam tập trung thống nhất từ Trung ương đến địa phương nhằm chuyên môn hoá việc tổ chức thực hiện các chính sách, chế dộ BHXH theo đúng quy định, đảm bảo tính nghiêm minh, thống nhất trong cả nước, đã tạo điều kiện cho hệ thống BHXH chủ động cải cách hành chính trong lập hồ sơ và quy trình giải quyết các chế độ BHXH cho nguời tham gia BHXH ngày càng tốt hơn. Thách thức và mục tiêu, biện pháp sẽ triển khai. Bên cạnh những kết quả đạt được đáng khích lệ, hiện tại BHXH Việt Nam vẫn đứng trước những thách thức và tồn tại. Đó là: Đối tượng tham gia BHXH đến cuối năm 2003 mới chiếm khoảng 14% lực lượng lao động xã hội, số người tham gia BHYT mới chếm trên 21% dân số cả nước. Với mức đóng và mức hưởng chế độ hưu trí như hiện nay, cùng với việc đối tượng hưởng trợ cấp hàng tháng do quỹ BHXH đảm bảo tăng nhanh, thì quỹ trợ cấp BHXH sẽ không cân đối được lâu dài. Mặc dù Nhà nước đã cải cách về BHXH, nhưng đến nay một số chế độ BHXH cũ vẫn được thực hiện đối với những đối tượng hưởng BHXH thời kỳ trước năm 1995. Vì vây, việc cải cách trong lĩnh vực BHXH không thể thực hiện tại một thời điểm nhất định, mà cần có thời gian cần thiết để chuyển đổi nhận thức, cũng như để thay thế bằng một hệ thống chính sách BHXH thống nhất. Thực hiện mục tiêu không ngừng mở rộng đối tượng tham gia BHXH bắt buộc và Bảo hiểm hưu trí tự nguyện, tiến tới BHXH cho mọi người lao động, thực hiện BHYT toàn dân, phấn đấu đến năm 2010 có khoảng 12 triệu người tham gia BHXH bắt buộc (chiếm 22% lao động xã hội), khoảng 60 triệu người tham gia BHYT (chiếm 70% dân số); thực hiện tham gia BHXH, BHYT tất cả các đối tượng thuộc diện bắt buộc, thu đủ, kịp thời để thực hiện đầy đủ chế độ BHXH, BHYT đúng đối tượng, kịp thời, đầy đủ từ quỹ BHXH để giảm dần nguồn chi từ NSNN. Hiện nay BHXH Việt Nam đang tập trung các biện pháp để triển khai chính sách mở rộng đối tượng tham gia BHXH bắt buộc đối với tất cả những đối tượng quy định của pháp luật, mà trọng tâm là lao động thuộc khu vực kinh tế ngoài quốc doanh, tiến tới mở rộng đến đối tượng tham gia BHXH bắt buộc đối với người lao động tự tạo việc làm có thu nhập ổn định. Đồng thời mở rộng đối tượng tham gia BHYT đối với người lao động ở các doanh nghiệp ngoài quốc doanh có dưới 10 lao động, thân nhân của người tham gia BHYT bắt buộc, học sinh, sinh viên, người lao động tự do có thu nhập ổn định, những người thuộc diện chính sách xã hội, người nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi... Tiến tới phủ kín mạng lưới BHXH và thực hiện BHXH tự nguyện đối với người lao động chưa thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc, không ngừng mở rộng diện theo đơn vị và cộng đồng BHYT tự nguyện, để thực hiện từng bước BHYT toàn dân.   http://quantritaichinh.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=139%3A02-10112009&catid=68%3Ablcsbhxhld&Itemid=83    aventin.ua/mexes.com.uawww.avtokum.compharmacity.com.ua/
Trước đây, khi người lao động thôi việc thì được hưởng trợ cấp thôi việc do doanh nghiệp chi trả và mức chi trả được tính “một năm thâm niên được hưởng ½ tháng lương đóng BHXH”. Tại Thông tư 17/2009/TT-BLĐTBXH ngày 26/05/2009 thì từ 01/01/2009, việc tính trợ cấp thôi việc không áp dụng nữa vì doanh nghiệp đã đóng BHTN cho NLĐ. Điều này làm nẩy sinh một số vấn đề bất cập trong chính sách dành cho người lao động. Trong vấn đề này, chúng ta không bàn đến “trợ cấp mất việc”. Trợ cấp mất việc được hướng dẫn tại Điều 17, Bộ luật Lao động. Theo đó, khi thay đổi cơ cấu mà cho người lao động thôi việc (tức là làm cho người lao động mất việc) thì Doanh nghiệp phải thanh toán cho người lao động (có thời gian làm việc trên 1 năm) một khoản “trợ cấp mất việc” là mỗi năm thâm niên được hưởng 1 tháng lương, và tối thiểu là 2 tháng lương. Cụ thể tại Nghị định 39/2003/NĐ-CP ngày 18/04/2003, hướng dẫn tại các Điều 11, 12, 13. Trong đó, tại điều 13, Nghị định 39 cũng hướng dẫn hàng tháng trích từ 1% đến 3% Quỹ lương đóng BHXH để trích lập “quỹ dự phòng trợ cấp mất việc”. Ở đây, điều cần bàn là “trợ cấp thôi việc”. Nghị định 44/2003/NĐ-CP hướng dẫn tại Điều 14 v/v Doanh nghiệp có nghĩa vụ trả trợ cấp thôi việc cho người lao động trong trường hợp chấm dứt Hợp đồng lao động (đối với người lao động đã làm việc từ đủ 12 tháng trở lên quy định tại khoản 1 Điều 42 của Bộ luật Lao động trong các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động quy định tại Điều 36 của Bộ luật Lao động; Điều 37, các điểm a, c, d và điểm đ khoản 1 Điều 38, khoản 1 Điều 41, điểm c khoản 1 Điều 85 của Bộ luật Lao động đã sửa đổi, bổ sung.) Nguồn kinh phí trả cho “Trợ cấp thôi việc” tính vào Chi phí (TK 642). Thời gian làm việc là từ 12 tháng trở lên sau đó, nếu từ 1 tháng đến 6 tháng thì làm tròn thành 6 tháng, trên 6 tháng thì làm tròn thành 1 năm. Mức trợ cấp là mỗi năm làm việc thì được hưởng ½ tháng lương và phụ cấp (nếu có). Đến đây chắc cũng không có gì “phàn nàn” nếu không có Luật BHXH ban hành năm 2006 với các điều khoản liên quan đến “Trợ cấp thất nghiệp”. Theo Luật BHXH ban hành năm 2006, điều khoản bảo hiểm thất nghiệp được áp dụng từ 01/01/2009, và chỉ áp dụng trợ cấp thất nghiệp đối với NLĐ đã đóng đủ BHTN từ 12 tháng trở lên (Điều 81). Theo Điều 3 Luật này, “Người thất nghiệp là người đang đóng bảo hiểm thất nghiệp mà bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc nhưng chưa tìm được việc làm.” Và được hưởng tối thiểu từ 3 tháng trợ cấp thất nghiệp trở lên (60% mức lương trước thất nghiệp). Nhưng không được hưởng quá 1 năm. (Điều 82). Sau đó, tại Thông tư 17/2009/TT-BLĐTBXH thì hướng dẫn (do thời gian từ 01/01/2009 đã đóng BHTN rồi, nên) việc tính trợ cấp thôi việc theo thâm niên chỉ dừng đến 31/12/2008 thôi. Vấn đề nằm ngay ở điểm là, chúng ta không có “định nghĩa về trợ cấp thất nghiệp”. Trợ cấp thất nghiệp là khoản tiền nuôi sống cho NLĐ trong thời gian NLĐ bị thất nghiệp, tức là hoàn toàn không liên quan đến vấn đề công tác trước đó. Ở đây có 2 điều cần quan tâm. Thứ nhất, giả sử người lao động thôi việc vào tháng 06/2009, thì trợ cấp thôi việc của NLĐ chỉ được tính đến 31/12/2008, trong khi NLĐ không hưởng được trợ cấp thất nghiệp vì thời gian đóng BHTN mới được 6 tháng! Đây là một thiệt thòi. Thứ hai, giả sử NLĐ đóng đủ trên 12 tháng BHTN nhưng khi nghỉ việc cơ quan cũ sang làm cơ quan mới, thì “vì không thất nghiệp nên không hưởng BHTN” và cũng không được Cơ quan cũ “trợ cấp thôi việc”. Đây chính là điểm thứ hai làm người lao động bị thiệt thòi. Thử phân tích khái niệm “trợ cấp thôi việc”. Nếu khoản trợ cấp thôi việc là “để hỗ trợ người lao động không còn việc làm trong thời gian đi xin việc mới” thì có thể đánh đồng và thay thế bởi BHTN. Nhưng thật ra, từ lâu nay, người lao động nghỉ việc Cơ quan cũ sang làm Cơ quan khác vẫn hưởng “Trợ cấp thôi việc”. Trong các văn bản trước đây nói về “nghĩa vụ doanh nghiệp phải chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động” không có văn bản nào giải thích mục đích, ý nghĩa của “trợ cấp thôi việc”. Điều này làm cho hầu hết NLĐ cho rằng trợ cấp thôi việc là một khoản nghĩa vụ mà doanh nghiệp trả cho thời gian cống hiến lâu dài tại doanh nghiệp và khi ra đi họ được hưởng. Nếu đó là một khoản trợ cấp cho thời gian cống hiến tại doanh nghiệp thì lại càng không thể thay thế “trợ cấp thôi việc” bằng “bảo hiểm thất nghiệp”. Nếu phân tích đúng hơn, thì “Trợ cấp thất nghiệp” phải được thay thế cho “Trợ cấp mất việc” mới đúng. Nhưng đằng này, chúng ta lại đi thay “Trợ cấp thôi việc” bằng “Trợ cấp thất nghiệp”. Và điều làm cho Kế toán “hoang mang” Hầu hết các Kế toán đang “hoang mang” vì TK 351 hiện nay xử lý thế nào. Tuy nhiên, trong bài viết này, căn cứ các quy định hiện hành, xin đưa ra ý kiến như sau : Vào ngày 31/12 hàng năm, kế toán vẫn căn cứ tổng quỹ lương BHXH trích từ 1% đến 3% (quỹ lương năm theo khả năng của doanh nghiệp) để đưa vào Quỹ dự phòng “trợ cấp mất việc” (Nợ TK 642, Có TK 351). Đối với các Doanh nghiệp niêm yết, thì việc trích lập quỹ này được thực hiện tại thời điểm lập BCTC giữa niên độ (căn cứ quỹ lương quý). Khi chi trả trợ cấp mất việc (chứ không phải là trợ cấp thôi việc) thì ghi Có TK 111, Nợ TK 351. Kiến nghị Kiến nghị Bộ LĐTBXH điều chỉnh quy định liên quan đến “trợ cấp mất việc”, “trợ cấp thôi việc”, “trợ cấp thất nghiệp” đồng thời công bố định nghĩa rõ ràng về các khoản này để NLĐ hiểu rõ hơn. Thiết nghĩ, việc duy trì “trợ cấp thôi việc” là cần thiết vì “trợ cấp thôi việc” là khoản trợ cấp mà doanh nghiệp dành cho NLĐ khi họ rời khỏi cơ quan sau một thời gian gắn bó. Vì cũng theo Điều 41 Bộ Luật Lao động thì nếu người lao động vi phạm kỷ luật buộc thôi việc hay đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động thì không được hưởng “trợ cấp thôi việc”. Nếu có thể, nên thay thế “trợ cấp mất việc” bằng “trợ cấp thất nghiệp”. Bên cạnh đó, kiến nghị điều chỉnh Khoản 6, Điều 139 Luật BHXH đã ban hành như sau :”Thời gian người lao động đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định tại Luật này không được tính để hưởng trợ cấp mất việc làm hoặc trợ cấp thôi việc theo quy định của pháp luật về lao động, pháp luật về cán bộ, công chức.” Vì điều khoản này đã “hủy bỏ” cả “trợ cấp mất việc và trợ cấp thôi việc”, đơn phương hủy bỏ Điều 17 và Điều 42 Bộ luật Lao động. Trong khi chưa có văn bản nào hướng dẫn việc hủy bỏ trợ cấp mất việc từ Bộ Tài chính và cách thức xử lý TK 351. TS. Lê Ngọc Lợi, CPA Nguồn: http://quantritaichinh.vn/index.phpoption=com_content&view=article&id=228%3Abatcap&catid=68%3Ablcsbhxhld&Itemid=83    
1. Bất kì hoạt động quản lí nào, dù là quản lí nói chung hay quản lí lao động nói riêng muốn thực hiện được thì chủ thể quản lí đều phải thiết lập các công cụ, phương tiện để quản lí. Theo Từ điển tiếng Việt, “công cụ” là cái dùng để tiến hành một việc nào đó, để đạt đến một mục đích nào đó, còn “quản lí” là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định.(1) Từ đó, có thể hiểu “công cụ quản lí lao động” là cái mà chủ thể quản lí lao động dùng để tiến hành tổ chức và điều khiển các hoạt động lao động theo những yêu cầu nhất định nhằm đạt được mục đích đặt ra. Trong lĩnh vực luật lao động, chủ thể có quyền quản lí lao động bao gồm nhà nước và người sử dụng lao động (NSDLĐ). Song, nếu như nhà nước thiết lập công cụ quản lí lao động bằng hệ thống pháp luật do cơ quan có thẩm quyền ban hành thì NSDLĐ có quyền thiết lập các công cụ quản lí lao động phù hợp  với điều kiện cụ thể  trong đơn  vị của mình trên cơ sở quy định của pháp luật. Tuy nhiên,  trong  thực  tế  nghiên  cứu khoa học luật lao động hiện nay vẫn đang tồn tại các quan điểm khác nhau về công cụ quản lí lao động của NSDLĐ. Quan điểm thứ nhất cho rằng, chỉ các văn bản do NSDLĐ ban hành như nội quy lao động, quy chế, quyết định... mới là công cụ quản lí lao động, bởi nó thể hiện ý chí đơn phương của NSDLĐ trong việc yêu cầu, bắt buộc người lao động (NLĐ) của đơn vị phải tuân theo. Còn các văn bản ra đời trên cơ sở thoả thuận không phải là công cụ quản lí lao động của NSDLĐ. Quan điểm thứ hai cho rằng, công cụ quản lí lao động của NSDLĐ bao gồm các văn bản do NSDLĐ đơn phương ban hành như nội quy lao động, quy chế, quyết định và các văn bản được thiết lập dựa trên cơ sở thoả thuận với bên NLĐ, tập thể lao động như: Thoả ước lao động tập thể,  hợp  đồng  lao  động  (HĐLĐ)  và  các thoả thuận khác.   Vậy, các văn bản ra đời trên cơ sở thoả thuận giữa các bên quan hệ lao động nói chung và cụ thể là HĐLĐ nói riêng có phải là công cụ quản lí lao động của NSDLĐ hay không? Những lí giải cho câu hỏi này có ý nghĩa rất lớn về mặt lí luận và thực tiễn, không chỉ tạo cơ sở vững chắc nhằm bảo đảm về mặt pháp lí đối với quyền quản lí lao động của NSDLĐ mà còn có ý nghĩa quan trọng trong việc nghiên cứu thực trạng pháp luật và hoàn thiện pháp luật về quyền quản lí lao động của NSDLĐ ở Việt Nam hiện nay. 2. Tác giả bài viết đồng tình với quan điểm thứ hai. Đó là cùng với nội quy lao động, quy chế, quyết định, thoả ước lao động tập thể và các thoả thuận khác, HĐLĐ là một trong các công cụ, phương tiện được NSDLĐ thiết lập để tiến hành tổ chức và điều khiển các hoạt động lao động của từng NLĐ theo những yêu cầu chung thống nhất trong đơn vị nhằm đạt được mục đích đặt ra của quá trình sản xuất, kinh doanh. Việc kí kết HĐLĐ là một trong các cách thức mà NSDLĐ tạo cơ sở pháp lí để thực hiện quyền quản lí lao động đối với NLĐ. Quá trình tổ chức, thực hiện, theo dõi, kiểm tra, giám sát, cũng như khen thưởng, giải quyết khiếu nại... của NSDLĐ được thực hiện trên cơ sở nội dung mà các bên đã cam kết trong HĐLĐ. Có thể lí giải vấn đề này như sau: Thứ nhất, tuy cùng chung bản chất thoả thuận nhưng HĐLĐ có nhiều điểm khác với các loại hợp đồng khác. Điểm khác biệt cơ bản của HĐLĐ với các hợp đồng khác xuất phát từ hàng hóa các bên mua bán - đó là sức lao động của NLĐ. Sức lao động không chỉ là loại hàng hóa trừu tượng, tồn tại trong chính bản thân NLĐ và có khả năng tạo ra giá trị lớn hơn rất nhiều so với giá trị ban đầu của bản thân nó mà còn là loại hàng hóa được chuyển giao thông qua phương thức rất đặc biệt - thông qua một việc làm cụ thể. Khi NLĐ thực hiện việc làm, nhiều khi họ không thể tự lựa chọn làm gì, ở đâu, trong thời gian bao lâu... mà hoàn toàn do NSDLĐ quyết định. Hoặc do yêu cầu phát sinh từ quá trình sản xuất kinh doanh, với tư cách là chủ sở hữu tài sản trong đơn vị và nhằm bảo đảm mục đích lợi nhuận đặt ra, NSDLĐ có quyền tạm thời điều chuyển NLĐ làm công việc khác, tạm dừng thực hiện công việc hoặc thay đổi công việc của NLĐ. Thêm nữa, việc NLĐ thực hiện công việc ra sao, mức độ thực hiện công việc như thế nào, đạt được kết quả gì… đều do NSDLĐ kiểm tra, kiểm soát, đánh giá. Trên cơ sở kết quả đánh giá mức độ hoàn thành công việc của NLĐ, NSDLĐ quyết định về mức tiền lương, tiền thưởng, nâng lương, nâng thưởng và các chế độ khác đối với NLĐ. Trường hợp NLĐ không hoàn thành công việc, vi phạm nghĩa vụ lao động đã thoả thuận trong HĐLĐ thì tuỳ từng trường hợp, NSDLĐ có thể chấm dứt HĐLĐ đối với NLĐ để bảo đảm duy trì và thực hiện đúng tiến độ các kế hoạch đã đặt ra, bảo đảm doanh thu, lợi nhuận của đơn vị. Như vậy, có thể thấy rằng quyền quản lí lao động của bên NSDLĐ đối với bên NLĐ trong quan hệ HĐLĐ là có tính khách quan. Bởi vì “khi tham gia quan hệ HĐLĐ, mỗi NLĐ thực hiện các nghĩa vụ có tính cá nhân, đơn lẻ nhưng lao động ở đây là lao động mang tính xã hội hoá, vì thế hiệu quả cuối cùng lại phụ thuộc vào sự phối hợp của cả tập thể, của tất cả các quan hệ lao động. Vì vậy, cần thiết phải có sự thống nhất, liên kết, đồng bộ… các quan hệ đơn lẻ trong một trật tự chung thông qua một trung tâm chỉ huy và điều phối bằng các yêu cầu, đòi hỏi, mệnh lệnh… của NSDLĐ để đạt hiệu quả cao nhất”.(2) Quyền quản lí lao động của NSDLĐ chỉ tồn tại trong quan hệ HĐLĐ mà không tồn tại trong các quan hệ hợp đồng khác. Sự thừa nhận của pháp luật về vấn đề này và việc trao quyền quản lí lao động cho NSDLĐ trong quan hệ HĐLĐ là phù hợp với sự tồn tại và phát triển của quan hệ lao động trong nền kinh tế thị trường. Thứ hai, các nước trên thế giới như Áo, Bỉ, Pháp, Hoa Kỳ, Anh, Đức, Thụy Điển…, do coi quan hệ HĐLĐ thuộc lĩnh vực luật tư nên đều cho rằng HĐLĐ thể hiện rõ rệt quyền quản lí lao động của NSDLĐ.(3) Theo đó, bên NLĐ cam kết tiến hành công việc theo sự chỉ đạo của bên NSDLĐ và lệ thuộc vào NSDLĐ. Ví dụ: Luật lao động Pháp thừa nhận: HĐLĐ là sự thoả thuận, theo đó, một người cam kết tiến hành một hoạt động theo sự chỉ đạo của người khác, lệ thuộc vào người đó và được trả công. Hoặc pháp luật Đức coi hoạt động trong HĐLĐ là NLĐ thực hiện một công việc mang tính phụ thuộc và có trả công.(4) Do đặt bên NLĐ vào vị trí bị chỉ đạo/lệ thuộc, vì vậy pháp luật Đức cũng trao cho NSDLĐ quyền lực cần thiết để bảo đảm việc thực hiện công việc đã phân công cho NLĐ. HĐLĐ có hiệu lực khi NLĐ bằng chính hành vi lao động của mình thực hiện các nghĩa vụ lao động đã cam kết dưới sự chỉ đạo, điều hành, kiểm tra, giám sát... của NSDLĐ. Nhiều nhà khoa học luật lao động của một số nước trên thế giới đều có ý kiến thống nhất về vấn đề này. Theo các nhà nghiên cứu luật lao động Phần Lan thì “Nền móng của quyền quản lí lao động của NSDLĐ được đặt ở HĐLĐ. Cụ thể là trên cơ sở của HĐLĐ này, NLĐ sẽ phải đảm đương và thực hiện nhiệm vụ lao động của mình theo hướng dẫn của NSDLĐ”.(5) Lí giải điều này, họ cho rằng: "Bản chất của quan hệ lao động nói chung và HĐLĐ nói riêng tự nó tạo nên cho NSDLĐ khả năng chỉ đạo và giám sát công việc và sự lệ thuộc của bên lao động" .(6) Còn tác giả John Storey khi nghiên cứu về thương lượng tập thể cấp doanh nghiệp và quyền quản lí lao động ở Anh cũng thừa nhận: "Hạt nhân của quan hệ việc làm là vấn đề điều khiển và quyền tự do quyết định của NSDLĐ" .(7) Theo đó, HĐLĐ có thể được xem là "một tập hợp những điều khoản có ngầm định giữ lại quyền điều hành và giám sát một cách đầy đủ của bên sử dụng lao động" .(8) John Kinamugire - nhà nghiên cứu về quyền quản lí lao động trong luật lao động Nam Phi cũng khẳng định: "Chính các quan hệ lao động cá nhân là nơi quyền quản lí lao động của NSDLĐ được thực hiện nhiều nhất. Thực tế là những nội dung như bố trí công việc, địa điểm làm việc, thời giờ làm việc, tiền lương, tiền thưởng,... đều có thể là những vấn đề các bên cùng thoả thuận song quyết định lại thuộc về bên sử dụng lao động" .(9) Như vậy, có thể thấy rằng so với các công cụ quản lí lao động khác, HĐLĐ được coi là công cụ "rất có lợi cho quyền quản lí lao động của NSDLĐ". Điểm có lợi ở đây thể hiện ở "bản chất không minh bạch theo chủ ý của NSDLĐ" và hệ thống các nghĩa vụ mà NLĐ phải thực hiện. Ví dụ: NSDLĐ có quyền phân công công việc cho NLĐ nhưng trong HĐLĐ thường "im lặng", không nêu ra quyền đó gồm những gì tuy nhiên lại quy định rất tỉ mỉ về những gì NLĐ phải thực hiện. Điều này cũng dễ hiểu vì trong quan hệ lao động, nghĩa vụ của bên này tương ứng với quyền của bên kia. Nghĩa vụ của bên NLĐ càng bị liệt kê ra nhiều thì quyền quản lí lao động của NSDLĐ càng lớn.(10) Chính do yếu tố quản lí lao động trong HĐLĐ nên để duy trì, ổn định quan hệ lao động và bảo vệ lợi ích của cả hai bên, nhất là lợi ích của NLĐ, pháp luật lao động hiện hành của nhiều nước trên thế giới đều giới hạn quyền quản lí lao động của NSDLĐ trong HĐLĐ. Các nước như: Nga, Hàn Quốc, Trung Quốc, Campuchia, Lào, Malaysia, Singapore... đều có luật đơn hành về HĐLĐ hoặc có chương HĐLĐ trong Bộ luật lao động. Theo đó, các vấn đề về nội dung, hình thức, thời hạn HĐLĐ, nguyên tắc kí kết HĐLĐ, các trường hợp thay đổi, tạm hoãn hoặc chấm dứt HĐLĐ được quy định rất cụ thể. Một số nước khác như: Philippines, Thái Lan... tuy không có luật về HĐLĐ cũng như không có chương riêng về HĐLĐ trong Bộ luật lao động, song các quy định về trách nhiệm của NSDLĐ khi kí kết HĐLĐ và các trường hợp NSDLĐ không được cho NLĐ thôi việc được liệt kê chi tiết.(11) Điều đó đã thể hiện sự can thiệp của các nhà lập pháp vào quyền và trách nhiệm của NSDLĐ trong quá trình kí kết, thực hiện và chấm dứt HĐLĐ. Hay nói cách khác, khung pháp lí cho sự thoả thuận các nội dung trong HĐLĐ rõ ràng là hẹp hơn rất nhiều so với khung pháp lí cho sự thoả thuận các nội dung trong hợp đồng dân sự (các bên được tự do thoả thuận miễn là không vi phạm điều cấm và trái đạo đức xã hội). Điều đó lí giải tại sao trước đây vốn là một loại hợp đồng dân sự được điều chỉnh bởi pháp luật dân sự (như ở Pháp, Đức, Anh, Hoa Kỳ...) thì sau này HĐLĐ đã tách khỏi pháp luật dân sự và được pháp luật lao động điều chỉnh.(12) Đồng thời điều này cũng lí giải tại sao ra đời trên cơ sở thoả thuận mang tính cá nhân giữa NLĐ và NSDLĐ về quyền và nghĩa vụ của hai bên, song pháp luật lao động các nước, ở các mức độ khác nhau, đều quy định khá cụ thể các vấn đề pháp lí về HĐLĐ so với các văn bản nội bộ khác như thoả ước lao động tập thể, nội quy lao động, quy chế, quyết định. Thứ ba, ở Việt Nam hiện nay, quan hệ HĐLĐ được xác định thuộc lĩnh vực luật tư. Theo đó, pháp luật ngày càng bảo đảm hơn quyền tự định đoạt của các bên thay vì sự can thiệp trực tiếp của nhà nước vào quan hệ lao động nói chung, quan hệ HĐLĐ nói riêng giữa hai bên như trước đây. Nhiều nhà nghiên cứu luật lao động trong các công trình nghiên cứu khoa học của mình cũng đều nhấn mạnh quyền quản lí lao động của NSDLĐ đối với NLĐ trong HĐLĐ. Theo tác giả Phạm Công Trứ, HĐLĐ luôn có sự phụ thuộc pháp lí của NLĐ vào NSDLĐ.(13) Hoặc để nhấn mạnh quyền quản lí lao động của NSDLĐ thể hiện trong HĐLĐ, tác giả Nguyễn Hữu Chí đã khẳng định: “Yếu tố quản lí lao động trong HĐLĐ mang tính khách quan”. Lí giải thêm điều này, tác giả cho rằng “Trong quá trình thực hiện HĐLĐ, dường như yếu tố bình đẳng “lẩn, khuất” ở đâu đó mà biểu hiện ra bên ngoài là sự không bình đẳng, bởi một bên trong quan hệ có quyền ra các mệnh lệnh, chỉ thị và bên kia có nghĩa vụ thực hiện”.(14) Tác giả Lưu Bình Nhưỡng cũng đã phân tích cụ thể về quyền quản lí lao động của NSDLĐ thể hiện trong HĐLĐ, đó là: “NSDLĐ có quyền bố trí, sắp xếp công việc (cho NLĐ). Việc bố trí công việc sẽ tuân theo thoả thuận trong HĐLĐ đã giao kết giữa hai bên. Tuy nhiên, không tự nhiên mà NLĐ có HĐLĐ được làm việc ở nơi này hay nơi khác. Để thực sự vào việc, NLĐ phải được bố trí công việc cụ thể. Ví dụ: Nguyễn Văn H kí HĐLĐ với công ti cổ phần T. Công việc của H là làm kế toán. Trên cơ sở HĐLĐ đó, công ti sẽ bố trí H vào vị trí cụ thể trong bộ phận kế toán, làm kế toán tài sản, kế toán thanh toán hay kế toán tổng hợp”.(15)   Có thể thấy rằng quyền quản lí lao động được thể hiện rõ nét trong HĐLĐ, cả trong quá trình kí kết cũng như trong quá trình thực hiện, chấm dứt HĐLĐ. Tuy nhiên, do những ưu thế về mặt kinh tế và pháp lí nên trong quá trình kí kết cũng như duy trì, chấm dứt HĐLĐ, NSDLĐ dễ lạm dụng, xâm phạm đến quyền và lợi ích của NLĐ. Bởi thế, để bảo đảm quyền quản lí lao động của NSDLĐ trong mối tương quan với quyền và lợi ích của NLĐ, cũng giống như pháp luật lao động các nước trên thế giới, pháp luật lao động hiện hành của Việt Nam quy định khá cụ thể, chi tiết về HĐLĐ cũng như quyền, trách nhiệm của NSDLĐ khi kí kết, duy trì, chấm dứt HĐLĐ.(16) Khi các quy định của pháp luật đều ở mức tối thiểu về quyền lợi, tối đa về nghĩa vụ thì quyền, lợi ích, nghĩa vụ cụ thể của NLĐ trong HĐLĐ hoàn toàn do NSDLĐ quyết định. Thực tế, ở hầu hết đơn vị sử dụng lao động, các nội dung trong HĐLĐ về mức lương, hình thức trả lương, chế độ nâng lương, nâng bậc lương, đào tạo nghề, bảo hiểm xã hội... đều ghi chung chung "theo quy định của pháp luật hiện hành" hoặc "theo quy định của công ti". Các nội dung về phụ cấp lương, tiền thưởng, các khoản bổ sung khác đều ghi "đã tính vào lương". Nội dung công việc phải làm ghi "theo sự phân công của trưởng bộ phận" hoặc "theo nghề nghiệp của công nhân". Nội dung về thời giờ làm việc, thời giờ làm thêm ghi "8 tiếng một ngày, tăng ca theo yêu cầu tại từng thời điểm" hoặc "thời giờ làm việc theo yêu cầu của người quản lí trực tiếp"...(17) Tính chất không minh bạch trong các nội dung của HĐLĐ như trên thể hiện chủ ý của NSDLĐ trong việc ngầm giữ lại quyền quyết định ở các trường hợp cụ thể, tình huống cụ thể theo chiều hướng có lợi cho họ. 3. Như vậy, mặc dù ra đời trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng giữa các bên về quyền, lợi ích, nghĩa vụ song do những đặc điểm từ đối tượng hàng hóa sức lao động, vị thế các bên và lợi ích các bên cùng hướng đến, nên HĐLĐ thể hiện quyền quản lí lao động của NSDLĐ. Chính yếu tố quản lí lao động đã tạo nên đặc điểm khác biệt của quan hệ HĐLĐ so với các quan hệ hợp đồng khác. Điểm khác biệt này dẫn đến sự điều chỉnh của pháp luật đối với HĐLĐ cũng vì thế mà cụ thể và chi tiết hơn. Ngoài ra, do kết quả thoả thuận về ý chí giữa các bên thể hiện trong HĐLĐ là một trong các căn cứ để NSDLĐ chỉ đạo, điều hành NLĐ thực hiện quyền và nghĩa vụ lao động nên so với quyền quản lí lao động của nhà nước, quyền quản lí lao động của NSDLĐ được thể hiện mềm dẻo, uyển chuyển, linh hoạt hơn và phù hợp hơn với từng trường hợp, tình huống, đơn vị sử dụng lao động cụ thể. Mặt khác, cũng chính kết quả của sự thoả thuận trong HĐLĐ đã tác động sâu sắc tới quyền quản lí lao động của NSDLĐ. Nó làm cho quyền quản lí lao động của NSDLĐ ngày càng đổi mới theo hướng dân chủ, công bằng hơn và bảo đảm hơn lợi ích các bên./ Đỗ Thị Dung[1]   [1] Tiến sĩ luật học, giảng viên chính Trường Đại học Luật Hà Nội (1).Xem: Viện ngôn ngữ học, Từ điển tiếng Việt (In lần thứ bảy), Nxb. Đà Nẵng - Trung tâm từ điển học, Hà Nội-Đà Nẵng, 2000, tr. 207 và tr. 800. (2).Xem: Nguyễn Hữu Chí, Pháp luật HĐLĐ Việt Nam - Thực trạng và phát triển, Nxb. Lao động-xã hội, Hà Nội, 2003, tr. 58. (3).Xem: Đỗ Thị Dung, “Về khái niệm quyền quản lí lao động của NSDLĐ”, Tạp chí luật học, số 6/2013, tr. 11 - 17. (4).Xem: Nguyễn Hữu Chí, sđd, tr. 45. (5).Xem: Employer’s managerial prerogative, nguồn:  http://www.euro found.eu ropa.eu/emire/ FINLA ND/  ANCHOR-DIREKTIO-OIKEUSD IR EKTIO NS R- Auml-TT-FI.ht m, truy cập ngày 15/9/2012. (6).Xem: Employer’s managerial prerogative, tlđd. (7).Xem: John Storey, Managerial prerogative and the question of control, Routledge, 1983, p. 40. (8).Xem: John Storey, Managerial prerogative and the question of control, Routledge, 1983, p. 42. (9).Xem: John Storey, Workplace collective bargaining and managerial prerogatives, Industrial Relations Journal, 4/2007, p. 1. (10).Xem: John Storey, Managerial prerogative and the question of control, Routledge, 1983, p. 43. (11).Xem: Bộ lao động-thương binh và xã hội, Tài liệu tham khảo pháp luật lao động nước ngoài, Nxb. Lao động - xã hội, Hà Nội, 2010, tr. 38 - 61. (12).Xem: Phạm Thị Thúy Nga, “Sự phụ thuộc pháp lí - dấu hiệu đặc trưng nhất trong quan hệ HĐLĐ”, Tạp chí nhà nước và pháp luật, số 8/2008, tr. 31 - 36, 52. (13).Xem: Khoa luật, Trường đại học khoa học xã hội và nhân văn, Giáo trình luật lao động Việt Nam, Nxb. Đại học quốc gia Hà Nội, 1999, tr. 184 - 185. (14).Xem: Nguyễn Hữu Chí, sđd, tr. 58 - 59. (15).Xem: Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật lao động Việt Nam (Tái bản lần thứ 6 có sửa đổi, bổ sung), Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2013, tr. 311. (16).Xem: Chương HĐLĐ, từ Điều 15 đến Điều 49 Bộ luật lao động.   (17).Xem: Thanh tra Bộ, Bộ lao động-thương binh và xã hội, Kết quả thanh tra việc chấp hành pháp luật về lao động trên địa bàn các tỉnh/thành phố Hà Nội, Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai, Đà Nẵng, năm 2010, 2011, 2012.
Mặc dù Luật đất đai năm 2013 tiếp tục kế thừa  và  khẳng định quy định của Luật đất đai năm 2003: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lí song chế định này chứa đựng những sửa đổi, bổ sung (những điểm mới) cơ bản sau đây: 1. Về mối quan hệ giữa chủ sở hữu toàn dân và đại diện chủ sở hữu toàn dân là Nhà nước Xét về phương diện pháp lí, mặc dù pháp luật đất đai quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân song toàn dân không phải là pháp nhân nên phải chủ thể hoá thông qua chế định pháp lí về quyền sở hữu toàn dân. Nhà nước với tư cách là một pháp nhân công được trao quyền thực hiện đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai. Như vậy, ở đây cần phân biệt rạch ròi giữa Nhà nước - đại diện chủ sở hữu đất đai với toàn dân là chủ sở hữu đất đai. Điều này có nghĩa Nhà nước không phải là chủ sở hữu đất đai mà chỉ là người đại diện chủ sở hữu đất đai. Tư cách đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai của Nhà nước được pháp luật quy định. Nhà nước chỉ được thực hiện các quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai do pháp luật quy định. Nói cách khác, với tư cách một cộng đồng, toàn dân không thể tự đứng ra thực hiện các quyền năng của chủ sở hữu đối với đất đai mà phải uỷ quyền (bằng các quy định của pháp luật) cho Nhà nước thay mặt mình thực hiện quyền năng này. Tuy nhiên, việc ủy quyền này không hoàn toàn trao cho Nhà nước thực hiện tất cả các quyền của chủ sở hữu đối với đất đai mà toàn dân cũng trực tiếp thực hiện quyền sở hữu chủ về đất đai như cho ý kiến về chế độ sở hữu đất đai, về các chính sách quản lí và sử dụng đất v.v.. Trên thực tế, dường như các cơ quan nhà nước khi thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu đã tự coi mình như là chủ sở hữu đất đai. Họ tự quyết định việc phân phối đất đai, chuyển mục đích sử dụng đất, tự đưa ra phương án bồi thường… mà không coi trọng việc hỏi ý kiến của người dân - chủ sở hữu đất đai hoặc lạm dụng việc được giao quyền đại diện chủ sở hữu để giao, cho thuê đất; chuyển mục đích sử dụng đất và thu hồi đất tuỳ tiện vì lợi ích nhóm v.v.. Điều này có nguyên nhân do pháp luật đất đai không làm rõ mối quan hệ giữa chủ sở hữu toàn dân và đại diện chủ sở hữu toàn dân là Nhà nước. Khắc phục tồn tại này, Luật đất đai năm 2013 đã làm rõ hơn mối quan hệ giữa chủ sở hữu toàn dân và đại diện chủ sở hữu toàn dân là Nhà nước thông qua các quy định cụ thể sau: Thứ nhất, quy định rõ quyền và trách nhiệm của Nhà nước đối với đất đai. Cụ thể: Một là quyền của Nhà nước với tư cách đại diện chủ sở hữu về đất đai bao gồm các quyền năng cụ thể sau: 1) Quyết định quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất; 2) Quyết định mục đích sử dụng đất; 3) Quy định hạn mức sử dụng đất, thời hạn sử dụng đất; 4) Quyết định thu hồi đất, trưng dụng đất; 5) Quyết định giá đất; 6) Quyết định trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất; 7) Quyết định chính sách tài chính về đất đai; 8) Quy định quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất. Hai là trách nhiệm của Nhà nước đối với đất đai được biểu hiện trên các khía cạnh cụ thể như: 1) Trách nhiệm quản lí nhà nước về đất đai; 2) Bảo đảm của Nhà nước đối với người sử dụng đất; 3) Trách nhiệm của Nhà nước về đất ở, đất sản xuất nông nghiệp đối với đồng bào dân tộc thiểu số; 4) Trách nhiệm của Nhà nước trong việc xây dựng, cung cấp thông tin đất đai. Thứ hai, mặc dù chủ sở hữu toàn dân về đất đai trao quy chế đại diện chủ sở hữu đất đai cho Nhà nước song sở hữu chủ vẫn không mất đi các quyền năng của chủ sở hữu. Điều này có nghĩa là trong quá trình thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu đất đai, Nhà nước vẫn không “thoát li” khỏi sự chi phối của chủ sở hữu toàn dân. Cụ thể; Một là trong quá trình lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải lấy ý kiến đóng góp của nhân dân.(1) Mặt khác, sau khi quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cấp có thẩm quyền xét duyệt, cơ quan nhà nước phải công bố rộng rãi cho công chúng biết.(2) Hai là người dân với tư cách là chủ sở hữu đất đai có quyền giám sát, theo dõi và đánh giá việc quản lí, sử dụng đất đai của các cơ quan nhà nước. Việc giám sát này được thực hiện theo hai hình thức: 1) Giám sát trực tiếp, theo đó công dân trực tiếp thực hiện quyền giám sát thông qua việc phản ánh, gửi đơn kiến nghị đến các cơ quan, người có thẩm quyền giải quyết; 2) Giám sát gián tiếp; theo đó công dân gửi đơn kiến nghị đến các tổ chức đại diện được pháp luật công nhận để các tổ chức này thực hiện việc giám sát. Các tổ chức đại diện bao gồm Quốc hội, hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận.(3) Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi nhận được ý kiến của công dân và tổ chức đại diện cho người dân có trách nhiệm: Kiểm tra, xử lí, trả lời bằng văn bản theo thẩm quyền; chuyển đơn đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để giải quyết trong trường hợp không thuộc thẩm quyền; thông báo kết quả cho tổ chức, cá nhân đã phản ánh.(4) Nếu cơ chế giám sát, theo dõi và đánh giá việc quản lí, sử dụng đất đai thực hiện có hiệu quả sẽ góp phần ngăn ngừa, kiềm chế được sự lạm dụng (tha hoá) quyền lực của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc thực hiện chức năng đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai vì lợi ích nhóm, lợi ích cục bộ. Thứ ba, việc thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân trong quyết định số phận pháp lí của đất đai của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải dựa trên khuôn khổ quy định của pháp luật đất đai. Cụ thể: Một là Luật đất đai năm 2013 quy định cụ thể căn cứ, hình thức, thẩm quyền giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, điều kiện chuyển mục đích sử dụng đất. Theo đó: -       Giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất phải dựa trên căn cứ kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt và nhu cầu sử dụng đất thể hiện trong dự án đầu tư, đơn xin giao đất, thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất.(5) -       Không phải cơ quan nhà nước nào cũng có thẩm quyền giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất mà thẩm quyền này được trao cho uỷ ban nhân dân (UBND) cấp tỉnh và UBND cấp huyện.(6) -       Quy định các trường hợp chuyển mục đích sử dụng đất phải được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.(7) -       Bổ sung quy định về điều kiện giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư, bao gồm: 1) Đối với dự án có sử dụng đất trồng lúa, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng vào các mục đích khác mà không thuộc trường hợp được Quốc hội quyết định, Thủ tướng Chính phủ chấp thuận chủ trương đầu tư thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền chỉ được quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất khi có một trong các văn bản sau đây: Văn bản chấp thuận của Thủ tướng Chính phủ đối với trường hợp chuyển mục đích sử dụng từ 10 ha đất trồng lúa trở lên, từ 20 ha đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng trở lên; nghị quyết của HĐND cấp tỉnh đối với trường hợp chuyển mục đích sử dụng dưới 10 ha đất trồng lúa trở lên, dưới 20 ha đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng; 2) Đối với dự án sử dụng đất tại đảo và xã, phường, thị trấn biên giới, ven biển, cơ quan nhà nước có thẩm quyền chỉ được quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất khi được sự chấp thuận bằng văn bản của các bộ, ngành liên quan; 3) Người được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư phải có các điều kiện sau đây: Có năng lực tài chính để bảo đảm việc sử dụng đất theo tiến độ của dự án đầu tư; kí quỹ theo quy định của pháp luật về đầu tư; không vi phạm quy định của pháp luật về đất đai đối với trường hợp đang sử dụng đất do Nhà nước giao đất, cho thuê đất để thực hiện dự án đầu tư khác. Hai là việc thu hồi đất, trưng dụng đất (thu lại vĩnh viễn hoặc thu lại có thời hạn quyền sử dụng đất đã giao cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân) được thực hiện theo quy định của pháp luật. Theo đó: -       Việc thu hồi đất không áp dụng trong mọi trường hợp có nhu cầu sử dụng đất mà Nhà nước chỉ thu hồi đất trong các trường hợp sau: 1) Thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh;(8) 2) Thu hồi đất để phát triển kinh tế- xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng;(9) 3) Thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai;(10) 4) Thu hồi đất do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật, tự nguyện trả lại đất, có nguy cơ đe dọa tính mạng con người.(11) Đối với việc sử dụng đất để thực hiện dự án, công trình sản xuất, kinh doanh không thuộc trường hợp Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh hoặc thu hồi đất để phát triển kinh tế-xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng mà phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt thì chủ đầu tư được nhận chuyển nhượng, thuê quyền sử dụng đất, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật. -       Việc thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế-xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng phải dựa trên các căn cứ sau: 1) Dự án thuộc các trường hợp thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế-xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng; 2) Kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt; 3) Tiến độ sử dụng đất thực hiện dự án. -       Người bị thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế-xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng được Nhà nước bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo quy định của pháp luật. -       Quy định cụ thể trình tự, thủ tục thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế-xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng.(12) -       Bổ sung quy định về nguyên tắc, điều kiện, thẩm quyền và trình tự cưỡng chế thực hiện quyết định kiểm đếm bắt buộc, cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất nhằm đảm bảo tính uy quyền trong thực thi quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai của Nhà nước; đồng thời bảo hộ quyền sử dụng đất hợp pháp của người sử dụng.(13) -       Không phải cơ quan nhà nước nào cũng có thẩm quyền thu hồi đất mà chỉ có UBND cấp tỉnh và UBND cấp huyện mới có thẩm quyền này.(14) Việc giới hạn thẩm quyền thu hồi đất nhằm ngăn ngừa tình trạng thu hồi đất tràn lan đồng thời ràng buộc trách nhiệm pháp lí của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nếu thực hiện việc thu hồi đất trái pháp luật. -       Sửa đổi, bổ sung quy định về trưng dụng đất, trong đó xác định rõ điều kiện, thẩm quyền, trình tự, thời gian thực hiện việc trưng dụng đất và trách nhiệm bồi thường thiệt hại do việc trưng dụng đất gây ra cho người sử dụng đất.(15) 2. Về vai trò đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai Luật đất đai năm 2003 quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu.(16) Tiếp đó, Luật quy định Nhà nước thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai và thống nhất quản lí nhà nước về đất đai thông qua các cơ quan bao gồm: Quốc hội, Chính phủ, HĐND các cấp và UBND các cấp.(17) Như vậy, trong hệ thống tổ chức nhà nước, các tổ chức sau liên quan đến việc thực hiện chức năng đại diện chủ sở hữu đất đai: Quốc hội, HĐND các cấp; Chính phủ và UBND các cấp. Tuy nhiên, Chính phủ và UBND các cấp không chỉ thực hiện chức năng đại diện chủ sở hữu đất đai mà còn thực hiện chức năng thống nhất quản lí nhà nước về đất đai. Việc Luật đất đai năm 2003 quy định Nhà nước thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai và thống nhất quản lí nhà nước về đất đai trong cùng một điều luật đã không tách bạch vai trò đại diện chủ sở hữu nói chung và chưa minh định giữa chức năng đại diện chủ sở hữu đất đai với chức năng thống nhất quản lí nhà nước về đất đai của Chính phủ và UBND các cấp nói riêng. Điều này dễ dẫn đến tình trạng các cơ quan nhà nước có thẩm quyền lạm quyền, tiêu cực, chuyên quyền độc đoán trong việc quyết định số phận pháp lí của đất đai, tiềm ẩn nguy cơ tham nhũng; đồng thời “làm mờ nhạt” vai trò chủ sở hữu đất đai của toàn dân. Khắc phục tồn tại này, Luật đất đai năm 2013 đã sửa đổi, bổ sung làm rõ hơn vai trò đại diện chủ sở hữu. Theo đó, Luật quy định việc thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu về đất đai của Nhà nước được thực hiện thông qua các cơ quan gồm Quốc hội, HĐND các cấp, Chính phủ và UBND các cấp với định chế rõ ràng hơn, cụ thể hơn về quyền hạn của các cơ quan này. Cụ thể: -       Quốc hội ban hành luật, nghị quyết về đất đai; quyết định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp quốc gia; thực hiện quyền giám sát tối cao đối với việc quản lí và sử dụng đất trong phạm vi cả nước; -       HĐND các cấp thực hiện quyền thông qua quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của địa phương mình trước khi trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt; thông qua bảng giá đất, việc thu hồi đất thực hiện các dự án phát triển kinh tế-xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng của địa phương theo thẩm quyền quy định tại Luật này; giám sát việc thi hành pháp luật về đất đai tại địa phương; -       Chính phủ và UBND các cấp thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu về đất đai theo thẩm quyền quy định tại Luật này. Qua đây, chúng ta có thể nhận thấy rằng vai trò đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai đề cập trong Luật đất đai năm 2013 được xác định cụ thể, rõ ràng hơn chức năng thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu; trong đó, nhấn mạnh vai trò của các cơ quan đại diện (cơ quan dân cử) thay mặt người dân thực hiện quyền năng của chủ sở hữu đối với đất đai. 3. Về quyền hạn, nhiệm vụ của đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai Như phần trên đã đề cập, ở nước ta, vai trò của Nhà nước trong lĩnh vực đất đai được xem xét, đánh giá với ba tư cách: 1) Tư cách đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai; 2) Tư cách thống nhất quản lí đất đai; 3) Tư cách của người sử dụng đất trong từng trường hợp cụ thể. Trong mỗi tư cách, Nhà nước có các quyền hạn và nhiệm vụ không giống nhau. Luật đất đai năm 2003 chưa chế định rõ các quyền và nhiệm vụ của Nhà nước trong từng tư cách này. Luật này quy định quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai với quyền thống nhất quản lí nhà nước về đất đai. Điều này chưa làm nổi bật quyền hạn và trách nhiệm của Nhà nước trong vai trò đại diện chủ sở hữu đất đai dẫn đến trong quá trình quản lí, một số cơ quan nhà nước đã không phân biệt khi nào thì thực hiện các quyền năng đại diện chủ sở hữu, khi nào thực hiện nội dung quản lí nhà nước về đất đai và khi nào thực hiện tư cách của người sử dụng đất trong từng trường hợp cụ thể. Hậu quả là hiệu quả thực thi vai trò đại diện chủ sở hữu đất đai của Nhà nước không như mong muốn. Vì vậy, yêu cầu đặt ra là “cần phải phân định rõ vai trò của Nhà nước trong tư cách “đại diện chủ sở hữu” và trách nhiệm của các tổ chức, đơn vị nhà nước với tư cách là “người sử dụng đất”. Không phân định rõ điều này dễ dẫn đến không tường minh, không bình đẳng trong thực thi quan hệ đất đai”.(18) Khắc phục hạn chế này, Luật đất đai năm 2013 đã có quy định đề cập rõ hơn quyền hạn, nhiệm vụ của Nhà nước dưới khía cạnh thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai. Theo đó, Nhà nước thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu đất đai thể hiện ở 08 quyền năng quy định tại Điều 13, tập trung vào việc phân phối đất đai, quyết định số phận pháp lí của đất đai; đồng thời việc thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu đất đai của Nhà nước phải tuân theo các quy định của pháp luật đất đai hiện hành. 4. Về phân định chức năng đại diện chủ sở hữu với chức năng quản lí nhà nước về đất đai của các cơ quan nhà nước Một trong những nội dung sửa đổi, bổ sung của Luật đất đai năm 2013 là phân định rõ vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện chức năng đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai với chức năng quản lí nhà nước về đất đai. Đây là vấn đề rất quan trọng vì “nếu không phân định và chế định rõ sẽ rất dễ lẫn lộn trong thực hiện các chức năng của Nhà nước về quyền của đại diện chủ sở hữu và quyền quản lí nhà nước về đất đai, trong thực hiện các chính sách và cơ chế quản lí đất đai”.(19) Điều này thể hiện ở Mục 1 Chương II (từ Điều 13 đến Điều 21) quy định quyền của Nhà nước với tư cách đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai và Mục 2 Chương II (từ Điều 22 đến Điều 28) quy định trách nhiệm của Nhà nước trong thống nhất quản lí đất đai. Việc phân định rạch ròi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong chức năng thực hiện vai trò đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai với chức năng quản lí nhà nước về đất đai đem lại các ý nghĩa chủ yếu sau đây: Thứ nhất, như phần trên đã đề cập, không phải bất cứ cơ quan nhà nước nào cũng có thẩm quyền thực hiện vai trò đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai. Ví dụ: Giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất và thu hồi đất; xác định giá đất… là những hoạt động thể hiện quyền của Nhà nước trong việc thực hiện vai trò đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai được pháp luật đất đai quy định thẩm quyền thuộc UBND cấp tỉnh hoặc UBND cấp huyện.(20) Trong khi đó, chức năng quản lí nhà nước về đất đai được pháp luật quy định cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền chung (Chính phủ và UBND các cấp) và cơ quan nhà nước có thẩm quyền riêng (thẩm quyền chuyên môn) gồm: Bộ tài nguyên và môi trường, sở tài nguyên và môi trường, phòng tài nguyên và môi trường và đội ngũ cán bộ địa chính cấp xã thực hiện.(21) Việc quy định rạch ròi giữa vai trò đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai với vai trò quản lí đất đai của Nhà nước sẽ giúp các cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhận diện được phạm vi và thẩm quyền, chức năng, nhiệm vụ của mình trong quản lí đất đai; góp phần ngăn ngừa tình trạng giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất và thu hồi đất… trái thẩm quyền. Thứ hai, Luật đất đai năm 2003 quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lí.(22) Tuy nhiên, trên thực tế việc thực hiện vai trò đại diện chủ sở hữu đất đai và quản lí đất đai lại do các cơ quan nhà nước và cán bộ, công chức  nhà  nước  có  thẩm  quyền  thực  hiện. Như vậy, từ chế định đại diện chủ sở hữu đất đai do một pháp nhân công (Nhà nước) đã chuyển giao cho một tổ chức, cá nhân cụ thể (cơ quan nhà nước, công chức nhà nước có thẩm quyền) thực hiện. Quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai trong giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất và thu hồi đất v.v do cơ quan nhà nước thực hiện trên cơ sở quy định của pháp luật đất đai. Song trong quá trình quản lí, các cơ quan quản lí nhà nước về đất đai nhiều khi tự cho mình có những quyền năng đại diện chủ sở hữu trong việc quyết định số phận pháp lí của đất đai thông qua hoạt động giao đất, cho thuê đất và thu hồi đất v.v. Điều này làm nảy sinh tình trạng giao đất, cho thuê đất và thu hồi đất không đúng pháp luật hoặc vượt quá thẩm quyền. Khắc phục tình trạng này, Luật đất đai năm 2013 đã quy định rõ quyền của Nhà nước đối với đất đai và trách nhiệm của Nhà nước đối với đất đai. Hơn nữa, việc minh định quyền của Nhà nước đối với đất đai và trách nhiệm của Nhà nước đối với đất đai trong Luật đất đai năm 2013 còn thể hiện nguyên tắc bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong lĩnh vực đất đai. Theo đó, không chỉ các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất được pháp luật cho hưởng quyền và phải thực hiện nghĩa vụ pháp lí mà Nhà nước cho dù với tư cách đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai cũng có quyền và trách nhiệm đối với đất đai. Điều này thể hiện sự đối xử bình đẳng giữa các chủ thể trong quan hệ đất đai, không phân biệt đó là người sử dụng đất hay người đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai. Ở khía cạnh khác, Nhà nước không phải là chủ sở hữu đất đai mà chỉ là đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai. Nhà nước thực hiện vai trò đại diện chủ sở hữu đất đai dựa trên các quy định của pháp luật đồng thời Nhà nước thực hiện chức năng quản lí đất đai. Việc thực hiện song hành hai chức năng này của Nhà nước dựa trên bản chất dân chủ nhân dân của Nhà nước ta và là một tổ chức do nhân dân lao động thiết lập nên thay mặt xã hội quản lí đất đai vì lợi ích chung. Do vậy, Nhà nước phải ý thức được bổn phận và trách nhiệm của mình đối với đất đai để làm tròn sứ mạng mà nhân dân giao phó./. Nguyễn Quang Tuyến[1]   [1] Tiến sĩ luật học, phó giáo sư Trường Đại học Luật Hà Nội  (1).Xem: Điều 43 Luật đất đai năm 2013.   (2).Xem: Điều 48 Luật đất đai năm 2013.   (3).Xem: Điều 198, Điều 199 Luật đất đai năm 2013.   (4).Xem: Khoản 5 Điều 199 Luật đất đai năm 2013.   (5).Xem: Điều 52 Luật đất đai năm 2013.   (6).Xem: Điều 59 Luật đất đai năm 2013.   (7).Xem: Điều 57 Luật đất đai năm 2013.   (8).Xem: Điều 61 Luật đất đai năm 2013.   (9).Xem: Điều 62 Luật đất đai năm 2013. (10).Xem: Điều 64 Luật đất đai năm 2013. (11).Xem: Điều 65 Luật đất đai năm 2013. (12).Xem: Điều 69 Luật đất đai năm 2013.   (13).Xem: Điều 70, Điều 71 Luật đất đai năm 2013. (14).Xem: Điều 66 Luật đất đai năm 2013. (15).Xem: Điều 72 Luật đất đai năm 2013. (16).Xem: Khoản 1 Điều 5 Luật đai năm 2003. (17).Xem: Điều 7 Luật đất đai năm 2003.   (18).Xem: PGS.TS. Trần Quốc Toản (chủ biên), Đổi mới quan hệ sở hữu đất đai - Lí luận và thực tiễn, Nxb. Chính trị quốc gia-Sự thật, Hà Nội, 2013, tr. 245. (19).Xem: PGS.TS. Trần Quốc Toản (chủ biên), sđd, tr. 256.   (20).Xem: Điều 59, Điều 66, Điều 114 Luật đất đai năm 2013.   (21).Xem: Điều 23, Điều 24, Điều 25 Luật đất đai năm 2013.   (22).Xem: Điều 5 Luật đất đai năm 2003.  
1. Khái quát về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất 1.1. Khái niệm quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất “Quy hoạch”, “kế hoạch sử dụng đất” là những thuật ngữ được sử dụng phổ biến trong Luật đất đai năm 1993, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đất đai năm 1998 và năm 2001, Luật đất đai năm 2003. Tuy nhiên, chỉ đến khi Luật đất đai năm 2013 được ban hành, những thuật ngữ này mới được giải thích một cách chính thức và cụ thể tại Điều 3, theo đó: “Quy hoạch sử dụng đất là việc phân bổ và khoanh vùng đất đai theo không gian sử dụng cho các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội, quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường và thích ứng biến đổi khí hậu trên cơ sở tiềm năng đất đai và nhu cầu sử dụng đất của các ngành, lĩnh vực đối với từng vùng kinh tế-xã hội và đơn vị hành chính trong một khoảng thời gian xác định”;(1) “kế hoạch sử dụng đất là việc phân chia quy hoạch sử dụng đất theo thời gian để thực hiện trong kì quy hoạch sử dụng đất”.(2) “Quy hoạch”, “kế hoạch sử dụng đất” là những thuật ngữ thường đi kèm với nhau. Chúng được sử dụng để biểu đạt một trong những phương thức thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai của Nhà nước cũng như một trong những phương thức quản lí nhà nước đối với đất đai. Song về bản chất, giữa hai thuật ngữ này cũng có một số điểm khác biệt chủ yếu sau đây: Thứ nhất, quy hoạch sử dụng đất ra đời trước và kế hoạch sử dụng đất ra đời sau. Điều này có nghĩa là quy hoạch sử dụng đất được xây dựng trước. Sau đó, dựa trên quy hoạch sử dụng đất, cơ quan nhà nước có thẩm quyền mới xây dựng kế hoạch sử dụng đất. Thứ hai, quy hoạch sử dụng đất thường mang tính dài hạn. Kì quy hoạch sử dụng đất là 10 năm.(3) Trong khi đó, kế hoạch sử dụng đất mang tính ngắn hạn hơn, thường là 5 năm hoặc hàng năm.(4) Thứ ba, quy hoạch sử dụng đất mang tính vĩ mô. Quy hoạch sử dụng đất là sự định hướng chiến lược cho công tác quản lí và sử dụng đất trong tương lai, thể hiện ở việc phân bổ và khoanh vùng đất đai theo không gian sử dụng cho các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội, an ninh-quốc phòng, bảo vệ môi trường v.v.. Trong khi đó, kế hoạch sử dụng đất lại mang tính cụ thể với thời gian xác định, thể hiện ở việc phân chia quy hoạch sử dụng đất theo thời gian để thực hiện. 1.2. Vai trò, ý nghĩa của quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất Vai trò, ý nghĩa của quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được thể hiện trên các khía cạnh cơ bản sau đây: Thứ nhất, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất  là  một  trong  những  phương  thức  thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai của Nhà nước.(5) Chỉ Nhà nước với tư cách đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai mới có quyền quyết định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nhằm phân bổ và khoanh vùng đất đai theo không gian sử dụng cho các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội; an ninh-quốc phòng; bảo vệ môi trường… Điều này có nghĩa là thông qua quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, Nhà nước xác định mục đích sử dụng cụ thể cho từng loại đất, đáp ứng các nhu cầu sử dụng đất khác nhau trong xã hội.(6) Thứ hai, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là một trong những nguyên tắc sử dụng đất,(7) nó định hướng cho việc sử dụng đất phù hợp với các mục tiêu phát triển của đất nước hoặc ở mỗi địa phương, ngăn ngừa tình trạng sử dụng đất đai bừa bãi, lãng phí và kém hiệu quả. Ngoài ra, thông qua quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, đất đai trở thành nguồn lực quan trọng, nguồn vốn to lớn để phát triển đất nước. Thứ ba, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cùng với quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội, quy hoạch không gian vùng, quy hoạch xây dựng và quy hoạch đô thị… tạo thành hệ thống quy hoạch đồng bộ, thống nhất, phục vụ cho việc thực hiện kế hoạch kinh tế-xã hội 5 năm của cả nước và từng địa phương. Điều này có nghĩa là quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất góp phần thực hiện các chỉ tiêu phát triển kinh tế-xã hội trong 5 năm của cả nước và ở từng địa phương. 2. Những sửa đổi, bổ sung về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong Luật đất đai năm 2013 Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được quy định tại Chương IV Luật đất đai năm 2013, bao gồm 17 điều (từ Điều 35 đến Điều 51). Tìm hiểu nội dung các quy định về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong Luật đất đai năm 2013, đặt trong mối quan hệ so sánh, đối chiếu với những quy định về vấn đề này của Luật đất đai năm 2003 cho thấy có một số sửa đổi, bổ sung chủ yếu sau đây: Thứ nhất, về hệ thống quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất So với Luật đất đai năm 2003, Luật đất đai năm 2013 bổ sung quy định hệ thống quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất bao gồm: 1) Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp quốc gia; 2) Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp tỉnh; 3) Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp huyện; 4) Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất quốc phòng; 5) Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất an ninh.(8) Việc bổ sung này nhằm tạo sự thống nhất và tính kết nối giữa quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp quốc gia; quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp tỉnh; quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp huyện với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất quốc phòng-an ninh. Ngoài ra, Luật đất đai năm 2013 đã lược bỏ quy định về quy hoạch sử dụng đất chi tiết đến từng thửa của các xã không nằm trong quy hoạch phát triển đô thị. Theo đó, nội dung sử dụng đất của cấp xã được thể hiện trong quy hoạch sử dụng đất cấp huyện. Điều này có nghĩa là UBND cấp huyện lập quy hoạch sử dụng đất của cấp huyện thì đồng thời lập cả quy hoạch sử dụng đất của cấp xã. Việc sửa đổi quy định này xuất phát từ lí do cơ bản sau đây: Việc lập quy hoạch sử dụng đất chi tiết đến từng thửa là công việc đòi hỏi tính chuyên môn, kỹ thuật, nghiệp vụ cao. Điều này đòi hỏi người lập quy hoạch sử dụng đất phải là người am hiểu sâu sắc về chuyên môn, kĩ thuật, nghiệp vụ của quy hoạch sử dụng đất. Tuy nhiên trên thực tế, đội ngũ cán bộ cấp xã nói chung và cán bộ địa chính cấp xã nói riêng hầu như không có đủ năng lực, kiến thức và trình độ chuyên môn về quy hoạch sử dụng đất, vì vậy không thể thực hiện được công việc này hoặc thực hiện không có hiệu quả. Hơn nữa, để thực hiện việc lập quy hoạch sử dụng đất chi tiết đến từng thửa đòi hỏi nguồn kinh phí lớn, lên đến hàng tỉ đồng mà năng lực tài chính của cấp xã không đáp ứng được. Thứ hai, về nguyên tắc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất Trong Luật đất đai năm 2013, nguyên tắc này được quy định tại Điều 35 với những sửa đổi, bổ sung như sau: Một là bổ sung một trong những nguyên tắc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đó là: “Quy hoạch sử dụng đất cấp quốc gia phải đảm bảo tính đặc thù, liên kết của các vùng kinh tế-xã hội; quy hoạch sử dụng đất cấp huyện phải thể hiện nội dung sử dụng đất của cấp xã”.(9) Đây là bổ sung quan trọng bởi lẽ thực tiễn thi hành các quy định về quy hoạch sử dụng đất của Luật đất đai năm 2003 cho thấy các địa phương lập quy hoạch sử dụng đất nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng đất và phù hợp với điều kiện đặc thù của địa phương mình. Do thiếu tính liên kết giữa các vùng, địa phương nên khó tránh khỏi tính bình quân trong quy hoạch sử dụng đất, mà điều dễ nhận thấy nhất là việc quy hoạch khu công nghiệp. Hiện nay, ở tất cả các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đều xây dựng khu công nghiệp. Tuy nhiên, không phải ở tỉnh nào khu công nghiệp cũng có tỉ lệ “lấp đầy” đạt 100%. Có không ít khu công nghiệp ở các tỉnh do không có lợi thế về điều kiện tự nhiên như xa các trung tâm kinh tế lớn, xa cảng biển, ga đường sắt, trình độ dân trí thấp, hệ thống cơ sở hạ tầng kĩ thuật và hạ tầng xã hội nghèo nàn, thiếu đồng bộ v.v. nên tỉ lệ “lấp đầy” các khu công nghiệp đạt thấp, phần lớn đất đai tại đây bị bỏ hoang, hoá. Như vậy, có thể thấy “… quy hoạch sử dụng đất được lập theo đơn vị hành chính không đảm bảo tính kết nối liên vùng, không phát huy được thế mạnh của từng vùng và bảo đảm sự phát triển hài hoà giữa các vùng; quy hoạch sử dụng đất chưa thực hiện phân vùng chức năng sử dụng đất theo không gian mà mới chỉ chú ý đến việc phân bổ các chỉ tiêu loại đất”.(10) Việc bổ sung nguyên tắc này trong lập quy hoạch sử dụng đất sẽ đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ của quy hoạch sử dụng đất cấp quốc gia đồng thời phát huy được những lợi thế, tiềm năng, thế mạnh đặc thù của mỗi địa phương và khắc phục tình trạng lập quy hoạch sử dụng đất theo kiểu “phong trào”, không chú trọng đến yếu tố hiệu quả kinh tế trong sử dụng đất đai. Hai là bổ sung quy định việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất phải đảm bảo một trong những nguyên tắc là không chỉ khai thác hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường mà còn đáp ứng đòi hỏi của thích ứng với biến đổi khí hậu (11). Một trong những thách thức mà hiện nay nhân loại đang phải đối mặt, đó là biến đổi khí hậu trên phạm vi toàn cầu. Theo đánh giá của các chuyên gia môi trường thì Việt Nam là một trong 5 nước chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của việc biến đổi khí hậu. Để đối phó với biến đổi khí hậu, nước ta đã xây dựng kịch bản về vấn đề này. Việc phòng, chống biến đổi khí hậu có ý nghĩa lớn về chính trị, kinh tế-xã hội, an ninh-quốc phòng và bảo vệ môi trường, vì vậy Việt Nam không chỉ chuẩn bị các điều kiện vật chất, phương tiện, con người… mà còn phải quy hoạch quỹ đất cần thiết để đáp ứng nhu cầu của quá trình này. Ba là bổ sung nguyên tắc bảo đảm ưu tiên quỹ đất cho mục đích quốc phòng-an ninh, phục vụ lợi ích quốc gia, công cộng, an ninh lương thực và bảo vệ môi trường trong lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.(12) Sử dụng đất vào mục đích quốc phòng, an ninh, phục vụ lợi ích quốc gia, công cộng, an ninh lương thực và bảo vệ môi trường mang lại lợi ích thiết thực và giá trị xã hội to lớn cho cộng đồng. Vì vậy, việc bổ sung nguyên tắc này trong lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là cần thiết và dễ nhận được sự đồng thuận của xã hội. Bốn là bổ sung nguyên tắc “quy hoạch, kế hoạch của ngành, lĩnh vực, địa phương có sử dụng đất phải bảo đảm phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định, xét duyệt”(13) trong lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nhằm đảm bảo tính thống nhất, tương thích giữa quy hoạch sử dụng đất của cấp dưới với quy hoạch sử dụng đất của cấp trên; giữa quy hoạch sử dụng đất của các ngành với quy hoạch sử dụng đất của các địa phương và giữa quy hoạch sử dụng đất của địa phương với quy hoạch sử dụng đất của trung ương. Thứ ba, nếu như Luật đất đai năm 2003 có hai điều luật quy định chung về căn cứ để lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất (Điều 22) và quy định chung về nội dung quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất (Điều 23) thì Luật đất đai năm 2013 quy định căn cứ lập quy hoạch sử dụng đất và nội dung quy hoạch sử dụng đất; căn cứ lập kế hoạch sử dụng đất và nội dung kế hoạch sử dụng đất của từng cấp quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất ở từng điều luật cụ thể. Theo đó, Điều 38 quy định căn cứ lập quy hoạch sử dụng đất và nội dung quy hoạch sử dụng đất; căn cứ lập kế hoạch sử dụng đất và nội dung kế hoạch sử dụng đất cấp quốc gia;(14) Điều 39 quy định căn cứ lập quy hoạch sử dụng đất và nội dung quy hoạch sử dụng đất; căn cứ lập kế hoạch sử dụng đất và nội dung kế hoạch sử dụng đất cấp tỉnh;(15) Điều 40 quy định căn cứ lập quy hoạch sử dụng đất và nội dung quy hoạch sử dụng đất; căn cứ lập kế hoạch sử dụng đất và nội dung kế hoạch sử dụng đất cấp huyện;(16) Điều 41 quy định căn cứ lập quy hoạch sử dụng đất và nội dung quy hoạch sử dụng đất; căn cứ lập kế hoạch sử dụng đất và nội dung kế hoạch sử dụng đất quốc phòng-an ninh.(17) Quy định này của Luật đất đai năm 2013 mang tính khoa học hơn và thể hiện được một số đặc thù trong căn cứ, nội dung quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất giữa các cấp quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; đồng thời khắc phục tình trạng “Luật còn quy định chung về nguyên tắc, căn cứ và nội dung quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cho các cấp, do đó chưa thể hiện tính vĩ mô, định hướng của quy hoạch cấp trên và tính chi tiết, cụ thể của quy hoạch cấp dưới”.(18) Ngoài ra, khi so sánh giữa Luật đất đai năm 2003 và Luật đất đai năm 2013 về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất giữa các cấp lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, chúng ta có thể thấy một số điểm khác biệt như sau: Một là theo Luật đất đai năm 2013, một trong những căn cứ lập quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh, cấp huyện và quy hoạch sử dụng đất quốc phòng-an ninh là dựa vào định mức sử dụng đất. Tuy nhiên, nội dung này không phải là một trong những căn cứ lập quy hoạch sử dụng đất cấp quốc gia. Hai là trong Luật đất đai năm 2013, một trong những nội dung của quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh, cấp huyện và quy hoạch sử dụng đất quốc phòng-an ninh là xác định các khu vực sử dụng đất theo chức năng sử dụng hoặc xác định các khu vực sử dụng đất theo chức năng sử dụng đến từng đơn vị hành chính cấp xã hoặc xác định nhu cầu sử dụng đất quốc phòng-an ninh trong kì quy hoạch sử dụng đất phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội, quốc phòng-an ninh và kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của quốc gia. Trong khi đó, nội dung của quy hoạch sử dụng đất cấp quốc gia lại không có vấn đề này. Ba là một trong những nội dung của quy hoạch sử dụng đất cấp quốc gia là xác định các chỉ tiêu sử dụng đất đối với nhóm đất nông nghiệp, nhóm đất phi nông nghiệp và nhóm đất chưa sử dụng. Trong khi đó, một trong những nội dung quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh đề cập là việc xác định diện tích các loại đất đã được phân bổ trong quy hoạch sử dụng đất cấp quốc gia và diện tích các loại đất theo nhu cầu sử dụng đất cấp tỉnh; nội dung của quy hoạch sử dụng đất cấp huyện đề cập là việc xác định diện tích các loại đất đã được phân bổ trong quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh và diện tích các loại đất theo nhu cầu sử dụng đất của cấp huyện và cấp xã; nội dung của quy hoạch sử dụng đất quốc phòng-an ninh đề cập là xác định nhu cầu sử dụng đất quốc phòng-an ninh trong kì quy hoạch sử dụng đất phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội, quốc phòng-an ninh và kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của quốc gia. Điều này cho thấy sự khác biệt giữa nội dung quy hoạch sử dụng đất cấp quốc gia với nội dung quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh, cấp huyện và quy hoạch sử dụng đất quốc phòng-an ninh. Quy hoạch sử dụng đất cấp quốc gia hướng đến việc xác định chỉ tiêu sử dụng đất đối với các loại đất (mang tính vĩ mô); quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh, cấp huyện và quy hoạch sử dụng đất quốc phòng-an ninh tập trung vào việc xác định diện tích các loại đất đã được phân bổ trong quy hoạch sử dụng đất cấp quốc gia hoặc trong quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh và diện tích các loại đất theo nhu cầu của cấp tỉnh, của cấp huyện và cấp xã. Bốn là điểm đáng chú ý của Luật đất đai năm 2013 về quy hoạch sử dụng đất là quy định đối với quận có quy hoạch đô thị đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt thì không lập quy hoạch sử dụng đất nhưng phải lập kế hoạch sử dụng đất hàng năm. Trường hợp quy hoạch đô thị của quận không phù hợp với diện tích đã được phân bổ trong quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh thì phải điều chỉnh quy hoạch đô thị cho phù hợp với quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh.(19) Quy định này góp phần đảm bảo tính bền vững, tránh gây xáo trộn của quy hoạch đô thị đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt, đồng thời tiết kiệm kinh phí sử dụng vào việc xây dựng quy hoạch sử dụng đất trong bối cảnh quy hoạch đô thị của UBND quận đã được cấp có thẩm quyền xét duyệt và triển khai thực hiện. Thứ tư, Luật đất đai năm 2013 sửa đổi, bổ sung quy định về kì kế hoạch sử dụng đất cấp huyện. Luật  đất  đai năm 2003 quy định kì kế hoạch sử dụng đất của cả nước, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, huyện quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, xã, phường, thị trấn là 5 năm.(20) Trong Luật đất đai năm 2013, quy định này được sửa đổi như sau: “Kì kế hoạch sử dụng đất cấp quốc gia, cấp tỉnh và kì kế hoạch sử dụng đất quốc phòng, đất an ninh là 05 năm. Kế hoạch sử dụng đất cấp huyện lập hàng năm”.(21) Điều này nhằm nâng cao tính khả thi của kì kế hoạch sử dụng đất do UBND cấp huyện lập. Thứ năm, bên cạnh việc kế thừa nội dung của Luật đất đai năm 2003 về trách nhiệm tổ chức lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của Chính phủ, UBND cấp tỉnh, UBND cấp huyện, Luật đất đai năm 2013 bổ sung quy định Bộ tài nguyên và môi trường chủ trì giúp Chính phủ trong việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp quốc gia; cơ quan quản lí đất đai cấp tỉnh, cấp huyện chủ trì giúp UBND cùng cấp trong việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.(22) Điều này góp phần tăng cường trách nhiệm của cơ quan quản lí đất đai các cấp trong việc giúp Chính phủ và UBND các cấp thực hiện quản lí nhà nước về đất đai. Thứ sáu, Luật đất đai năm 2013 bổ sung quy định về lấy ý kiến về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trực tiếp tác động đến việc sử dụng đất của người dân và tiềm ẩn nguy cơ làm đảo lộn cuộc sống, sản xuất của họ; bởi lẽ, do quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là cơ sở để Nhà nước phân định mục đích sử dụng đất, chuyển  đổi mục  đích sử  dụng đất.  Vì vậy, để đảm bảo việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất phù hợp với mong muốn, lợi ích hợp pháp của người dân qua đó tạo sự đồng thuận xã hội, pháp luật đất đai đề cập nội dung lấy ý kiến đóng góp của nhân dân trong lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Tuy nhiên, Luật đất đai năm 2003 quy định vấn đề này trong một khoản (khoản 5 Điều 25), với phạm vi lấy ý kiến đóng góp hạn chế, đó là chỉ thực hiện đối với quy hoạch sử dụng đất của xã không nằm trong khu vực quy hoạch phát triển đô thị được lập chi tiết gắn với thửa đất. Trong Luật đất đai năm 2013, nội dung này được quy định thành điều luật riêng (Điều 45) và việc lấy ý kiến được thực hiện ở tất cả hệ thống quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, với quy định cụ thể về hình thức, nội dung và thời hạn lấy ý kiến nhân dân. Điều này cho thấy Nhà nước rất coi trọng việc tham vấn ý kiến người dân trong quá trình lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nhằm nâng cao tính khả thi của quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, đồng thời tạo cơ sở pháp lí xác lập trách nhiệm của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc tham vấn ý kiến của người dân khi lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Thứ bảy, để đảm bảo việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất mang tính khoa học, tính thống nhất, tính hợp lí và tính khả thi, Luật đất đai năm 2013 bổ sung quy định về thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất với những nội dung như sau: Một là Thủ tướng Chính phủ thành lập hội đồng thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp quốc gia. Bộ tài nguyên và môi trường có trách nhiệm giúp hội đồng thẩm định trong quá trình thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Hai là Bộ trưởng Bộ tài nguyên và môi trường thành lập hội đồng thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất quốc phòng-an ninh và quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp tỉnh. Cơ quan quản lí đất đai ở trung ương có trách nhiệm giúp hội đồng thẩm định trong quá trình thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Ba là chủ tịch UBND cấp tỉnh thành lập hội đồng thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp huyện. Cơ quan quản lí đất đai cấp tỉnh, cấp huyện có trách nhiệm giúp hội đồng thẩm định trong quá trình thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Bốn là nội dung thẩm định quy hoạch sử dụng đất bao gồm: 1) Cơ sở pháp lí, cơ sở khoa học của việc lập quy hoạch sử dụng đất; 2) Mức độ phù hợp của phương án quy hoạch sử dụng đất với chiến lược, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội, quốc phòng-an ninh của quốc gia và địa phương; quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực; 3) Hiệu quả kinh tế-xã hội, môi trường; 4) Tính khả thi của phương án quy hoạch sử dụng đất. Năm là nội dung thẩm định kế hoạch sử dụng đất bao gồm: 1) Mức độ phù hợp của kế hoạch sử dụng đất với quy hoạch sử dụng đất; 2) Mức độ phù hợp của kế hoạch sử dụng đất với kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội; 3) Tính khả thi của kế hoạch sử dụng đất. Thứ tám, Luật đất đai năm 2013 bổ sung quy định về tư vấn lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, theo đó: 1) Trong quá trình lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, cơ quan chịu trách nhiệm chủ trì việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được thuê tư vấn lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; 2) Chính phủ quy định điều kiện của tổ chức, cá nhân hoạt động tư vấn lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Như vậy, việc bổ sung quy định về tư vấn lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất sẽ giúp tháo gỡ khó khăn cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi thực hiện việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Thứ chín, Luật đất đai năm 2013 sửa đổi, bổ sung quy định về công bố công khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Luật đất đai năm 2013 quy định cụ thể hơn trách nhiệm công bố công khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất (Điều 48). Đây là một trong những giải pháp nhằm đảm bảo tính công khai, minh bạch trong lĩnh vực đất đai, đảm bảo sự bình đẳng trong tiếp cận thông tin đất đai. Thứ mười, về thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, Luật đất đai năm 2013 có những sửa đổi, bổ sung như sau: Một là Luật đất đai năm 2013 bổ sung nội dung Thủ tướng Chính phủ phân bổ chỉ tiêu sử dụng đất cho các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Bộ quốc phòng, Bộ công an trên cơ sở các chỉ tiêu sử dụng đất cấp quốc gia đã được Quốc hội quyết định. Hai là trường hợp quy hoạch sử dụng đất đã được công bố mà chưa có kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện thì người sử dụng đất được tiếp tục sử dụng và được thực hiện các quyền của người sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Trường hợp đã có kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện thì người sử dụng đất trong khu vực phải chuyển mục đích sử dụng đất và thu hồi đất theo kế hoạch, được tiếp tục thực hiện các quyền của người sử dụng đất nhưng không được xây dựng mới nhà ở, công trình, trồng cây lâu năm. Nếu người sử dụng đất có nhu cầu cải tạo, sửa chữa nhà ở, công trình hiện có thì phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép theo quy định của pháp luật. Điều này tạo cơ sở pháp lí để người sử dụng đất được thực hiện các quyền do pháp luật đất đai quy định. Ba là diện tích đất ghi trong kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện đã được công bố phải thu hồi để thực hiện dự án hoặc phải chuyển mục đích sử dụng đất mà sau 3 năm chưa có quyết định thu hồi đất hoặc chưa được phép chuyển mục đích sử dụng đất thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt kế hoạch sử dụng đất phải điều chỉnh, huỷ bỏ và phải công bố việc điều chỉnh, huỷ bỏ việc thu hồi hoặc chuyển mục đích đối với phần diện tích đất ghi trong kế hoạch sử dụng đất. Trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt kế hoạch sử dụng đất không điều chỉnh, huỷ bỏ hoặc có điều chỉnh, huỷ bỏ nhưng không công bố việc điều chỉnh, huỷ bỏ thì người sử dụng đất không bị hạn chế về quyền của người sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Đây là sửa đổi, bổ sung quan trọng nhằm xử lí tình trạng quy hoạch sử dụng đất “treo” đã tồn tại trong nhiều năm qua ở nước ta, gây khó khăn cho quá trình sử dụng đất của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong khu vực quy hoạch, đồng thời nâng cao tính khả thi đối với việc thực hiện quyền của người sử dụng đất được ghi nhận trong pháp luật đất đai hiện hành. Bốn là khi kết thúc kì quy hoạch sử dụng đất mà các chỉ tiêu quy hoạch sử dụng đất chưa thực hiện hết thì vẫn được tiếp tục thực hiện đến khi quy hoạch sử dụng đất kì tiếp theo được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định, phê duyệt. Thứ mười một, Luật đất đai năm 2013 bổ sung quy định về báo cáo thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Theo đó, đề cập trách nhiệm báo cáo hàng năm về kết quả thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của các cơ quan nhà nước; báo cáo kết quả thực hiện kế hoạch sử dụng đất hàng năm đối với năm cuối của kế hoạch sử dụng đất kì đầu phải kèm theo báo cáo tổng hợp việc thực hiện cả kì kế hoạch sử dụng đất; báo cáo kết quả thực hiện kế hoạch sử dụng đất hàng năm đối với năm cuối của kì quy hoạch sử dụng đất phải kèm theo báo cáo tổng hợp việc thực hiện cả kế hoạch sử dụng đất kì cuối và báo cáo tổng hợp việc thực hiện cả kì quy hoạch sử dụng đất. Điều này góp phần đề cao trách nhiệm của các cấp, ngành và địa phương trong việc tổ chức thực hiện nghiêm chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt. Thứ mười hai, Luật đất đai năm 2013 bổ sung quy định về giải quyết phát sinh về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất sau khi Luật đất đai năm 2013 có hiệu lực thi hành(23)./.  ĐỖ VIỆT CƯỜNG[1] [1] Thạc sĩ luật học, Khoa luật, Trường đại học kinh tế, Đại học Đà Nẵng (1).Xem: Khoản 2 Điều 3 Luật đất đai năm 2013.   (2).Xem: Khoản 3 Điều 3 Luật đất đai năm 2013.   (3).Xem: Khoản 1 Điều 37 Luật đất đai năm 2013.   (4). ì kế hoạch sử dụng đất cấp quốc gia, cấp tỉnh và kì kế hoạch sử dụng đất quốc phòng, an ninh là 5 năm. ế hoạch sử dụng đất cấp huyện được lập hàng năm (khoản 2 Điều 37 Luật đất đai năm 2013).   (5).Xem: Khoản 1 Điều 13 Luật đất đai năm 2013.   (6). Nhà nước quyết định mục đích sử dụng đất thông qua quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất và cho phép chuyển mục đích sử dụng đất (Điều 14 Luật   đất đai năm 2013).   (7). Đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và đúng mục đích sử dụng đất (khoản 1 Điều 6 Luật đất đai năm 2013).   (8).Xem: Điều 36 Luật đất đai năm 2013.   (9).Xem: Khoản 2 Điều 35 Luật đất đai năm 2013. (10). Đến cuối năm 2011 đã có 11 quy hoạch xây dựng vùng liên tỉnh được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, 9 quy hoạch xây dựng vùng dọc theo các tuyến đường cao tốc đang lập. Xem: Bộ tài nguyên và môi trường, Báo cáo số 193/BC-BTNMT về tổng k ết tình hình thi hành Luật đất đai 2003 và định hướng sửa đổi Luật đất đai, ngày 06/9/2012, tr. 14.   (11).Xem: Khoản 4 Điều 35 Luật đất đai năm 2013. (12).Xem: Khoản 7 Điều 35 Luật đất đai năm 2013. (13).Xem: Khoản 8 Điều 35 Luật đất đai năm 2013. (14).Xem: Điều 38 Luật đất đai năm 2013.   (15).Xem: Điều 39 Luật đất đai năm 2013. (16).Xem: Điều 40 Luật đất đai năm 2013. (17).Xem: Điều 41 Luật đất đai năm 2013.   (18).Xem: Bộ tài nguyên và môi trường, tlđd, tr.15. (19).Xem: Khoản 5 Điều 40 Luật đất đai năm 2013. (20).Xem: Khoản 2 Điều 24 Luật đất đai năm 2003. (21).Xem: Khoản 2 Điều 37 Luật đất đai năm 2013. (22).Xem: Điều 42 Luật đất đai năm 2013. (23).Xem: Điều 51 Luật đất đai năm 2013.    

Đặt câu hỏi

Họ tên:
Email:
Điện thoại:
Tiêu đề:
Nội dung:

Tư vấn pháp luật