Công ước về Quyền trẻ em của Liên hợp quốc (được 192 trong tổng số 194 nước thành viên phê duyệt, trong đó Việt Nam là thành viên thứ hai của Công ước) định nghĩa trẻ em là “người dưới tuổi 18 trừ khi pháp luật quốc gia có quy định sớm hơn”. Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em của Việt Nam quy định trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi, tuy nhiên luật dân sự quy định tuổi từ 16 đến dưới 18 tuổi là tuổi vị thành niên. Điều 37 Hiến pháp quy định công dân Việt Nam đủ 18 tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ 21 tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, hội đồng nhân dân. Luật Giáo dục quy định trẻ em là người học của giáo dục mầm non, nghĩa là chỉ những người từ 3 tháng tuổi đến dưới 6 tuổi (dưới 3 tháng tuổi thường được gọi là trẻ sơ sinh). Luật lao động quy định những người từ đủ 14 tuổi trở lên có quyền tham gia lao động. Luật dân sự Việt Nam quy định “Nghĩa vụ của người giám hộ đối với người được giám hộ chưa đủ mười lăm tuổi” và “Nghĩa vụ của người giám hộ đối với người được giám hộ từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi”…Như vậy,kiến nghị đầu tiên của bài viết này là cần phải tiếp tục chỉnh sửa để có tên gọi thống nhất độ tuổi được gọi là “trẻ em” trong hệ thống pháp luật Việt Nam theo hướng đã xác định của Công ước quốc tế về Quyền trẻ em và Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em của Việt Nam: “Trẻ em là những người dưới 18 tuổi”. Theo hướng quy định này thì toàn bộ đối tượng của giáo dục mầm non và giáo dục phổ thông là trẻ em, trẻ em có quyền đến nhà trẻ từ đủ 3 tháng tuổi và kết thúc giáo dục phổ thông khi vừa tròn 18 tuổi. Định nghĩa pháp lý về một “trẻ em” nói chung còn được biết tới là một người chưa đến tuổi trưởng thành.Sự phân biệt và công nhận thời thơ ấu như là một trạng thái khác biệt với tuổi trưởng thành xuất hiện trong các thế kỷ 16 và 17, liên quan đến một quan niệm phổ biến và rõ rệt lúc đó: trẻ em không phải là một người lớn thu nhỏ mà là một người dưới sự trưởng thành cần được người lớn bảo vệ, thương yêu và nuôi dưỡng. Trong các bức tranh và tác phẩm nghệ thuật thời Trung cổ, trẻ em thường được mô tả như người lớn thu nhỏ, thậm chí không thấy có đặc điểm của trẻ con. Từ thế kỷ 16, hình ảnh của trẻ em bắt đầu có sự khác biệt và nổi rõ yếu tố trẻ con, đến cuối thế kỷ 17 trở đi trẻ em đã được hiển thị cùng với các trò chơi, đồ chơi. Văn học nghệ thuật cho trẻ em cũng bắt đầu phát triển vào thời điểm này với những đặc điểm của con người thời thơ ấu, chưa trưởng thành. Như vậy,kiến nghị thứ hai của bài viết này muốn lưu ý tới việc đối tượng của giáo dục mầm non và giáo dục phổ thông là những người chưa trưởng thành, có những đặc điểm của thời thơ ấu, đang dần trưởng thành để trở thành người lớn chứ không phải là người lớn thu nhỏ, vì vậy cần giữ được tính hồn nhiên, thơ ấu chưa trưởng thành của người học ở các cấp học này. Những vui, buồn của thời học sinh thường trở thành những dấu ấn đặc biệt, thành những kỷ niệm sâu sắc và có những đặc điểm khác hẳn so với những thời kỳ sau đó. Cô giáo mẫu giáo hay tiểu học có thể trở thành những nàng tiên trong mắt em; những ngày trốn học bị đòn, roi; những giỏ xe chở đầy hoa phượng hoặc những vết mực tím vương trên tà áo trắng có thể được mang theo trong suốt cuộc đời người. Vì đối tượng của giáo dục mầm non và giáo dục phổ thông là trẻ em nên không thể không tính đến việc ghi nhận, bảo đảm và thực hiện quyền trẻ em trong từng cơ sở giáo dục mầm non và giáo dục phổ thông. Quyền trẻ em là những quyền con người được áp dụng dành riêng cho trẻ em. Việc xem xét quy định và thực hiện quyền trẻ em trong nhà trường phải xuất phát từ quan điểm về quyền trẻ em.Các quyền cơ bản của trẻ em được quy định trong Công ước của Liên hợp quốc về Quyền trẻ em 1989 và trong Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em của Việt Nam gồm bốn nhóm quyền: quyền được sống còn, quyền được phát triển, quyền được bảo vệ, quyền được tham gia, được thể hiện cụ thể ở các quyền: được khai sinh và có quốc tịch; được chăm sóc, nuôi dạy để phát triển thể chất, trí tuệ và đạo đức; được sống chung với cha mẹ; được tôn trọng và bảo vệ tính mạng, thân thể, nhân phẩm và danh dự; được chăm sóc sức khỏe; được học tập; được vui chơi, giải trí, hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể dục, thể thao, du lịch; được phát triển năng khiếu; được có tài sản; được tiếp cận thông tin, bày tỏ ý kiến và tham gia hoạt động xã hội.Như vậy,kiến nghị thứ ba của bài viết này lưu ý các nhà hoạch định chính sách giáo dục và các cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông không nên chỉ dừng lại ở thực hiện quyền trẻ em được học tập, được rèn luyện sức khỏe, được tiếp cận thông tin mà cần chú ý bảo đảm thực hiện cả 4 nhóm quyền với 10 quyền cụ thể đã nêu trên. Pháp luật về trẻ em nhấn mạnh yếu tố quyền của trẻ em mà không xác định trách nhiệm hay nghĩa vụ pháp lý của trẻ em, pháp luật về quyền trẻ em chỉ nêu vấn đề “bổn phận” của trẻ như một sự nhắc nhở, như một sự động viên hoặc như một quy phạm hướng dẫn. Quy định của pháp luật về quyền trẻ em xác định thái độ đối với trẻ em mà các cơ sở giáo dục mầm non và giáo dục phổ thông cần hết sức lưu tâm.Các thái độ xã hội về trẻ em thay đổi trên khắp thế giới tùy theo nền văn hóa và có những bước phát triển tiến bộ về nhận thức theo thời gian. Ngay từ thời La Mã, trẻ em bị coi là không có lỗi về tất cả các tội phạm, lập trường này ngay sau đó được nhà thờ chấp nhận.Tuy nhiênở thế kỷ 19, tại nhiều nơi trên thế giới chỉ trẻ em chưa tới bảy tuổi được cho là không phải chịu trách nhiệm về tội lỗi, còn từ bảy tuổi trở lên chúng có thể vẫn phải đối mặt với các trách nhiệm pháp lý, bị gửi tới nhà tù của người lớn và bị trừng trị như người lớn: đánh roi, đóng dấu ô nhục hay treo cổ.Ngày nay, ở không ít quốc gia như Canada và Hoa Kỳ, trẻ em từ 12 tuổi trở lên vẫn phải chịu trách nhiệm nhất định cho hành động của chúng và nếu vi phạm pháp luật ở mức độ nhất định vẫn có thể được gửi tới trung tâm giáo dục đặc biệt giống như các trường giáo dưỡng của Việt Nam giành cho trẻ vị thành niên. Mặc dù vậy, Tuyên ngôn Nhân quyền 1948 và nhất là từ Công ước quốc tế về Quyền trẻ em 1989 đến nay, việc xác định trẻ từ em được hưởng quyền trẻ em và không xác định trách nhiệm pháp lý đối với trẻ em vẫn đang là xu hướng tiến bộ vượt trội, pháp luật Việt Nam cũng đã ghi nhận theo hướng này. Kiến nghị thứ tư của bài viết này đề nghị việc hoạch định chính sách pháp luật về giáo dục và tổ chức các hoạt động giáo dục tại các cơ sở giáo dục phổ thông và mầm non cần hướng tới thực hiện đầy đủ các quyền trẻ em mà không đặt nặng vấn đề trách nhiệm và nghĩa vụ pháp lý đối với trẻ em. Một câu hỏi có thể được tiếp tục đặt ra là: ai sẽ phải chịu trách nhiệm pháp lý về hành vi của trẻ em trong cơ sở giáo dục phổ thông và giáo dục mầm non, đặc biệt là đối với hành vi vi phạm pháp luật? Pháp luật dân sự quy định khá rõ ràng về chế định đại diện, trong đó có đại diện cho trẻ em. Đại diện là việc một người (người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của người khác (người được đại diện) xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự trong phạm vi đại diện. Đối với người chưa thành niên (dưới 18 tuổi) thì cha, mẹ là người đại diện theo pháp luật. Nếu trẻ em không còn cha, mẹ, không xác định được cha, mẹ hoặc cha, mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, bị tòa án hạn chế quyền của cha, mẹ hoặc cha, mẹ không có điều kiện chăm sóc, giáo dục người chưa thành niên đó và nếu cha, mẹ có yêu cầu thì người giám hộ cho trẻ em là người đại diện theo pháp luật. Giám hộ đối với người chưa thành niên là việc một người(người giám hộ) được pháp luật quy định hoặc được cử để thực hiện việc chăm sóc và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên (người được giám hộ).Một người có thể làm đại diện hoặc giám hộ cho nhiều trẻ em, nhưng một trẻ em chỉ có thể được một người giám hộ, trừ trường hợp người đại diện hoặc giám hộ là cha, mẹ hoặc ông, bà theo quy định về giám hộ đương nhiên... Khi đại diện theo pháp luật hoặc người giám hộ của trẻ em đưa con em đến trường học là đã thực hiện một hợp đồng đối với nhà trường, trong đó hiệu trưởng nhà trường, chủ nhiệm lớp, người phụ trách từng hoạt động của lớp… có quyền thực hiện việc chăm sóc và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của trẻ em với tư cách là đại diện theo ủy quyền và phải chịu trách nhiệm pháp lý về hoạt động chuyên môn của mình đối với trẻ em. Kiến nghị thứ năm của bài viết này đề nghị cần quan tâm đặc biệt đến trách nhiệm pháp lý trong quan hệ giữa nhà trường và gia đình trong bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em, một đặc thù nổi bật và riêng có của giáo dục mầm non và giáo dục phổ thông. Một mặt cần nâng cao chất lượng hoạt động của ban đại diện cha mẹ học sinh để phối hợp cùng nhà trường tổ chức các hoạt động mang ý nghĩa giáo dục cao, mặt khác cần thiết và có thể phải cá thể hóa và đề cao trách nhiệm pháp lý của từng người đại diện và người giám hộ của trẻ em trong hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ em. Kinh nghiệm giáo dục của nhiều nước có giáo dục mầm non và giáo dục phổ thông phát triển cao cho thấy, nhà trường luôn tạo mối liên hệ gắn bó và kịp thời với từng gia đình, đòi hỏi từng người làm cha mẹ phải tôn trọng hoạt động của nhà trường đồng thời có trách nhiệm phối hợp cùng nhà trường chăm sóc, giáo dục trẻ em. Các phân tích trên đây có thể dễ dàng cho thấy người học trong giáo dục phổ  thông và giáo dục mầm non được hưởng đầy đủ các quyền trẻ em theo Công ước quốc tế về Quyền trẻ em và Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, đồng thời trách nhiệm thực hiện và bảo đảm thực hiện các quyền ấy là thuộc về người lớn. Có một nghịch lý rất lớn đang diễn ra: người lớn đã đóng đủ các thứ thuế rồi và ngày càng nhiều thứ thuế, ngày càng tăng lên về mức thuế nhưng trẻ em đi học vẫn có nghĩa vụ phải đóng thuế để đi học, dưới tên gọi là học phí và nhiều khoản thu ngoài học phí, các khoản đóng góp ấy cũng ngày càng tăng lên. Trẻ em là lứa tuổi cần được nuôi dưỡng, chăm sóc, chưa làm ra tiền của cho xã hội và pháp luật cũng cấm lao động trẻ em, nhưng trẻ em đi học vẫn phải có tiền để đóng học phí, kể cả giáo dục phổ cập vẫn phải đóng tiền. Giáo dục là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển, tiền của dành cho giáo dục là chăm sóc cho hạnh phúc hôm nay và phát triển ngày mai. Kiến nghị thứ sáu của bài viết này là miễn toàn bộ học phí cho người học ở giáo dục mầm non và giáo dục phổ thông, kể cả giáo dục công lập và tư thục. Đất nước càng nghèo càng phải tính đến việc miễn học phí, bảo đảm quyền được giáo dục của trẻ em và không bắt trẻ em phải có nghĩa vụ gì, làm như vậy thì mới có thể thoát nghèo và thoát nghèo bền vững, vươn tới tầm cao sánh vai với các cường quốc năm châu được. Giáo dục phổ thông và giáo dục mầm non là giáo dục trẻ em, một công việc mang tính khoa học và nghệ thuật rất cao. Lợi ích của giáo dục tuổi trẻ không chỉ gói gọn trong những gì người học thu nhận được trong chương trình giáo dục mà có ảnh hưởng tới khả năng nghiên cứu, khám phá, phát triển, tư duy, cá tính, khả năng thành công của trẻ và nhân cách con người trong những năm tháng tiếp theo tại các cấp học cao hơn và suốt cả cuộc đời.Để đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục mầm non và phổ thông thì không thể không quan tâm đến đổi mới và nâng cao chất lượng quan  hệ tương tác giữa nhà giáo và người học. Nhà giáo giữ vai trò quyết định trong việc bảo đảm chất lượng giáo dục. Vì thế, cùng với việc thường xuyên tổ chức đào tạo, bồi dưỡng giáo viên mầm non, phổ thông, đặt ra yêu cầu cao đối với giáo viên về năng lực chuyên môn, khả năng sư phạm và đạo đức nghề nghiệp thì cần có chính sách tuyển dụng, sử dụng, đãi ngộ, bảo đảm các điều kiện cần thiết về vật chất và tinh thần để nhà giáo thực hiện vai trò và trách nhiệm của mình; giữ gìn và phát huy truyền thống quý trọng nhà giáo, tôn vinh nghề dạy học. Theo yêu cầu này thì kiến nghị thứ bảy của bài viết này là cần nhanh chóng nâng dần mức lương và phụ cấp nghề nghiệp của giáo viên mầm non và phổ thông, bảo đảm tiến tới lương giáo viên phải nằm ở mức cao nhất trong hệ thống thang bảng lương hành chính sự nghiệp. Kiến nghị thứ tám của bài viết này đề nghị cần xác định rõ ràng các mốc phát triển của trẻ em để xác định các yêu cầu và mục tiêu cụ thể trong từng giai đoạn phát triển của trẻ, thống nhất về giáo dục kỹ năng trong giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và giáo dục gia đình.Một mốc phát triển của trẻ là một kỹ năng mà trẻ tiếp nhận được trong một giai đoạn cụ thể; trẻ sẽ cần phải đạt được một vài kỹ năng này trước khi có thể phát triển những kỹ năng mới khác. Mỗi trẻ đều có một sự phát triển riêng biệt của mình và có thể đạt được các cột mốc phát triển sớm hơn hoặc muộn hơn so với các trẻ khác. Mặc dù vậy, luôn có mốc thời gian giới hạn nhất định mà tất cả mọi trẻ phải đạt được một kỹ năng nào đó (nếu không thể đạt được các kỹ năng cần thiết theo lứa tuổi thì trẻ em đó đã có những vấn đề không bình thường trong phát triển, ví dụ đã 5 tuổi mà không biết nói, đã 10 tuổi mà không thể tự phục vụ…Trong những trường hợp này, việc đánh giá, tham vấn và điều trị cần có sự vào cuộc không chỉ nhà sư phạm mà cần nhiều chuyên gia khác nhau bao gồm bác sĩ chuyên khoa, chuyên gia trị liệu ngôn ngữ, chuyên gia phục hồi chức năng, chuyên viên tâm lý, chuyên gia thính học...).“Con chỉ việc học thôi, việc nhà để đấy mẹ làm cho” là câu nói khá quen thuộc với các bậc phụ huynh Việt Nam. Với phần lớn bố mẹ Việt, chỉ cần con học giỏi ở trường là đủ, thế nhưng với nhiều nước khác thì không quan niệm như vậy. Chẳng hạn người Do Thái coi giáo dục sinh tồn là ưu tiên hàng đầu, với mong muốn sau này lớn lên mỗi đứa trẻ sẽ có một cuộc sống tự lập, sáng tạo và tốt đẹp hơn. Theo phụ huynh Israel, muốn bồi dưỡng kỹ năng sinh tồn độc lập của con, trước hết phải bồi dưỡng kỹ năng làm việc, như thế dù con có đi khắp năm châu bốn bể, phụ huynh cũng không cần lo lắng cho cuộc sống của chúng. Vì thế giữa nhà trường và gia đình ở Israel đã thống nhất cao về các mốc phát triển của trẻ em:từ ba đến bốn tuổiphải biếtđánh răng, giúp cha mẹ cất quần áo và đồ dùng gọn gàng, dọn dẹp phòng ở và thu xếp đồ chơi, bỏ quần áo bẩn vào máy giặt; từ bốn đến năm tuổi biếtgiúp cha mẹ lau bàn, giúp người lớn lấy một vài tờ báo, tưới nước cho cây trong nhà; từ sáu đến tám tuổi biết làm hầu hết các công việc vệ sinh cá nhân, quét dọn, lau sàn nhà trong phòng của mình, mang rác xuống thùng rác, biết dọn bàn ăn, bỏ đồ linh tinh vào nơi thích hợp, sắp xếp giường chiếu của mình; chín đến mười hai tuổi, tự làm tất cả các công việc vệ sinh cá nhân, lau chùi đồ dùng trong nhà, giặt một số quần áo, lau sàn nhà phòng khách, giúp mẹ nhặt rau, rửa rau trong phòng bếp; mười ba đến mười lăm tuổi, chuẩn bị bữa cơm cho các thành viên trong gia đình, giặt giũ toàn bộ quần áo của mình, giúp cha mẹ hoàn thành một vài việc khá rắc rối, dự toán tiền cho mình, lựa chọn mua sắm quần áo, làm một số công việc ở khu vực lân cận, là quần áo; từ mười sáu đến mười tám tuổi,làm thuê kiếm tiền ở bên ngoài, đi du lịch dưới sự quản giáo của người lớn, lập kế hoạch đạt trình độ học vấn cao, tự lo liệu chuyện ăn mặc của cá nhân, lên kế hoạch và chuẩn bị bữa cơm cho cả nhà.Giáo dục ở Hoa Kỳ và châu Âu rất coi trọng tinh thần độc lập, tự lực cánh sinh của mỗi người. Vì thế, ngay từ khi trẻ một tuổi rưỡi, họ đã bắt đầu dạy cho trẻ các kỹ năng tự phục vụ bản thân. Họ cho rằng, nắm bắt các kỹ năng tự phục vụ có thể giúp trẻ tăng cường tính độc lập và cảm giác về sự thành công, nó không chỉ có lợi cho sự phát triển của trẻ em mà còn giúp ích rất nhiều cho chính những người lớn. Vì vậy, bất cứ sự chăm sóc nào từ phía người lớn cũng phải tạo cho trẻ em những cơ hội để rèn luyện cho trẻ các kỹ năng, đồng thời đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ của gia đình để giúp các kỹ năng mà trẻ được dạy ở lớp được rèn luyện và thực hành ngay tại nhà. Một nhà khoa học đoạt giải Nobel khi được hỏi, ở đâu ông học được những kiến thức khiến ông trở nên vĩ đại như vậy? Ông đã trả lời rằng: Nơi tôi học được nhiều nhất đó là trường mầm non, vì rằng ở đó người ta dạy tôi biết cách ứng xử, biết tuân thủ các quy định, biết nói xin lỗi khi mình sai. Câu trả lời của nhà khoa học có lẽ nên được mở rộng ra: Nơi học được nhiều nhất là giáo dục phổ thông và giáo dục mầm non, vì đó là nơi người lớn giáo dục cho trẻ em, những tấm gương sáng và tối, những vinh quang và thất bại của người lớn đều được truyền cho đối tượng của các cấp học này là trẻ em. Xác định đúng đặc điểm của loại đối tượng này để lựa chọn đúng giải pháp sẽ là một huyệt điểm quan trọng để đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục phổ thông và giáo dục mầm non đạt kết quả tốt đẹp. PGS.TS.LS Chu Hồng Thanh   Link bài viết: http://lsvn.vn/nghien-cuu-trao-doi/phan-tich-nghien-cuu/mot-so-van-de-phap-ly-ve-giao-duc-tre-em-cap-pho-thong-va-mam-non-22753.html  
Quyền có đủ điều kiện sống bao gồm các khía cạnh về ăn, mặc, ở, các điều kiện cần thiết để bảo vệ sức khỏe nhằm bảo đảm quyền tồn tại về phương diện sinh học của con người; là cơ sở tự nhiên tất yếu cho sự tồn tại, phát triển các quyền của con người trong đời sống xã hội, từ quyền kinh tế, xã hội, văn hóa đến các quyền dân sự, chính trị.
1. Trong quan hệ giữa vợ và chồng   Với tư cách là vợ chồng, người cao tuổi (NCT) có toàn bộ quyền và nghĩa vụ về nhân thân và tài sản giữa vợ và chồng theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Trong đó, có một số vấn đề cần bàn như:
Li hôn là mặt trái của quan hệ hôn nhân nhưng là mặt không thể thiếu được khi hôn nhân tan vỡ. Trên quan điểm tự do hôn nhân, pháp luật dân sự và pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam quy định quyền li hôn của vợ, chồng. Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: “Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu toà án giải quyết việc li hôn”.[1] Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu li hôn và quy định hạn chế quyền yêu cầu li hôn của người chồng trong trường hợp nhất định. Ngoài ra, Luật cũng quy định cha, mẹ, người thân thích khác của một bên vợ, chồng cũng có quyền yêu cầu li hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khoẻ, tinh thần của họ. Có thể nhận thấy Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về quyền yêu cầu li hôn có một số điểm mới so với các Luật trước đó. Việc làm sáng tỏ về lí luận và thực tiễn của quy định quyền yêu cầu li hôn là cần thiết. 1. Quyền yêu cầu li hôn của vợ, chồng: Kết hôn và li hôn là quyền nhân thân và là quyền dân sự cơ bản của con người. Pháp luật công nhận cho nam, nữ quyền quyết định việc kết hôn để xác lập quan hệ vợ chồng thì cũng quy định cho vợ, chồng quyền yêu cầu li hôn để chấm dứt quan hệ hôn nhân. Đồng thời, giải quyết li hôn phải dựa vào thực chất của quan hệ vợ chồng mà chính vợ, chồng là người xác định một cách chính xác nhất thực chất mối quan hệ giữa họ. C. Mác đã khẳng định: “Li hôn chỉ là việc xác nhận một sự kiện: Cuộc hôn nhân này là cuộc hôn nhân đã chết, sự tồn tại của nó chỉ là bề ngoài và lừa dối. Đương nhiên, không phải sự tuỳ tiện của nhà lập pháp, cũng không phải sự tuỳ tiện của những cá nhân, mà chỉ bản chất của sự kiện mới quyết định được là cuộc hôn nhân đã chết hoặc chưa chết, bởi vì, như mọi người đều biết, việc xác nhận sự kiện chết tuỳ thuộc vào thực chất của vấn đề, chứ không phải vào nguyện vọng của những bên hữu quan”.[2] Như vậy, khi vợ, chồng nhận thức một cách rõ ràng về tình trạng quan hệ hôn nhân của họ đã trầm trọng, về việc họ không thể tiếp tục cuộc sống chung thì họ có quyền yêu cầu toà án giải quyết li hôn. Pháp luật không buộc những người yêu nhau phải kết hôn với nhau thì cũng không buộc những người không còn yêu nhau phải tồn tại quan hệ vợ chồng. Do vậy, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, cũng như các luật trước đó đều quy định vợ, chồng có quyền yêu cầu li hôn. Tuy nhiên, nếu quan hệ vợ chồng đã không phản ánh đúng bản chất của nó nhưng vợ chồng vẫn không muốn li hôn thì không ai có quyền buộc họ phải li hôn. Hôn nhân tự nguyện không chỉ thể hiện trong việc kết hôn mà còn thể hiện cả trong việc tồn tại hôn nhân. Thực tế cho thấy, nhiều cặp vợ, chồng nhận thấy cuộc sống chung của họ đã mất ý nghĩa, không những không đem lại hạnh phúc cho mỗi bên mà còn mang lại sự khổ đau nhưng vì con, vì gia đình… mà họ không li hôn. Trong trường hợp này, không ai buộc họ phải li hôn. Vì vậy, quyền yêu cầu li hôn thuộc về vợ, chồng là phù hợp cả về lí luận và thực tế. 2. Hạn chế quyền yêu cầu li hôn của người chồng: Xuất phát từ nguyên tắc bảo vệ bà mẹ và trẻ em, từ tính nhân đạo của pháp luật, luật hôn nhân và gia đình của Nhà nước ta quy định hạn chế quyền yêu cầu li hôn của người chồng trong một số trường hợp. Từ khi Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời cho đến này, đã có 4 luật về hôn nhân và gia đình được ban hành đó là Luật hôn nhân và gia đình năm 1959, Luật hôn nhân và gia đình năm 1986, Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 và Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Các luật đều quy định quyền yêu cầu li hôn chỉ thuộc về vợ, chồng. Tuy nhiên, quy định về trường hợp người chồng bị hạn chế quyền yêu cầu li hôn có sự khác nhau. Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 và Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 quy định: Trong trường hợp người vợ có thai, chồng chỉ có thể xin li hôn sau khi vợ đã sinh đẻ được một năm.[3] Theo đó, quyền yêu cầu li hôn của người chồng bị hạn chế dựa vào hai yếu tố: 1) Người vợ đang có thai và 2) Người vợ sinh con chưa được một năm. Trong đó yếu tố thứ hai chỉ dựa trên sự kiện sinh của người vợ. Nếu người vợ “có sinh mà không có dưỡng” thì người chồng vẫn bị hạn chế quyền yêu cầu li hôn. Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định, khi người vợ có thai hoặc đang nuôi con dưới mười hai tháng tuổi thì chồng không có quyền yêu cầu li hôn.[4] Như vậy, theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 thì hạn chế quyền yêu cầu li hôn của người chồng căn cứ vào hai yếu tố: 1) Người vợ đang có thai và 2) Người vợ đang nuôi con dưới mười hai tháng tuổi. Phân tích yếu tố thứ hai có thể nhận thấy nhà làm luật dường như không chú ý đến sự kiện sinh mà chỉ quan tâm đến việc người vợ đang nuôi con. Như vậy đối với trường hợp “có sinh mà không có dưỡng” thì người chồng vẫn có quyền yêu cầu li hôn. Điều này chưa thực sự phù hợp với nguyên tắc bảo vệ bà mẹ, trẻ em. Khắc phục khiếm khuyết đó, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định chồng không có quyền yêu cầu li hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.[5] Có thể nhận thấy, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 đã kế thừa quy định của cả ba luật trước đó về vấn đề hạn chế quyền yêu cầu li hôn của người chồng. Theo đó, việc xác định quyền yêu cầu li hôn của người chồng dựa vào trạng thái có thai, nuôi con và sự kiện sinh con của người vợ. - Về trạng thái có thai của người vợ: Việc xác định trạng thái có thai của người vợ dựa trên cơ sở sinh học thông qua quá trình thụ thai và phát triển của trứng để thành thai nhi. Thụ thai là sự thụ tinh và làm tổ của trứng. Thụ tinh là sự kết hợp giữa một giao tử đực là tinh trùng và một giao tử cái là noãn để hình thành một tế bào mới gọi là trứng. Trứng di chuyển vào buồng tử cung để làm tổ. Sau khi làm tổ, trứng phát triển qua hai thời kì. Thời kì thứ nhất bắt đầu từ khi thụ tinh cho đến hết 8 tuần lễ đầu (thời kì sắp xếp tổ chức). Đây là thời kì hình thành bào thai. Thời kì thứ hai từ tháng thứ 3 đến khi đủ tháng (thời kì hoàn chỉnh tổ chức). Đây là thời kì phát triển của thai. Thai nhi đã được hình thành đầy đủ các bộ phận và tiếp tục lớn lên, phát triển và hoàn chỉnh các tổ chức của thai.[6] Như vậy, có thể nói người vợ có thai được tính từ khi trứng hoàn thành quá trình làm tổ trong buồng tử cung cho đến khi thai nhi được sinh ra. Hiện nay, do sự phát triển vượt bậc của y học nên con người đã can thiệp vào quá trình thụ tinh. Sự thụ tinh có thể diễn ra trong cơ thể người phụ nữ hoặc có thể diễn ra trong phòng thí nghiệm (gọi là thụ tinh trong ống nghiệm). Tuy nhiên, quá trình phát triển của trứng để thành thai nhi nhất định phải diễn ra trong cơ thể người phụ nữ. Do vậy, đối với các trường hợp thông thường, người vợ có khả năng mang thai thì dù sự thụ tinh diễn ra trong cơ thể của họ hay trong ống nghiệm rồi được cấy vào tử cung của họ (thành công) thì họ đều được xác định là đang có thai. Khi đó, việc xác định chồng của họ không có quyền yêu cầu li hôn là hoàn toàn có cơ sở. Nhưng đối với những trường hợp vì lí do nào đó mà người vợ không thể mang thai nên đã nhờ người khác mang thai hộ (vì mục đích nhân đạo) thì việc xác định hạn chế quyền yêu cầu li hôn của người chồng của cả bên nhờ mang thai hộ và bên mang thai hộ còn có những ý kiến khác nhau. Về vấn đề này, tác giả có một số ý kiến như sau: - Đối với bên mang thai hộ: Nếu người vợ đang mang thai hộ thì chồng của họ không có quyền yêu cầu li hôn. Bởi vì, về mặt sinh học rõ ràng người vợ đang mang thai. - Đối với bên nhờ mang thai hộ: Có ý kiến cho rằng người chồng trong cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ bị hạn chế quyền yêu cầu li hôn ngay cả trong thời gian nhờ mang thai hộ.[7] Tuy nhiên, xét về mặt sinh học của việc mang thai, có thể nhận thấy người chồng trong cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ không bị hạn chế quyền yêu cầu li hôn. Bởi lẽ, trong trường hợp này người vợ trong cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ không “có thai” mà là người phụ nữ mang thai hộ “có thai”. - Về việc người vợ đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi: Việc xác định người vợ đang nuôi con dưới 12 tháng dựa trên sự thực là người vợ đang chăm sóc, trông nom, nuôi dưỡng con dưới 12 tháng. Người con này có thể là con đẻ, có thể là con nuôi (của người vợ hoặc của cả hai vợ chồng). Trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo, pháp luật quy định người mang thai hộ, chồng của người mang thai hộ có quyền, nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng con cho đến thời điểm giao đứa trẻ cho bên nhờ mang thai hộ.[8] Do vậy, nếu người vợ mang thai hộ sau khi sinh mà đang chăm sóc, nuôi dưỡng đứa trẻ thì cũng được coi là người vợ đang nuôi con và người chồng không có quyền yêu cầu li hôn.[9] - Về việc người vợ sinh con: Sinh con được diễn ra trong quá trình gọi là chuyển dạ, bắt đầu khi tử cung mở, tiếp theo là sổ thai và cuối cùng là sổ rau. Về hạn chế quyền yêu cầu li hôn của người chồng khi vợ sinh con còn có ý kiến khác nhau. Ý kiến thứ nhất cho rằng người chồng không có quyền yêu cầu li hôn trong thời gian vợ sinh con, có nghĩa là người chồng bị hạn chế quyền yêu cầu li hôn chỉ trong thời gian diễn ra quá trình sinh con. Ý kiến này dựa trên sự phân tích câu chữ trong điều luật cho rằng: Cụm từ “dưới 12 tháng tuổi” không bổ nghĩa cho cụm từ “sinh con” mà chỉ bổ nghĩa cho cụm từ “nuôi con”.[10] Ý kiến thứ hai cho rằng người chồng bị hạn chế quyền yêu cầu li hôn khi vợ sinh con mà tính từ thời điểm sinh là chưa được 12 tháng. Tức là người chồng chỉ có quyền yêu cầu li hôn sau khi vợ sinh con được 12 tháng. Căn cứ vào bản chất, ý nghĩa của quy định hạn chế quyền yêu cầu li hôn của người chồng, cũng như phân tích câu chữ trong điều luật có thể nhận thấy rằng ý kiến thứ hai là phù hợp. Xét trên khía cạnh bảo vệ bà mẹ và trẻ em, nếu người chồng chỉ bị hạn chế quyền yêu cầu li hôn trong quá trình sinh con là không hợp lí. Quá trình sinh con chỉ xảy ra trong một khoảng thời gian. Theo y học thì quá trình này diễn ra trong thời gian tối đa là khoảng 10 giờ.[11] Nếu pháp luật hạn chế quyền yêu cầu li hôn của người chồng chỉ trong thời gian đó thì không có ý nghĩa trong việc bảo vệ bà mẹ, trẻ em. Sự kiện sinh con của người phụ nữ ảnh hưởng rất lớn đến sức khoẻ thể chất và tinh thần của họ. Vì vậy, hạn chế quyền yêu cầu li hôn của người chồng phải được kéo dài trong khoảng thời gian sau khi vợ sinh con. Hơn nữa, quy định này nhằm hạn chế quyền li hôn của người chồng cả trong trường hợp người vợ sinh con mà không được nuôi con (do con chết, do mang thai hộ…). Xét về mặt câu chữ của điều luật thì giữa cụm từ “sinh con” và “nuôi con” có từ “hoặc”, do đó cụm từ “dưới 12 tháng tuổi” bổ nghĩa cho cả cụm từ “sinh con” và “nuôi con”. Như vậy, sự kiện sinh con của người vợ được coi là một trường hợp hạn chế quyền yêu cầu li hôn của người chồng nhưng không chỉ vào thời điểm người vợ sinh con mà kéo dài cho đến khi được 12 tháng. 3. Quyền yêu cầu li hôn của cha mẹ, người thân thích khác của một bên vợ, chồng Trong quan hệ hôn nhân và gia đình, quyền nhân thân luôn gắn với mỗi cá nhân mà không thể chuyển giao cho người khác. Do vậy, về nguyên tắc, quyền yêu cầu li hôn chỉ thuộc về vợ, chồng. Lịch sử lập pháp của Việt Nam chỉ ghi nhận quyền yêu cầu li hôn của vợ, chồng. Pháp luật thời kì Pháp thuộc quy định chỉ có vợ, chồng mới có thể người nọ xin li dị người kia hoặc vợ, chồng cùng xin li dị nhau.[12] Từ khi Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời (nay là Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam) cho đến trước khi ban hành Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, cả ba luật về hôn nhân và gia đình (ban hành năm 1959, năm 1986 và năm 2000) đều chỉ quy định quyền yêu cầu li hôn thuộc về vợ, chồng.[13] Tuy nhiên, nếu chỉ công nhận cho vợ, chồng có quyền yêu cầu li hôn thì sẽ không giải quyết được những trường hợp đặc biệt khi một bên vợ hoặc chồng bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình lại bị ngược đãi, hành hạ… Thực tế đã có không ít trường hợp một bên vợ hoặc chồng bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, bên kia không những không quan tâm, chăm sóc theo đúng nghĩa vụ mà còn hành hạ, ngược đãi hoặc có các hành vi khác đe dọa đến sức khoẻ, tính mạng của họ... Đối với trường hợp này, để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bên vợ hoặc chồng bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định cha, mẹ, người thân thích khác của một bên vợ, chồng có quyền yêu cầu toà án giải quyết li hôn.[14] Đây là quy định có tính ngoại lệ về quyền yêu cầu li hôn. Tuy nhiên, không phải tất cả các trường hợp vợ, chồng bị tâm thần hoặc mắc bệnh khác không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì cha, mẹ, người thân thích đều có quyền yêu cầu li hôn. Chỉ những trường hợp người vợ hoặc chồng đó đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khoẻ, tinh thần của họ thì cha, mẹ, người thân thích khác của vợ, chồng mới có quyền yêu cầu li hôn. Như vậy, có thể nhận thấy rằng cha, mẹ, người thân thích khác của một bên vợ, chồng có quyền yêu cầu toà án giải quyết li hôn khi có đủ ba yếu tố: Một là một bên vợ hoặc chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình; hai là bên vợ hoặc chồng đó là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng hoặc vợ của họ gây ra; ba là tính mạng, sức khoẻ, tinh thần của nạn nhân bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Nếu thiếu một trong ba yếu tố đó thì cha, mẹ, người thân thích khác của vợ, chồng không có quyền yêu cầu li hôn. Có thể thấy, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định cha, mẹ, người thân thích khác của vợ, chồng có quyền yêu cầu li hôn trong trường hợp đặc biệt là xuất phát từ tính nhân đạo và phù hợp với thực tế. Mặc dù vậy, việc áp dụng quy định này trên thực tế có một số khó khăn, vướng mắc sau: Thứ nhất, khó khăn trong việc cung cấp chứng cứ Theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004, người khởi kiện phải cung cấp chứng cứ.[15] Như vậy, khi cha, mẹ, người thân thích yêu cầu li hôn thì họ phải đưa ra các chứng cứ sau: 1) Người vợ hoặc chồng bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình; 2) Bên vợ hoặc chồng đó là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng hoặc vợ của họ gây ra; 3) Hành vi bạo lực đó đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khoẻ, tinh thần của họ. Về chứng cứ thứ nhất, người khởi kiện phải cung cấp kết luận giám định pháp y tâm thần của hội đồng giám định được thành lập theo quy định của Luật giám định tư pháp. Người khởi kiện không thể cung cấp sổ khám, chữa bệnh hay bệnh án của bên vợ hoặc chồng để làm chứng cứ chứng minh rằng người này bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình. Bởi vì, “kết luận trong giám định pháp y tâm thần không hoàn toàn giống kết luận chẩn đoán bệnh của bệnh viện tâm thần. Kết luận của bệnh viện tâm thần chỉ phục vụ việc chữa bệnh không bao gồm việc đánh giá năng lực chịu trách nhiệm hành vi của đối tượng”.[16] Việc đánh giá năng lực chịu trách nhiệm hành vi của người bệnh tâm thần phải dựa vào 2 tiêu chuẩn: Tiêu chuẩn y học và tiêu chẩn pháp luật. Tiêu chuẩn y học là kết luận chẩn đoán bệnh. Tiêu chuẩn pháp luật là khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.[17] Do đó, khi đã có kết luận chuẩn đoán bệnh thì phải đánh giá mức độ nặng nhẹ của bệnh, mức độ nhận thức và làm chủ hành vi. Vì vậy, người khởi kiện phải cung cấp kết luận giám định pháp y tâm thần để chứng minh họ có quyền yêu cầu li hôn. Tuy nhiên, để có được kết luận này, cơ quan giám định phải tuân theo quy trình kĩ thuật chung về giám định pháp y tâm thần và theo quy định của Luật giám định tư pháp năm 2012. Do đó, người khởi kiện phải mất thời gian (đi lại, chờ đợi), công sức, tiền bạc để có được bản kết luận. Đây thực sự là khó khăn đối với người khởi kiện. Về chứng cứ thứ hai, bên vợ hoặc chồng bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình phải là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng hoặc vợ của họ gây ra. Có nghĩa là phải có hành vi bạo lực gia đình mà nạn nhân là người vợ hoặc chồng bị tâm thần và người có hành vi bạo lực gia đình là chồng hoặc vợ họ. Việc đưa ra căn cứ để chứng minh có thể bằng nhân chứng hoặc các văn bản xác nhận có hành vi bạo lực gia đình (như biên bản xử lí hành chính đối với người có hành vi bạo lực…). Về chứng cứ thứ ba, phải có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi bạo lực gia đình của một bên vợ hoặc chồng với tình trạng tính mạng, sức khoẻ, tinh thần của nạn nhân bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Về tình trạng tính mạng, sức khoẻ của nạn nhân bị ảnh hưởng nghiêm trọng thì thiết nghĩ phải dựa trên kết luận về giám định pháp y thương tích. Các giám định viên phải kết luận rằng những thương tích của nạn nhân là kết quả của hành vi bạo lực (do chồng hoặc vợ họ) gây ra và vì những thương tích đó mà tính mạng, sức khoẻ của nạn nhân bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Như vậy, có thể nhận thấy cha, mẹ, người thân thích khác của một bên vợ, chồng yêu cầu li hôn khi một bên vợ hoặc chồng bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc cung cấp chứng cứ. Do đó, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn rất nhiều trở ngại. Thứ hai, thiếu sự tương thích với một số quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về quyền khởi kiện. Theo Điều 161 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 thì cá nhân có quyền khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác (với tư cách là người đại diện).[18] Trong trường hợp này, cha, mẹ, người thân thích khác khởi kiện vụ án li hôn không phải để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chính họ mà là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của một bên vợ hoặc chồng. Cha, mẹ, người thân thích khác cũng không phải là người đại diện của một bên vợ hoặc chồng. Bởi vì, nếu một bên vợ hoặc chồng cần được đại diện thì bên kia là chồng hoặc vợ họ đại diện cho họ (với tư cách là người giám hộ). Hơn nữa, người khởi kiện không nhất thiết phải là cha, mẹ, người thân thích khác của bên vợ hoặc chồng bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình. Đồng thời, theo Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 thì cha, mẹ, người thân thích khác của một bên vợ hoặc chồng không thuộc trường hợp có quyền khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.[19] Như vậy, quy định này thiếu sự tương thích với Điều 161 và Điều 162 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004./. Ngô Thị Hường   (Tiến sĩ luật học, giảng viên chính Trường Đại học Luật Hà Nội) Nguồn: Tạp chí Luật học số 12/2015 (trang 40-46)       [1] Xem: Điều 42 Bộ luật dân sự năm 2005; khoản 1 Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. [2] Xem: C. Mác, “Bản dự luật về li hôn”, C. Mác - Ph. Ăngghen toàn tập, Tập 1, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1978, tr. 220. [3] Xem: Điều 27 Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 và Điều 41 Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 [4] Xem: Khoản 2 Điều 85 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 [5] Xem: Khoản 3 Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. [6] Xem: Bài giảng về sự thụ thai, làm tổ và phát triển của trứng, nguồn: http://www.dieutri.vn/bgsan phukhoa/ 31-10-2012/S2923/Bai-giang-su-thu-thai-lam-to-vaphat-trien-cua-trung.htm, truy cập ngày 15/11/2015. [7] Xem: Nguyễn Thị Lan, “Mang thai hộ và những vấn đề phát sinh”, Tạp chí luật học, số 4/2015, tr. 20. [8] Xem: Khoản 1 Điều 97 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. [9] Về trường hợp này còn có thể áp dụng quy định hạn chế quyền yêu cầu li hôn của người chồng khi vợ sinh con. [10] Xem: Khoản 3 Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 [11] Xem: Bài giảng các yếu tố tiên lượng cuộc đẻ, nguồn: http://www.dieutri.vn/bgsanphukhoa/1-11-2012/ S2947/Bai-giang-cac-yeu-to-tien-luong-cuoc-de.htm, truy cập ngày 15/11/2015. [12] Xem: Điều 116 Hoàng Việt hộ luật, Nxb. Hồng Đức, 2015; Điều 117 Bộ dân luật Bắc kỳ năm 1931. [13] Xem: Điều 25 và Điều 26 Luật hôn nhân và gia đình năm 1959; Điều 40 Luật hôn nhân và gia đình năm 1986; khoản 1 Điều 85 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000. [14] Xem: Khoản 2 Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. [15] Xem: Khoản 1 Điều 6 và Điều 165 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004. [16] Xem: Cục bổ trợ tư pháp, Viện pháp y quốc gia - Viện pháp y tâm thần trung ương, “Một số vấn đề pháp lí và kĩ năng thực hiện giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần”, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2013, tr. 190. [17] Xem: Cục bổ trợ tư pháp, Viện pháp y quốc gia - Viện pháp y tâm thần trung ương, sđd, tr. 192 [18] Xem: Điều 161 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 [19] Xem: Điều 162 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004
Trong những năm qua, chính sách trợ giúp xã hội ngày càng được hoàn thiện, mức trợ cấp xã hội liên tục tăng, đối tượng trợ giúp xã hội được mở rộng, đời sống của họ từng bước được ổn định và cải thiện hơn so với trước đây. Tuy nhiên, hệ thống trợ giúp xã hội còn nhiều hạn chế, bất cập, nhất là thiếu tính hệ thống, nguồn lực đầu tư eo hẹp, các mức trợ cấp chưa dựa trên cơ sở mức sống tối thiểu và độ bao phủ cũng còn thấp. Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước đã chủ trương tiếp tục hoàn thiện hệ thống trợ giúp xã hội trong điều kiện mới của một nước đang phát triển có thu nhập trung bình, đẩy mạnh xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.
Bài viết cho Hội thảo: “Chương trình lập pháp của Quốc hội khóa XIV và việc triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013”; hội thảo được tổ chức tại Cửa Lò, Nghệ An, ngày 01/7/2016. 1. Luật Ban hành văn bản Quy phạm pháp luật năm 2015 (Luật Ban hành VBQPPL 2015) đã được Quốc hội khóa XIII thông qua tại kỳ họp thứ 9, và có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2016. Một trong những điểm mới đáng chú ý liên quan đến quy trình chính sách là quy định về yêu cầu xây dựng nội dung chính sách (Điều 34), và báo cáo đánh giá tác động chính sách của dự án luật, pháp lệnh (Điều 35). Lần đầu tiên, giai đoạn xây dựng chính sách chính thức được đưa vào quy trình xây dựng luật, pháp lệnh, và sẽ tác động trực tiếp đến chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội khóa XIV. Tuy nhiên, vẫn còn một số vấn đề cần làm rõ về thẩm quyền “thông qua chính sách” của các chủ thể trong quá trình hoạch định chính sách, pháp luật. 2. Trước hết, theo quy định của Hiến pháp năm 2013 (Điều 70) và Luật Ban hành VBQPPL 2015 (Điều 15, Điều 31 và Điều 32), chính sách vừa là cơ sở ban hành, lại vừa là nội dung quan trọng của dự luật. Quốc hội có vai trò thông qua luật và quyết định các chính sách cơ bản, quan trọng của đất nước. Mặc dù Chính phủ cũng có thể ban hành chính sách trong phạm vi quyền hạn theo luật định, nhưng Quốc hội đóng vai trò rất quan trọng trong việc quyết định chính sách, bởi vì Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân cả nước. Việc Quốc hội thảo luận, quyết định chính sách cơ bản còn đảm bảo tính dân chủ trong quá trình xây dựng, ban hành và thực thi chính sách. 3. Theo Điều 32 Luật 2015, Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước, Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và cơ quan trung ương của tổ chức thành viên của Mặt trận có quyền trình dự án luật trước Quốc hội, trình dự án pháp lệnh trước Ủy ban thường vụ Quốc hội. Điều 32, Điều 33 thì quy định Đại biểu quốc hội có quyền kiến nghị và đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh. Trong thực tế hoạt động xây dựng chính sách, pháp luật ở nước ta hiện nay, Chính phủ và các bộ ngành thường là cơ quan tham gia trình phần lớn các đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, do đặc thù là cơ quan thực thi chính sách, pháp luật với rất nhiều kinh nghiệm, cũng như nguồn lực để làm tốt công việc này. 4. Tuy nhiên, vấn đề cần cân nhắc là, theo Điều 41, khi xem xét thông qua đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh do Chính phủ trình, thì Chính phủ cũng đã “biểu quyếtthông qua chính sách trong từng đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh”. Đồng thời ghi rõ, “Chính phủ ra Nghị quyết về đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh với các chính sách đã được thông qua”. Mặc dù việc Luật Ban hành VBQPPL 2015 lồng ghép các bước xây dựng chính sách và đánh giá tác động của chính sách vào trong quy trình xây dựng luật, pháp lệnh là một bước tiến quan trọng, nhưng những quy định nói trên, vô hình trung, đã trao cho Chính phủ thẩm quyền “thông qua chính sách” trong các dự án luật, pháp lệnh do chính các cơ quan thuộc Chính phủ đề xuất, thường với số lượng lớn, ngay cả khi dự án luật, pháp lệnh chưa được Quốc hội thảo luận thông qua. Việc chính sách của dự án luật, pháp lệnh được Chính phủ thông qua trước khi dự luật, pháp lệnh được quyết định đưa vào nghị trình sẽ làm giảm rất nhiều vai trò của Quốc hội. Bởi vì, chính sách chính là cơ sở xây dựng, và cũng là nội dung quan trọng của các dự án luật, pháp lệnh. Nếu vấn đề này không được Quốc hội làm rõ, thì ít nhất, về mặt pháp lý, khi Luật Ban hành VBQPPL 2015 có hiệu lực, Chính phủ mới là cơ quan có ảnh hưởng nhất đến việc quyết định chính sách ở nước ta. 5. Cùng với đó, theo Điều 45, khi xem xét thông qua đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh không do Chính phủ trình, thì Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và cơ quan trung ương của tổ chức thành viên của Mặt trận thảo luận và “biểu quyết thông qua chính sách” trong đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh. Đối với Chủ tịch nước, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng kiểm toán nhà nước khi xem xét thông qua đề nghị xây dựng luật pháp lệnh thì không thấy có quy định về thẩm quyền “thông qua chính sách”. Tương tự, khi Đại biểu Quốc hội quyết định trình đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh thì cũng không có quy định gì về việc “thông qua chính sách”  trong hồ sơ đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh. Như vậy, thay vì việc Quốc hội là cơ quan quyết định các chính sách cơ bản, quan trọng của đất nước, mà phần nhiều được thể hiện trong các đạo luật, thì theo Luật Ban hành VBQPPL 2015, từ 01/07/2016, Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và cơ quan trung ương của tổ chức thành viên của Mặt trận lại được trao cho thẩm quyền “thông qua chính sách” của những dự luật, pháp lệnh do các cơ quan này trình. Căn cứ vào các quy định nêu trên (Điều 41, Điều 45), có thể hiểu Quốc hội không chỉ “ủy quyền” cho Chính phủ, các cơ quan của Quốc hội, mà còn “ủy quyền” cho Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và cơ quan trung ương của tổ chức thành viên của Mặt trận quyền được quyết định thông qua chính sách công, một thẩm quyền cần phải nghiên cứu xem xét lại. 6. Thêm nữa, tại khoản 5, Điều 5 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 – quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành VBQPPL 2015 – có yêu cầu “xác định thẩm quyền ban hành chính sách”. Tuy nhiên, quy định này lại được hiểu là việc cân nhắc, lựa chọn thẩm quyền/giải pháp ban hành luật, hoặc pháp lệnh, hoặc các giải pháp chính sách khác; và quy định này vẫn thống nhất chứ không làm thay đổi tinh thần nội dung quy định tại Luật Ban hành VBQPPL 2015. Theo Điều 55 Luật Ban hành VBQPPL 2015, và Điều 31 Nghị định số 34, thì trong quá trình soạn thảo, thẩm định, thẩm tra, dự thảo luật, pháp lệnh, nếu có chính sách mới được đề xuất thì đối với văn bản do Chính phủ trình, cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm báo cáo Chính phủ; đối với văn bản không do Chính phủ trình, Bộ Tư pháp có trách nhiệm phối hợp với cơ quan thẩm tra để kịp thời báo cáo Chính phủ. Điều này thể hiện tính nhất quán của quy định về thẩm quyền “thông qua chính sách”  như đã nói trên, trong đó đã nhấn mạnh vai trò của Chính phủ trong công đoạn làm chính sách của dự án luật, pháp lệnh. Nói cách khác, giai đoạn xây dựng chính sách mới được đưa vào quy trình xây dựng luật, pháp lệnh theo Luật Ban hành VBQPPL 2015 chủ yếu đề cao vai trò thông qua chính sách của Chính phủ và một số cơ quan khác đã nêu trên. Những quan điểm ủng hộ quy định này dựa trên thực tế Chính phủ có nhiều kinh nghiệm thực tiễn trong điều hành, thực thi chính sách pháp luật, nên các đề xuất chính sách từ chính phủ có tính khả thi cao, từ đó cho rằng Chính phủ có vai trò, thẩm quyền thông qua chính sách. Hệ lụy từ quy định mới này, là Quốc hội sẽ chỉ tập trung vào công đoạn soạn thảo, làm luật mà không phải cơ quan thông qua chính sách trong các dự án luật, pháp lệnh; Chính phủ thông qua chính sách, còn Quốc hội thông qua luật. Như vậy, sẽ khó đạt được mục tiêu hoàn thiện quy trình hoạch định chính sách và xây dựng luật, pháp lệnh nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của Quốc hội theo Luật Ban hành VBQPPL hiện hành. 7. Một trong những giải pháp cho vấn đề này, là Quốc hội khóa XIV nên sớm giải thích, hoặc đưa vào chương trình xây dựng luật, pháp lệnh lộ trình sửa đổi, bổ sung một số quy định trong Luật Ban hành VBQPPL 2015 đã cho phép Chính phủ và các cơ quan nói trên quyền “thông qua chính sách”. Trên thực tế, chỉ nên hiểu đây là các “đề xuất chính sách” mà phía các cơ quan trình đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh thấy cần ưu tiên lựa chọn. Do đó, không nên quy định Chính phủ và các cơ quan trên có thẩm quyền “thông qua chính sách” trong các dự án luật, pháp lệnh, mà chỉ là thông qua (hay chọn lựa) các “đề xuất chính sách”. Việc quyết định lựa chọn biện pháp chính sách và thẩm quyền thông qua chính sách trong các dự án luật cần phải thuộc về Quốc hội, được thực hiện đồng thời với việc thông qua dự án luật tại phiên họp toàn thể, để đảm bảo Quốc hội là cơ quan quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước. 8. Việc sửa đổi nhỏ này sẽ có tác động lớn, vì làm thay đổi tính chất, vai trò của các chủ thể tham gia vào quá trình hoạch định chính sách nói chung và quy trình xây dựng luật, pháp lệnh nói riêng. Khi Chính phủ chỉ lựa chọn và đề xuất một số giải pháp chính sách mà chưa phải quyết định chính thức, thì các nhà soạn thảo luật, các cơ quan thẩm tra của Quốc hội và đại biểu Quốc hội có thể tiếp tục thảo luận, sửa đổi, bổ sung và góp phần làm cho quá trình hoạch định chính sách đảm bảo chất lượng tốt hơn, tránh nguy cơ “vừa đá bóng, vừa thổi còi” trong xây dựng và thực thi chính sách ở nước ta, theo Luật Ban hành VBQPPL 2015. Xa hơn nữa, cần xây dựng lộ trình để diễn đàn Quốc hội là nơi thảo luận chính sách của dự án luật, mà không quá tập trung vào những vấn đề thuộc về kỹ thuật lập pháp hay “làm văn tập thể”. Nguyễn Anh Phương Tài liệu tham khảo: 1.   Hiến pháp năm 2013. 2.   Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014. 3.   Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015. 4.   Nghị định số 34/2016/NĐ-CP, ngày 14/5/2016 Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành VBQPPL 2015. 5.   Nguyễn Anh Phương (2016), “Quy trình chính sách và phân tích chính sách trong hoạt động lập pháp ở Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 02+03 (306+307), tr. 80-90.    
Dụng cụ chỉnh hình – phục hồi chức năng (CH-PHCN) có vai trò rất quan trọng đối với người khuyết tật vận động. Bởi vì các dụng cụ này hỗ trợ người khuyết tật có thể đi lại dễ dàng hơn, cải thiện các chức năng của cơ thể bị mất hoặc suy giảm, giảm thiểu những biến dạng của cơ thể sau các vấn đề về bệnh lý hoặc tai nạn.
Bình đẳng giới là một trong những chủ đề ưu tiên trong chính sách phát triển, đặc biệt đối với các nước đang phát triển. Mục tiêu thứ ba trong Các mục tiêu thiên niên kỷ chính là thúc đẩy bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ.
Chế độ tài sản (CĐTS) thỏa thuận đã từng tồn tại trong lịch sử lập pháp của Việt Nam thời cận đại với tên gọi “Hợp đồng hôn nhân” hay “khế ước hôn nhân”- hôn khế[1]. Thuật ngữ này không còn xuất hiện trong các Luật Hôn nhân và gia đình (Luật HN&GĐ) Việt Nam năm 1959, 1986, 2000. Luật HN&GĐ năm 2014 ghi nhận sự trở lại của CĐTS này với một số quy định. Mặc dù chỉ dừng lại ở một số lượng khiêm tốn, song các nhà làm luật Việt Nam đã bắt đầu quan tâm đến việc áp dụng CĐTS thỏa thuận trong việc giải quyết hậu quả pháp lý của việc chấm dứt quan hệ tài sản (QHTS) của vợ chồng. Bài viết trả lời hai câu hỏi: Thứ nhất, thế nào là CĐTS thỏa thuận giữa vợ và chồng? và thứ hai, vấn đề áp dụng CĐTS thỏa thuận trong giải quyết hậu quả pháp lý của việc chấm dứt QHTS giữa vợ và chồng như thế nào? 1. Chế độ tài sản thỏa thuận giữa vợ và chồng theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 CĐTS giữa vợ chồng là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh về (sở hữu) tài sản của vợ chồng, bao gồm các quy định về căn cứ xác lập quyền sở hữu tài sản, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng, các trường hợp và nguyên tắc chia tài sản giữa vợ và chồng[2]… CĐTS pháp định (CĐTS theo luật định) là CĐTS duy nhất được pháp luật Việt Nam thừa nhận cả trong Luật HN&GĐ Việt Nam năm 1959, 1987 và Luật năm 2000; vợ chồng không thể thỏa thuận để xác lập một CĐTS trong hôn nhân khác với CĐTS pháp định. Luật HN&GĐ năm 2014 với hàng loạt những thay đổi quan trọng, mà sự thay đổi có thể nói mang tính cách mạng nhất là sự ghi nhận CĐTS thỏa thuận. CĐTS thỏa thuận (hay còn gọi là CĐTS ước định), là tập hợp các quy tắc do chính vợ, chồng xây dựng nên một cách hệ thống trên cơ sở sự cho phép của pháp luật để thay thế cho CĐTS luật định nhằm điều chỉnh QHTS của vợ chồng. Các quy định về CĐTS thỏa thuận của vợ chồng hiện nay khá khiêm tốn, chỉ gói gọn trong các Điều 47, 48, 49, 50 và 59 Luật HN&GĐ năm 2014. Ngoài ra, CĐTS này cũng được hướng dẫn bởi 4 điều (Điều 15, 16, 17, 18) của Nghị định số 126/CP của Chính phủ ban hành ngày 31/12/2014 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật HN&GĐ năm 2014 và một số hướng dẫn cụ thể trong Thông tư liên tịch số 01/TTLT- TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật HN&GĐ năm 2014. Các quy định này đề cập đến các khía cạnh của CĐTS thỏa thuận (như: việc xác lập CĐTS, sửa đổi CĐTS, tuyên bố vô hiệu và chấm dứt CĐTS). 2. Áp dụng chế độ tài sản thỏa thuận trong giải quyết hậu quả pháp lý của việc chấm dứt quan hệ tài sản giữa vợ và chồng 2.1. Tuyên bố vô hiệu chế độ tài sản thỏa thuận 2.1.1. Các trường hợp bị tuyên bố vô hiệu Thỏa thuận giữa vợ và chồng về CĐTS, dù hiện nay pháp luật chưa quy định chính thức là một hợp đồng, nhưng về nguyên tắc là một loại giao dịch. Và với tư cách là một loại giao dịch, các thỏa thuận này phải tuân thủ những điều kiện nhất định để phát sinh hiệu lực. Theo quy định tại Điều 50 Luật HN&GĐ năm 2014: “1. Thỏa thuận về CĐTS của vợ chồng bị Tòa án tuyên bố vô hiệu khi thuộc một trong các trường hợp sau đây: a) Không tuân thủ điều kiện có hiệu lực của giao dịch được quy định tại Bộ luật Dân sự (BLDS) và các luật khác có liên quan; b) Vi phạm một trong các quy định tại các Điều 29, 30, 31 và 32 của Luật này; c) Nội dung của thỏa thuận vi phạm nghiêm trọng quyền được cấp dưỡng, quyền được thừa kế và quyền, lợi ích hợp pháp khác của cha, mẹ, con và thành viên khác của gia đình. 2. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn khoản 1 Điều này”. Như vậy, với quy định này có thể thấy có ba lý do để Tòa án có thể tuyên bố vô hiệu đối với một thỏa thuận về CĐTS giữa vợ và chồng. Về lý do thứ nhất, không tuân thủ điều kiện có hiệu lực của giao dịch được quy định tại BLDS và các luật khác có liên quan. Theo quy định tại Điều 122 BLDS năm 2005[3] thì:  Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây: a) Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự; b) Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội; c) Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện. 2. Hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp pháp luật có quy định. Áp dụng quy định trên có thể hình dung khả năng một thỏa thuận về CĐTS giữa vợ và chồng sẽ bị tuyên bố vô hiệu trong các trường hợp: Thứ nhất, nếu một trong hai bên vợ chồng chưa đủ tuổi kết hôn ở thời điểm xác lập thỏa thuận hoặc bị mất năng lực hành vi dân sự ở thời điểm thỏa thuận thì thỏa thuận sẽ bị tuyên bố vô hiệu. Trường hợp này được dẫn trên cơ sở có sự kết hợp giữa các quy định của BLDS và Luật HN&GĐ về điều kiện kết hôn. Luật HN&GĐ không yêu cầu cụ thể về điều kiện năng lực hành vi của các bên tham gia thỏa thuận về CĐTS, nên chúng tôi cho rằng, một cách hợp lý, người được xem là đáp ứng yêu cầu về năng lực hành vi để kết hôn thì có quyền xác lập thỏa thuận về CĐTS. Mà theo các quy định về điều kiện kết hôn tại khoản 1 Điều 8 Luật HN&GĐ thì: “1. Nam, nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây: a) Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên; b) Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định; c) Không bị mất năng lực hành vi dân sự; d) Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 của Luật này”. Thứ hai, cũng theo quy định trên, thỏa thuận về CĐTS giữa vợ chồng sẽ bị tuyên bố vô hiệu nếu tại thời điểm xác lập, một hoặc hai bên ở trong tình trạng không có sự tự nguyện (bị đe dọa, lừa dối, nhầm lẫn). Vấn đề về sự lừa dối, nhầm lẫn hay đe dọa được xác định theo quy định của Bộ luật Dân sự. Như vậy, trên cơ sở quy định trên, nếu việc kết hôn bị tuyên bố hủy do vi phạm điều kiện về độ tuổi, hay điều kiện về sự tự nguyện thì thỏa thuận về CĐTS giữa vợ và chồng cũng bị tuyên bố vô hiệu theo. Thứ ba, về hình thức, theo quy định tại khoản 2 Điều 122 nêu trên thì khi có vi phạm điều kiện về hình thức, Tòa án chỉ tuyên bố vô hiệu giao dịch nếu pháp luật có quy định “hình thức của giao dịch là điều kiện có hiệu lực của giao dịch”. Mặc dù Điều 47 Luật HN&GĐ có quy định rằng: “Trong trường hợp hai bên kết hôn lựa chọn CĐTS theo thỏa thuận thì thỏa thuận này phải được lập trước khi kết hôn, bằng hình thức văn bản có công chứng hoặc chứng thực”. Tuy nhiên, quy định này không nói rằng việc lập thành văn bản có công chứng, chứng thực là điều kiện có hiệu lực của thỏa thuận về CĐTS giữa vợ và chồng. Cho nên, áp dụng các quy định hiện hành này, nếu vi phạm quy định về hình thức thì Tòa án không thể tuyên bố vô hiệu thỏa thuận về CĐTS giữa và vợ chồng. Theo chúng tôi, cần quy định rõ rằng các yêu cầu về hình thức đối với CĐTS thỏa thuận (về việc công chứng thỏa thuận, thời điểm xác lập) là một điều kiện có hiệu lực của thỏa thuận về CĐTS giữa vợ và chồng vì hơn bất kỳ một loại giao dịch dân sự nào, CĐTS thỏa thuận đóng vai trò quan trọng không những đối với các bên vợ, chồng mà còn đối với người thứ ba. Do vậy, các yêu cầu nghiêm ngặt về hình thức là thật sự cần thiết[4]. Lý do thứ hai, thỏa thuận về CĐTS của vợ chồng vi phạm một trong các quy định tại các Điều 29, 30, 31 và 32 của Luật HN&GĐ năm 2014. Các quy định tại Điều 29, 30, 31, 32 Luật HN&GĐ năm 2014 tạo thành một CĐTS cơ sở mà dù là CĐTS thỏa thuận hay CĐTS theo luật định cũng phải tuân thủ. Vi phạm một trong các nguyên tắc này thì thỏa thuận về CĐTS sẽ bị tuyên bố vô hiệu. Có thể lấy ví dụ nguyên tắc “vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ thực hiện giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình. Trong trường hợp vợ chồng không có tài sản chung hoặc tài sản chung không đủ để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình thì vợ, chồng có nghĩa vụ đóng góp tài sản riêng theo khả năng kinh tế của mỗi bên”. Nguyên tắc này rất quan trọng trong việc đảm bảo duy trì các điều kiện hỗ trợ cho sự tồn tại của gia đình. Theo đó, nếu trong thỏa thuận về CĐTS giữa vợ và chồng có quy định cho rằng “trong thời kỳ hôn nhân chỉ có người chồng có nghĩa vụ đóng góp thu nhập duy trì đời sống chung của gia đình” thì thỏa thuận đó sẽ vô hiệu. Lý do thứ ba, nội dung của thỏa thuận vi phạm nghiêm trọng quyền được cấp dưỡng, quyền được thừa kế và quyền, lợi ích hợp pháp khác của cha, mẹ, con và thành viên khác của gia đình. Lý do này giúp bảo vệ các chủ thể có liên quan khỏi các thỏa thuận giữa vợ và chồng trong trường hợp các thỏa thuận này tác động theo hướng bất lợi đối với họ. Chúng tôi cho rằng, trên thực tế các thỏa thuận giữa vợ và chồng về CĐTS có thể tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến quyền lợi của các chủ thể có liên quan trong cấp dưỡng hoặc thừa kế[5]... Và theo chúng tôi, dù tác động trực tiếp hay gián tiếp, nếu có những thỏa thuận giữa vợ và chồng vi phạm nghiêm trọng quyền được cấp dưỡng hay quyền được thừa kế... của cha, mẹ, con và các thành viên khác của gia đình, thì thỏa thuận đó phải bị vô hiệu. Theo hướng dẫn tại khoản 2 Điều 6 Thông tư liên tịch số 01/TTLT- TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 thì: “Nội dung của thỏa thuận về CĐTS của vợ chồng bị vô hiệu do vi phạm nghiêm trọng quyền được cấp dưỡng, quyền được thừa kế và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của cha, mẹ, con và các thành viên khác của gia đình quy định tại điểm c khoản 1 Điều 50 của Luật HN&GĐ là trường hợp thỏa thuận đó nhằm trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng quy định từ Điều 110 đến Điều 115 của Luật HN&GĐ hoặc để tước bỏ quyền thừa kế của những người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc theo quy định của BLDS hoặc vi phạm các quyền, lợi ích hợp pháp của cha, mẹ, con và các thành viên khác của gia đình đã được Luật HN&GĐ và pháp luật khác có liên quan quy định”. 2.1.2. Hiệu lực của tuyên bố vô hiệu đối với thỏa thuận về chế độ tài sản giữa vợ và chồng        Về thẩm quyền tuyên bố vô hiệu, hiện tại trong Luật HN&GĐ năm 2014 không có quy định cụ thể về thẩm quyền tuyên bố vô hiệu. Tuy nhiên, theo chúng tôi, với tư cách là một giao dịch dân sự, thì chỉ Tòa án mới có thẩm quyền tuyên bố vô hiệu đối với thỏa thuận này của vợ chồng. Hướng dẫn của Thông tư liên tịch số 01 nêu trên cũng đã khẳng định suy luận này[6].        Về hậu quả pháp lý của việc tuyên bố vô hiệu, theo quy định tại khoản 2 Điều 50 Luật HN&GĐ năm 2014: “Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn khoản 1 Điều này”. Và Thông tư liên tịch số 01 đã có hướng dẫn: “Thỏa thuận về CĐTS của vợ chồng có thể bị Tòa án tuyên bố vô hiệu toàn bộ hoặc vô hiệu một phần. a) Trường hợp thỏa thuận về CĐTS của vợ chồng bị Tòa án tuyên bố vô hiệu toàn bộ thì CĐTS của vợ chồng theo luật định được áp dụng. b) Trường hợp thỏa thuận về CĐTS của vợ chồng bị tuyên bố vô hiệu một phần thì các nội dung không bị vô hiệu vẫn được áp dụng; đối với phần nội dung bị vô hiệu thì các quy định tương ứng về CĐTS của vợ chồng theo luật định được áp dụng”. Trên cơ sở các quy định này về CĐTS thỏa thuận và vấn đề tuyên bố vô hiệu đối với thỏa thuận giữa vợ và chồng về CĐTS này, chúng tôi cho rằng, việc tuyên bố vô hiệu cũng như các hậu quả pháp lý của tuyên bố vô hiệu được xây dựng trên cơ sở các quy tắc của luBộ luật Dân sự. Cụ thể, theo quy định tại Điều 131 BLDS năm 2015: “1. Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập. 2. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả....”. Như vậy, một khi thỏa thuận về CĐTS giữa vợ và chồng bị tuyên bố vô hiệu thì thỏa thuận này không phát sinh hiệu lực ngay từ thời điểm xác lập. Điều này dẫn đến kết quả là phải lựa chọn một trong hai giải pháp, thứ nhất QHTS giữa vợ vàchồng không được điều chỉnh bởi bất kỳ quy tắc nào, thứ hai vì CĐTS thỏa thuận không tồn tại ngay từ thời điểm xác lập quan hệ hôn nhân (QHHN) nên CĐTS theo luật định được áp dụng. Chúng tôi cho rằng, giải pháp thứ hai đã được đề cập trong Thông tư liên tịch số 01 đã nêu là hợp lý, bởi vì không thể có tình trạng không tồn tại quan hệ pháp luật giữa vợ và chồng về QHTS. Hơn thế nữa, trong trường hợp thỏa thuận giữa vợ chồng về CĐTS bị tuyên bố vô hiệu, các bên cũng không thể thỏa thuận lại một CĐTS thỏa thuận khác vì: “Trong trường hợp hai bên kết hôn lựa chọn CĐTS theo thỏa thuận thì thỏa thuận này phải được lập trước khi kết hôn, bằng hình thức văn bản có công chứng hoặc chứng thực. CĐTS của vợ chồng theo thỏa thuận được xác lập kể từ ngày đăng ký kết hôn” (Điều 47 Luật HN&GĐ năm 2014). 2.2. Chấm dứt chế độ tài sản thỏa thuận khi hủy hôn nhân trái pháp luật QHHN sẽ chấm dứt khi rơi vào một trong ba trường hợp sau, vợ (chồng) chết, ly hôn hay hủy hôn nhân trái pháp luật. Trong số ba trường hợp này thì hủy hôn nhân trái pháp luật là trường hợp chấm dứt QHHN bị động và khác biệt về nguyên nhân cũng như ý chí so với hai trường hợp còn lại. Theo quy định tại khoản 6 Điều 3 Luật HN&GĐ năm 2014 thì: “Kết hôn trái pháp luật là việc nam, nữ đã đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng một bên hoặc cả hai bên vi phạm điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 của Luật này”. Và hậu quả pháp lý về QHTS giữa vợ và chồng của việc Tòa án tuyên bố hủy kết hôn trái pháp luật cũng giống như trường hợp quan hệ chung sống như vợ chồng bị Tòa án tuyên bố không công nhận là: “1. QHTS, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn được giải quyết theo thỏa thuận giữa các bên; trong trường hợp không có thỏa thuận thì giải quyết theo quy định của BLDS và các quy định khác của pháp luật có liên quan. 2. Việc giải quyết QHTS phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con; công việc nội trợ và công việc khác có liên quan để duy trì đời sống chung được coi như lao động có thu nhập” (Điều 16 Luật HN&GĐ năm 2014).        Có thể thấy pháp luật không quy định đặc biệt gì liên quan đến việc giải quyết QHTS giữa vợ và chồng trong trường hợp hủy hôn nhân trái pháp luật khi giữa họ tồn tại thỏa thuận về CĐTS giữa vợ và chồng. Đương nhiên là thỏa thuận về CĐTS không thể tiếp tục tồn tại sau khi QHHN giữa vợ và chồng đã bị Tòa án tuyên bố hủy, bởi vì QHTS giữa vợ và  chồng chỉ tồn tại khi tồn tại QHHN - quan hệ vợ chồng. Do đó, câu hỏi đặt ra là liệu các thỏa thuận về QHTS giữa vợ và chồng trong CĐTS thỏa thuận giữa họ có phát sinh hiệu lực khi giải quyết việc chấm dứt QHHN giữa họ? Hay một khi QHHN bị hủy do trái pháp luật thì QHTS giữa vợ và chồng phải được giải quyết theo quy định tại Điều 16 Luật HN&GĐ nêu trên?        Theo chúng tôi, câu trả lời chỉ có thể đến trên cơ sở phân tích và nhận định. Thứ nhất, việc tuyên bố hủy hôn nhân trái pháp luật được Tòa án tiến hành trên cơ sở yêu cầu của một số chủ thể nhất định được chỉ định bởi pháp luật. Việc tuyên bố hủy được tiến hành trên cơ sở quy định của pháp luật, bất chấp ý chí của các bên trong QHHN. Do đó, nó mang ý nghĩa chế tài nhiều hơn là một sự kết thúc QHHN thông thường. Và một khi việc hủy hôn nhân này với ý nghĩa chế tài như vậy, thì việc áp dụng CĐTS thỏa thuận để giải quyết QHTS giữa vợ và chồng là không hợp lý. Thứ hai, các quy định về hủy QHHN trái pháp luật tại Điều 10, 11, 12 Luật H&GĐ năm 2014 về nguyên tắc là áp dụng chung cho những trường hợp hủy hôn nhân trái pháp luật, do đó, nếu không có quy định riêng của pháp luật về việc xử lý QHTS giữa vợ và chồng như thế nào khi hủy QHHN trái pháp luật mà giữa vợ và chồng có CĐTS thỏa thuận, thì một cách hợp lý, theo chúng tôi là sẽ phải áp dụng các quy định chung này.        Tóm lại, dù giữa vợ và chồng có tồn tại CĐTS thỏa thuận, thì khi hủy hôn nhân trái pháp luật, việc xử lý QHTS giữa họ với nhau và trong quan hệ giữa họ với người thứ ba vẫn phải tuân thủ các quy định như hủy QHHN trái pháp luật trong các trường hợp thông thường khác. 2.3. Chấm dứt chế độ tài sản thỏa thuận khi vợ, chồng chết        Theo pháp luật dân sự Cộng hòa Pháp, vợ và chồng luôn là người thừa kế hàng đầu của nhau trong trường hợp một trong hai bên chết. Quyền thừa kế này được xác định tùy thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như có hay không có di chúc, người chết có con hay không, và đặc biệt là vợ, chồng chết trong tình trạng giữa vợ và chồng có thỏa thuận đặc biệt trong việc chia tài sản hay không (thỏa thuận này nằm trong khuôn khổ của hợp đồng hôn nhân đã giao kết giữa họ với nhau).        Khác với luật của Cộng hòa Pháp, ở Việt Nam, việc thừa kế giữa vợ chồng được quy định bởi BLDS, không xem là một phần trong Luật HN&GĐ mặc dù có quan hệ mật thiết với Luật HN&GĐ.        BLDS của Việt Nam được ban hành năm 2005, trong khi CĐTS thỏa thuận được quy định trong Luật HN&GĐ ban hành năm 2014. Vấn đề xử lý việc chấm dứt QHTS giữa vợ và chồng khi một trong hai bên vợ, chồng chết trong tình trạng có tồn tại CĐTS thỏa thuận chắc chắn không được quy định trong BLDS năm 2005, và thật tiếc là BLDS năm 2015 cũng không đề cập đến vấn đề này. Trong khi đó, theo quy định tại Điều 48 Luật HN&GĐ năm 2014: “1. Nội dung cơ bản của thỏa thuận về CĐTS bao gồm: a) Tài sản được xác định là tài sản chung, tài sản riêng của vợ, chồng; b) Quyền, nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng và giao dịch có liên quan; tài sản để bảo đảm nhu cầu thiết yếu của gia đình; c) Điều kiện, thủ tục và nguyên tắc phân chia tài sản khi chấm dứt CĐTS; d) Nội dung khác có liên quan. 2. Khi thực hiện CĐTS theo thỏa thuận mà phát sinh những vấn đề chưa được vợ chồng thỏa thuận hoặc thỏa thuận không rõ ràng thì áp dụng quy định tại các Điều 29, 30, 31 và 32 của Luật này và quy định tương ứng của CĐTS theo luật định”. Và theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 50 thì thỏa thuận giữa vợ chồng về CĐTS sẽ bị tuyên bố vô hiệu khi: “Nội dung của thỏa thuận vi phạm nghiêm trọng quyền được cấp dưỡng, quyền được thừa kế và quyền, lợi ích hợp pháp khác của cha, mẹ, con và thành viên khác của gia đình”. Hai quy định vừa trích dẫn dường như có sự mâu thuẫn nhau. Cụ thể, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 48 cho phép các bên vợ chồng có quyền thỏa thuận và ghi nhận vào CĐTS thỏa thuận các “Điều kiện, thủ tục và nguyên tắc phân chia tài sản khi chấm dứt CĐTS”, mà các trường hợp chấm dứt QHTS bao gồm cả trường hợp một trong hai bên vợ, chồng chết. Trong khi đó Điều 50 lại không cho phép những thỏa thuận “vi phạm quyền thừa kế”, tức quyền thừa kế được ghi nhận bởi BLDS. Ngoài ra, khoản 2 Điều 66 Luật HN&GĐ năm 2014 có quy định rằng: “2. Khi có yêu cầu về chia di sản thì tài sản chung của vợ chồng được chia đôi, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận về CĐTS. Phần tài sản của vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết được chia theo quy định của pháp luật về thừa kế”.Trên cơ sở các  quy định nêu trên, có thể thấy giới hạn của CĐTS thỏa thuận liên quan đến việc giải quyết QHTS giữa vợ và chồng khi một trong hai bên chết. Cụ thể và đơn giản, có thể nói rằng việc phân chia di sản thừa kế trong trường hợp một bên vợ, chồng chết mà giữa họ có tồn tại CĐTS thỏa thuận vẫn phải tuân thủ các quy định mang tính bắt buộc của pháp luật dân sự về chia di sản thừa kế, cụ thể là phải tôn trọng quyền thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc của những chủ thể được bảo vệ theo quy định tại Điều 6 Thông tư liên tịch số 01 đã dẫn trên. Tóm lại, đối với CĐTS thỏa thuận giữa vợ và chồng, các bên có thể thỏa thuận về việc quản lý, phân chia tài sản cũng như các điều kiện phân chia tài sản khi chấm dứt QHHN. Tuy nhiên, riêng các thỏa thuận về phân chia di sản thừa kế làm ảnh hưởng đến quyền thừa kế của những người thừa kế thì thỏa thuận này không được phép. Đây cũng chính là giới hạn cho CĐTS thỏa thuận giữa vợ và chồng. Câu hỏi đặt ra là chỉ riêng các thỏa thuận về thừa kế là không được phép hay tất cả các thỏa thuận làm ảnh hưởng đến quyền thừa kế của các chủ thể có liên quan khi một trong hai bên vợ, chồng chết sẽ bị cấm? Hãy hình dung giả thuyết, trong thỏa thuận về CĐTS, vợ chồng đã thỏa thuận với nhau rằng, khi một trong hai bên vợ, chồng chết thì người còn sống sẽ được nhận hai phần ba (2/3) tổng số tài sản chung, một phần ba còn lại là của người chết và sẽ đem chia thừa kế. Rõ ràng thỏa thuận này không tác động trực tiếp đến quyền thừa kế của những người thừa kế, mà nó chỉ là thỏa thuận về việc phân chia tài sản chung của vợ chồng, nhưng thỏa thuận này đã tác động một cách gián tiếp đến quyền được thừa kế của những người thừa kế khác. Cụ thể là nó làm cho khối di sản của những người này ít đi hơn so với bình thường (nếu như không có CĐTS thỏa thuận). Câu trả lời - theo chúng tôi - đến từ lý do cho sự xuất hiện của quy định tại điểm c khoản 1 Điều 50 nêu trên. Nhà làm luật khi xây dựng quy định tại Điều 50 này đã nghĩ đến nguyên tắc bảo vệ người thứ ba, theo nguyên tắc đó, vợ chồng có quyền xây dựng một CĐTS thỏa thuận cho riêng họ, nhưng các thỏa thuận này không được ảnh hưởng theo hướng tiêu cực đến quyền lợi của người thứ ba, đặc biệt là quyền thừa kế và cụ thể là quyền thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc. Và mặc dù thỏa thuận của vợ chồng không phải là di chúc nhưng nó cũng đã tác động tiêu cực đến quyền thừa kế của các chủ thể được pháp luật bảo vệ. Do đó, có thể thấy thỏa thuận của vợ chồng trong giả thuyết đã đề cập là không được chấp nhận nếu thỏa thuận phân chia này làm cho quyền thừa kế của các chủ thể đặc biệt (vợ, chồng, cha, mẹ, con chưa thành niên... của người chết) không được đảm bảo theo quy định của luật dân sự. 2.4. Chấm dứt chế độ tài sản thỏa thuận khi vợ chồng ly hôn Ly hôn là trường hợp chấm dứt QHHN không được lường trước bởi khi vợ chồng xác lập QHHN là trong điều kiện bình thường. Tuy nhiên, đây lại là trường hợp thường được dự kiến bởi các thỏa thuận về CĐTS giữa vợ và chồng, khi ly hôn sẽ chia tài sản như thế nào là vấn đề mà các bên thường quan tâm khi xây dựng thỏa thuận về CĐTS giữa vợ và chồng. Các thỏa thuận này cũng là những thỏa thuận được phép xây dựng trong khuôn khổ quy định tại điểm c khoản 1 Điều 48 nêu trên. Đồng thời, theo quy định tại khoản 1 Điều 59 Luật HN&GĐ năm 2014 về giải quyết QHTS giữa vợ và chồng khi ly hôn thì: “1. Trong trường hợp CĐTS của vợ và chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các Điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này. Trong trường hợp CĐTS của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các Điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết”. Như vậy, quy định này đã thể hiện rất rõ ràng tinh thần tôn trọng các thỏa thuận của vợ chồng trong CĐTS thỏa thuận liên quan đến việc phân chia tài sản khi ly hôn. Ngược lại, nếu vợ chồng có xây dựng CĐTS thỏa thuận nhưng trong nội dung thỏa thuận không nói gì về cách thức cũng như điều kiện phân chia tài sản khi ly hôn thì Tòa án sẽ áp dụng cách phân chia theo CĐTS luật định để giải quyết. Vấn đề cần lưu ý còn lại liên quan tới việc chấm dứt QHTS giữa vợ chồng khi ly hôn trong tình trạng có CĐTS thỏa thuận là các thỏa thuận phân chia tài sản cần phải tuân thủ các nguyên tắc được quy định tại Điều 29, 30, 31, 32 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và đảm bảo không “vi phạm nghiêm trọng quyền được cấp dưỡng, quyền được thừa kế và quyền, lợi ích hợp pháp khác của cha, mẹ, con và thành viên khác của gia đình”, đặc biệt là quyền được cấp dưỡng sau khi ly hôn. Điều đó cũng có nghĩa là, nếu có những thỏa thuận vi phạm các nguyên tắc này mà vẫn chưa bị tuyên bố vô hiệu thì sẽ xử lý giống như trường hợp “Nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều 59 và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết”. Tóm lại, việc giải quyết QHTS giữa vợ và chồng như thế nào khi chấm dứt QHHN là một trong những nội dung quan trọng mà các bên vợ chồng thường quan tâm thỏa thuận khi xác lập CĐTS thỏa thuận cho riêng mình. Và trong số các trường hợp chấm dứt QHTS thì chấm dứt QHTS do ly hôn có thể nói là trường hợp mà sự tự do trong thỏa thuận về phân chia tài sản được cho phép nhiều nhất./.       [1] Dân luật 1972 Sài Gòn. [2] Khái niệm này, theo tác giả Nguyễn Mạnh Bách “Chế độ hôn sản gồm một số các nguyên tắc quy định quyền hạn của hai vợ chồng trên các tài sản chung, sự đóng góp tiền bạc của hai vợ chồng trong thời gian hôn nhân, các quyền lợi của người thứ ba giao dịch với họ và những quyền lợi của mỗi người vợ chồng khi hôn thú chấm dứt”, Tìm hiểu Luật Dân sự Việt Nam (chế độ hôn sản, thừa kế), Nxb. Đồng Nai, 1992, tr 9. [3] Quy định này vẫn được giữ lại tại Điều 117 BLDS năm 2015. [4] Thông tư liên tịch số 01/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP vẫn chưa có quy định gì về vấn đề này. [5] Ví dụ, thỏa thuận của vợ chồng rằng “khi một trong hai bên chết thì người còn lại được thừa kế trọn di sản”, thỏa thuận này đã, một cách gián tiếp, hạn chế, thậm chí tước đi quyền thừa kế của các thành viên khác trong gia đình của người chết (cụ thể là quyền thừa kế của những người cùng hàng với vợ, chồng) [6] Theo quy định tại Điều 5 Thông tư liên tịch số 01/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP (2016) thì Tòa án có thẩm quyền này.     Đoàn Thị Phương Diệp, TS. Khoa Luật, Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh.
Sự thay đổi của hệ thống tài chính và vai trò của các tổ chức bảo hiểm tiền gửi trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế đã đặt ra yêu cầu phải cập nhật Bộ các nguyên tắc cơ bản theo hướng đảm bảo sự độc lập của tổ chức bảo hiểm tiền gửi trong quá trình hoạt động, cung cấp thêm các công cụ cần thiết để tổ chức bảo hiểm tiền gửi thực hiện tốt hơn nhiệm vụ của mình, đồng thời thể hiện vai trò tích cực hơn trong mạng an toàn tài chính quốc gia. Những thay đổi cơ bản Bộ các nguyên tắc cơ bản đã được Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) và Ngân hàng thế giới (WB) sử dụng trong phạm vi Chương trình đánh giá khu vực tài chính (FSAP) với mục tiêu đánh giá tính hiệu quả của hệ thống bảo hiểm tiền gửi tại các quốc gia. Đối với Việt Nam, trong quá trình thực hiện chương trình FSAP tại Việt Nam, IMF và WB cũng đã áp dụng Bộ các nguyên tắc cơ bản như một tài liệu tham khảo để đưa ra một số khuyến nghị đối với hệ thống bảo hiểm tiền gửi. Năm 2012, Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam cũng đã tiến hành tự đánh giá hệ thống bảo hiểm tiền gửi qua đề tài nghiên cứu ứng dụng “Đánh giá mức độ tuân thủ của hệ thống bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam so với Bộ nguyên tắc cơ bản phát triển hệ thống BHTG hiệu quả” từ đó đưa ra những đề xuất cải tiến hệ thống BHTG. Bộ nguyên tắc cơ bản cũng đã được các cơ quan Chính phủ và Quốc hội tham khảo trong quá trình xây dựng Luật bảo hiểm tiền gửi của Việt Nam.   Bộ tài liệu mới đã được cơ cấu lại một cách hợp lý hơn trên cơ sở thực hiện những thay đổi cơ bản sau: Thứ nhất: Củng cố một số nguyên tắc liên quan tới quản trị, trả tiền bảo hiểm, hạn mức BHTG, cấp vốn và tăng cường đảm bảo an toàn sử dụng vốn, trả tiền bảo hiểm, nhận thức của công chúng, hạn mức, rủi ro đạo đức, các vấn đề xuyên quốc gia...   Thứ hai: Cập nhật các nguyên tắc liên quan tới can thiệp và xử lý đổ vỡ nhằm phản ánh thực tế vai trò ngày càng lớn hơn của các tổ chức bảo hiểm tiền gửi trong việc xử lý đổ vỡ, đồng thời để đảm bảo sự phù hợp với các tiêu chuẩn của FSB. Thứ ba: Bổ sung thêm nguyên tắc về việc lập kế hoạch dự phòng khủng hoảng và xử lý khủng hoảng. Thứ tư: Tích hợp những nội dung đặc biệt về hệ thống bảo hiểm tiền gửi Hồi giáo, phổ biến kiến thức tài chính, nhiều hệ thống bảo hiểm tiền gửi trong cùng quốc gia, và về ưu tiên đối với người gửi tiền. Thứ 5: Đề cập tới rủi ro đạo đức trong tất cả các nguyên tắc có liên quan, thay vì chỉ giới hạn vấn đề rủi ro đạo đức trong một nguyên tắc duy nhất. Thứ 6: Nâng cấp một số tiêu chuẩn bổ sung trở thành tiêu chuẩn cơ bản dùng để đánh giá. Sau khi sửa đổi, Bộ nguyên tắc mới có 16 nguyên tắc cơ bản thay vì 18 nguyên tắc trong Bộ cũ), bao gồm tất cả 96 tiêu chuẩn đánh giá chi tiết. Một số điểm mới từ bộ các nguyên tắc cơ bản của Bảo hiểm tiền gửi Mối quan hệ với các thành viên mạng an toàn tài chính Nguyên tắc này tiếp tục đề cập đến tầm quan trọng của việc chia sẻ thông tin (thường xuyên và đột xuất) và phối hợp hành động giữa các cơ quan có vai trò giữ vững ổn định tài chính. Đặc biệt, Bộ nguyên tắc sửa đổi nhấn mạnh việc các cơ quan cần có những quy định chính thức về việc phối hợp hành động và đảm bảo bí mật thông tin được chia sẻ giữa các bên. Nguyên tắc mới cũng bổ sung trường hợp có nhiều tổ chức bảo hiểm tiền gửi cùng hoạt động trong một lãnh thổ quốc gia, khi đó cần phải có các cơ chế phối hợp và chia sẻ hiệu quả. Vai trò của tổ chức bảo hiểm tiền gửi trong việc lập kế hoạch dự phòng và xử lý khủng hoảng Đây là nguyên tắc hoàn toàn mới trên cơ sở những kinh nghiệm rút ra từ khủng hoảng tài chính toàn cầu. Cụ thể nguyên tắc này khuyến cáo tổ chức bảo hiểm tiền gửi phải có sẵn các kế hoạch đối phó với khủng hoảng (trước khủng hoảng) cũng như những biện pháp xử lý tình huống khủng hoảng (trong khủng hoảng), trên nguyên tắc hành động phối hợp với các cơ quan khác trong mạng an toàn tài chính. Các cuộc mô phỏng tập dượt xử lý khủng hoảng sẽ có tác dụng giúp tổ chức bảo hiểm tiền gửi cũng như các cơ quan khác có kỹ năng ứng phó tốt hơn với khủng hoảng. Nguyên tắc này cũng nhấn mạnh vai trò của truyền thông trước và sau khủng hoảng nhằm duy trì nhận thức đầy đủ và ổn định của công chúng về hệ thống tài chính. Nguyên tắc về nhận thức của công chúng Nguyên tắc này đề cập toàn diện hơn về hoạt động truyền thông công chúng trên hai cơ sở: mang tính định kỳ và mang tính sự kiện (đổ vỡ, khủng hoảng). Tổ chức bảo hiểm tiền gửi cũng cần đặt ra chiến lược dài hạn về truyền thông, tổ chức đánh giá mức độ nhận thức của công chúng qua thời gian. Nguyên tắc này cũng đặt tình huống truyền thông khi có vấn đề xuyên quốc gia, những thông tin cần chia sẻ và cơ chế chia sẻ thông tin. Những kiến nghị để phát triển Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam thời gian tới Trên cơ sở những thay đổi quan trọng của Bộ các nguyên tắc cơ bản phát triển hệ thống bảo hiểm tiền gửi hiệu quả của IADI, tác giả xin có một số kiến nghị đối với Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam như sau: Một là: Tiến hành đánh giá lại hệ thống bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam theo Bộ nguyên tắc cơ bản được cập nhật. Việc đánh giá toàn hệ thống đã được thực hiện trong phạm vi một đề tài nghiên cứu trong năm 2012, tuy nhiên đó là thời điểm giao thoa giữa cơ sở pháp lý cũ và mới (Luật bảo hiểm tiền gửi có hiệu lực từ 1/1/2013). Thời điểm hiện nay là cơ hội tốt để đánh giá lại hệ thống bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam trên cơ sở là hơn 2 năm thực thi Luật BHTG, cùng với Bộ các nguyên tắc cơ bản cập nhật vừa được ban hành. Kết quả đánh giá sẽ là nguồn thông tin hữu ích cho nhiệm vụ xây dựng Chiến lược phát triển dài hạn Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam dự kiến thực hiện trong năm 2015. Hai là: Xây dựng Chiến lược phát triển Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam trong đó phản ánh các nguyên tắc trong Bộ nguyên tắc cơ bản phát triển hệ thống bảo hiểm tiền gửi hiệu quả của IADI. Ba là: Một số đề xuất về nghiệp vụ: (i) Kiến nghị với các cơ quan có thẩm quyền lập kế hoạch dự phòng và xử lý khủng hoảng trong đó xác định rõ cơ chế phối hợp giữa các cơ quan trong đó có tổ chức bảo hiểm tiền gửi trong việc đối phó với khủng hoảng tài chính, ngân hàng. (ii) Xây dựng tỷ lệ quỹ mục tiêu và kiến nghị với các cơ quan cho phép áp dụng hệ thống phí trên cơ sở rủi ro nhằm đạt được quỹ mục tiêu đã đề ra. (iii) Hoàn thiện Chiến lược truyền thông nhằm tổ chức một cách bài bản hoạt động truyền thông trong giai đoạn kinh tế phát triển thông thường và đặc biệt có kế hoạch truyền thông khi xảy ra khủng hoảng. (iv) Xây dựng kế hoạch cải tiến phương pháp chi trả bảo hiểm tiền gửi nhằm rút ngắn thời gian chi trả xuống gần với mục tiêu 7 ngày được đặt ra trong Bộ nguyên tắc cập nhật. LÊ HOÀNG

Đặt câu hỏi

Họ tên:
Email:
Điện thoại:
Tiêu đề:
Nội dung:

Tư vấn pháp luật