Bạo lực gia đình (BLGĐ) là một vấn đề xã hội nhức nhối gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng mà trước hết là vi phạm đến quyền con người, danh dự, nhân phẩm và tính mạng của mỗi cá nhân, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em gái. BLGĐ làm xói mòn các giá trị truyền thống tốt đẹp, tác động xấu đến môi trường giáo dục thế hệ trẻ, ảnh hưởng đến sự an toàn lành mạnh của cộng đồng và trật tự xã hội.
Tóm tắt: Bài viết đề cập nghiên cứu một số quy định mới của Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 về người được trợ giúp pháp lý, đồng thời cũng nêu lên một số vấn đề còn bất cập cần được hướng dẫn và hoàn thiện trong quá trình đưa Luật đi vào cuộc sống. 
Trong thời gian qua, Nhà nước Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản pháp luật để đảm bảo quyền của người khuyết tật (như Luật người khuyết tật 2010; Nghị định 28/2012/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết thi hành Luật người khuyết tật và một số văn bản pháp luật khác có liên quan). Tuy nhiên, dường như những văn bản pháp luật của nhà nước quy định về quyền tiếp cận các dịch vụ công cộng (trong đó có giao dịch với ngân hàng) của người khuyết tật vẫn chưa được được đảm bảo thực hiện, khiến cho không ít người khuyết tật bị từ chối hoặc gặp khó khăn khi tham gia các hoạt động này.  Khái niệm tiếp cận dịch vụ ngân hàng Tại điểm v Lời nói đầu của CRPD đã thừa nhận tầm quan trọng của việc tiếp cận với môi trường thể chất, xã hội, kinh tế...trong việc giúp người khuyết tật hưởng đầy đủ các quyền và tự do cơ bản của con người. Để cụ thể hóa quy định của CRPD, khoản 8 Điều 1 Luật người khuyết tật 2010 giải thích: “Tiếp cận là việc người khuyết tật sử dụng được công trình công cộng, phương tiện giao thông, công nghệ thông tin, dịch vụ văn hóa, thể thao, du lịch và dịch vụ khác phù hợp để có thể hòa nhập cộng đồng”. Có thể hiểu, tiếp cận là việc đảm bảo cho người khuyết tật được sử dụng tất cả các lĩnh vực đời sống - xã hội để hòa nhập cộng đồng. Trong lĩnh vực dịch vụ ngân hàng, tiếp cận là việc ngân hàng có trách nhiệm đảm bảo người khuyết tật sử dụng tất cả dịch vụ của ngân hàng bao gồm tiếp cận về cơ sở vật chất và tiếp cận khi tham gia giao dịch.  Thực trạng tiếp cận dịch vụ ngân hàng của người khuyết tật tại Việt Nam Thực trạng trong tiếp cận tại địa điểm giao dịch ngân hàng Hiện nay ở Việt Nam đã có nhiều văn bản pháp luật quy định nội dung hỗ trợ người khuyết tật tiếp cận đối với các công trình giao thông, công trình xây dựng. Ví dụ: khoản 1.1.2 Điều 1.1 Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia số 10:2014/BXD về xây dựng công trình đảm bảo người khuyết tật sử dụng, yêu cầu kỹ thuật bắt buộc đối với các công trình công cộng như công trình thương mại, dịch vụ phải tuân thủ khi xây dựng mới hoặc cải tạo lại các công trình xây dựng đảm bảo người khuyết tật tiếp cận sử dụng. Quy chuẩn đã quy định cụ thể các điều kiện tiếp cận cho người khuyết tật đối với các công trình thương mại, dịch vụ như lối vào, thang máy, sảnh chờ, nhà vệ sinh… đảm bảo tất cả người khuyết tật đều sử dụng một cách dễ dàng. Tuy nhiên, nhìn về thực tế, hầu hết các địa điểm đặt cây ATM, các phòng giao dịch hay chi nhánh của ngân hàng đều được đặt cao hơn vỉa hè ít nhất 10cm, không có lối đi dành cho người khuyết tật, không có chỗ ngồi dành riêng cho người khuyết tật. Đối với các địa điểm đặt cây ATM thường là cửa kính, nặng hơn so với sức khỏe và cao hơn so với tầm với của người khuyết tật ngồi xe lăn. Tại phòng giao dịch, cây ATM thường đặt trên cao, nhiều bậc thang, không có lối đi dành riêng cho người khuyết tật dẫn đến việc người khuyết tật bắt buộc phải đi cùng người hỗ trợ. Chính những điều này đã hạn chế người khuyết tật tham gia các giao dịch ngân hàng. Thực trạng tiếp cận khi tham gia giao dịch ngân hàng Không thể phủ nhận, hiện nay nhiều ngân hàng đã có những bước tiến bộ khi hỗ trợ người khuyết tật tham gia giao dịch. Ví dụ ngân hàng Đông Á đã đồng ý rằng nếu người khuyết tật gặp trở ngại trong việc mở tài khoản ATM thì có thể liên lạc với phòng pháp lý để yêu cầu hỗ trợ. Tuy nhiên, hiện vẫn còn nhiều trường hợp, nhiều ngân hàng hay các nhân viên của ngân hàng có những hành động gây khó dễ, định kiến đối với người khuyết tật như:  Người khuyết tật là người mất năng lực hành vi dân sự, phải có người giám hộ Trong bài viết “Người mất năng lực hành vi dân sự, quy định và thực tế” được đăng ở Bản tin Chính sách và Cuộc sống số 39, tháng 5/2017, người viết đã phân tích những sai lầm khi xem người khuyết tật là người mất năng lực hành vi dân sự.Việc áp suy nghĩ cứ là người khuyết tật là phải có người giám hộ là hoàn toàn trái với quy định của Bộ luật dân sự (BLDS) năm 2015. "Ngày 14/9/2016 ông Phạm Việt Hoài, Chủ tịch HĐQT Công ty CP Kym Việt (là một đơn vị hoạt động theo mô hình Doanh nghiệp xã hội nơi có nhiều người khuyết tật sản xuất thú nhồi bông) đã cùng 4 nhân viên đến chi nhánh Vietcombank Thành Công để đăng ký làm thẻ ATM. Ông Hoài đã mang đầy đủ hồ sơ và có trình bày việc 4 nhân viên Cty bị câm điếc bẩm sinh. Vậy nhưng, sau khi trao đổi, nhân viên ngân hàng đã từ chối mở thẻ ATM cho 4 người này vì cho rằng họ không có đủ năng lực hành vi dân sự. Ông Hoài và các nhân viên đành phải ra về.'' Yêu cầu người giám hộ cho người khuyết tật chỉ là một người trong mọi giao dịch Theo quy định tại khoản 2 Điều 47 BLDS 2015 quy định: “Một người chỉ có thể được một người giám hộ, trừ trường hợp cha, mẹ cùng giám hộ cho con hoặc ông, bà cùng giám hộ cho cháu”, tức là một người có quyền được 2 người giám hộ trong trường hợp cha mẹ cùng giám hộ cho con hoặc ông bà cũng giám hộ cho cháu. Như vậy, với yêu cầu người giám hộ chỉ là một người trong mọi giao dịch là hoàn toàn trái với nguyên tắc cơ bản về giám hộ theo quy định của BLDS 2015. Người khuyết tật bị giới hạn số tiền giao dịch so với người không khuyết tật  Pháp luật về tín dụng không có quy định hạn chế số lượng tiền giao dịch của người tham gia giao dịch ngân hàng là người khuyết tật, họ có quyền sử dụng, định đoạt số tiền thuộc sở hữu của họ và ngân hàng chỉ được coi là một trung gian hỗ trợ.  Tham khảo kinh nghiệm nước ngoài  Trên thế giới đã có nhiều cách giải quyết vấn đề tăng cường tiếp cận cho người khuyết tật khi tham gia giao dịch tại ngân hàng. Cụ thể: Tại Ấn Độ, có 7.000 trong số 18.000 máy ATM của Ngân hàng quốc gia Ấn Độ (SBI) thân thiện với người khiếm thị để họ thực hiện hầu hết các giao dịch ngân hàng. SBI cũng yêu cầu các ngân hàng phải có ít nhất 1/3 số máy ATM có bàn phím chữ nổi. Ở Anh, HSBC đã tung ra một video ngôn ngữ ký hiệu Anh - Video Relay Service (VRS) nhằm giúp cho cộng đồng người khiếm thính - những người sử dụng “ngôn ngữ ký hiệu Anh” có thể giao tiếp với các ngân hàng thông qua dịch vụ ngân hàng qua điện thoại. Hiệp hội Ngân hàng New Zealand cũng đã đưa ra các hướng dẫn trong dịch vụ ngân hàng của các ngân hàng thành viên dành riêng cho người khuyết tật như:  Đào tạo cho tất cả nhân viên ngân hàng tương tác với khách hàng về việc nhận thức rõ các kiến thức về người khuyết tật để hiểu và hỗ trợ khách hàng của mình, sử dụng các dịch vụ New Zealand Relay hay việc phát triền công nghệ ATM dành riêng cho người khuyết tật.  Kiến nghị giải pháp tăng cường tiếp cận của người khuyết tật đối với các dịch vụ ngân hàng Trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn tại Việt Nam, kết hợp tham khảo kinh nghiệm nước ngoài, chúng tôi có một số kiến nghị giải pháp đối với hệ thống ngân hàng như sau nhằm góp phần tăng cường đảm bảo tiếp cận của người khuyết tật đối với các dịch vụ ngân hàng ở nước ta: Kiến nghị đối với Ngân hàng nhà nước Trước tiên, cần tăng cường phổ biến những quy định pháp luật có liên quan đến việc đảm bảo quyền bình đẳng của người khuyết tật trong tiếp cận các dịch vụ ngân hàng tới hệ thống ngân hàng trong cả nước và tăng cường kiểm tra, thanh tra việc thực hiện các quy định pháp luật đó trên thực tế.  Thứ hai, chỉ đạo các ngân hàng thương mại tăng cường tổ chức các khoá tập huấn cho nhân viên của các ngân hàng này về kỹ năng tương tác với người khuyết tật để tăng cường nhận thức về người khuyết tật và cách hỗ trợ khi họ tham gia giao dịch ngân hàng. Cuối cùng, trong phạm vi thẩm quyền quản lý nhà nước, tăng cường hướng dẫn, chỉ đạo, kiểm tra đối với các ngân hàng thương mại trong việc đảm bảo những điều kiện cần thiết về hạ tầng cơ sở, về trang thiết bị... để người khuyết tật tiếp cận dễ dàng, thuận lợi với các dịch vụ ngân hàng. Kiến nghị đối với hệ thống ngân hàng  Tổ chức xây dựng, sửa chữa công trình theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia số 10:2014/BXD về xây dựng công trình đảm bảo người khuyết tật tiếp cận sử dụng; tăng cường các trang thiết bị nhằm đảm bảo hỗ trợ tiếp cận dịch vụ ngân hàng của người khuyết tật như: lắp bảng hướng dẫn chữ nổi hoặc loa hướng dẫn cho người mù, bảng hướng dẫn cho người điếc, về khoảng không gian cần thiết cho người khuyết tật sử dụng,xây dựng các địa điểm đặt cây ATM phù hợp với người khuyết tật sử dụng như lối lên, chiều cao tối đa, lắp đặt cây ATM có bàn phím chữ nổi để người mù có thể sử dụng./. ThS. Ngô Thị Thu Hằng  
1. Khái niệm trẻ em trong Công ước quốc tế về Quyền trẻ em và bối cảnh của Việt Nam Về cơ bản, các quốc gia có thể tự xác định một mức tuổi pháp lý để định nghĩa trẻ em. Điều 1 Công ước quốc tế về Quyền trẻ em năm 1990 (CRC) đưa ra một định nghĩa chung về trẻ em, theo đó trẻ em (child) là người dưới 18 tuổi - trừ khi quốc gia có quy định người có tuổi thành niên sớm hơn. Định nghĩa này đã được các cơ quan nhân quyền quốc tế ủng hộ và khuyến khích các quốc gia thành viên tiếp nhận[1], nhưng người chưa thành niên (juvenile) thì lại không được CRC định nghĩa.             Ở Việt Nam, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 quy định trẻ em là người dưới 16 tuổi[2]. Vào thời điểm sửa Luật này, một số cơ quan tổ chức quốc tế như Quỹ Nhi đồng Liên hiệp quốc (UNICEF) tại Việt Nam đã cố gắng vận động để nâng khung tuổi trẻ em lên 18 - phù hợp với Công ước quốc tế về Quyền trẻ em năm 1990, nhưng cuối cùng, Luật Trẻ em năm 2016 cũng vẫn giữ nguyên cách xác định này[3].             Trong khi đó, người chưa thành niên trong pháp luật Việt Nam được hiểu là người chưa đủ 18 tuổi[4]. Như vậy, có thể hiểu người chưa thành niên trong pháp luật Việt Nam cũng chính là trẻ em theo định nghĩa của CRC. Tuy nhiên, việc sử dụng hai thuật ngữ này trong văn bản pháp luật của Việt Nam lại có sự khác biệt: “trẻ em” thường được sử dụng để nhấn mạnh tính dễ tổn thương và quyền của đối tượng này; trong khi đó, “người chưa thành niên” không chỉ có quyền mà còn có cả nghĩa vụ và trách nhiệm đối với người khác. 2. Nguyên tắc vì lợi ích tốt nhất của trẻ em trong Công ước quốc tế về Quyền trẻ em   Đây là nguyên tắc mang tính định hướng hết sức quan trọng cho việc ghi nhận và thực thi quyền trẻ em[5]. Theo đó, tất cả những hành động liên quan đến trẻ em, dù do các cơ quan phúc lợi xã hội công cộng hay tư nhân, toà án, các nhà chức trách hành chính hay các cơ quan lập pháp tiến hành thì lợi ích tốt nhất của trẻ em phải là một quan tâm hàng đầu[6]. Theo học giả Philip Alston, nguyên tắc vì lợi ích tốt nhất của trẻ em cần được hiểu và vận dụng ở ba khía cạnh sau: thứ nhất, trong vụ việc có nhiều lợi ích xung đột, thì lợi ích tốt nhất của trẻ em phải được ưu tiên cân nhắc[7]; thứ hai, khi một quy định của pháp luật thiếu rõ ràng và để mở nhiều khả năng giải thích, thì cách giải thích có lợi nhất cho trẻ em phải được áp dụng; thứ ba, trong tất cả các vấn đề mà CRC không đề cập, nguyên tắc lợi ích tốt nhất của trẻ em sẽ là thước đo để đánh giá pháp luật và thực tiễn của quốc gia thành viên[8].             Liên quan đến tội phạm vị thành niên, CRC khuyến cáo các quốc gia sử dụng nguyên tắc lợi ích tốt nhất của trẻ em định hướng cho việc đề ra phương hướng, mục tiêu của hệ thống hình sự của quốc gia khi xử lý người chưa thành niên phạm tội[9]. Chẳng hạn như, khi giải quyết tội phạm vị thành niên, nên thay thế mục tiêu cơ bản của pháp luật hình sự là để trừng phạt bằng công lý phục hồi[10]; xem xét độ tuổi tối thiểu chịu trách nhiệm hình sự (TNHS); khi đánh giá khung hình phạt, các biện pháp thay thế, và thủ tục tố tụng hình sự áp dụng đối với tội phạm vị thành niên...             2.1 Độ tuổi tối thiểu chịu TNHS     Khái niệm độ tuổi tối thiểu chịu TNHS để chỉ mức tuổi thấp nhất mà ở đó một người có thể phải chịu trách nhiệm do vi phạm pháp luật hình sự. Vấn đề là làm sao cân bằng giữa duy trì trật tự công cộng và bảo vệ quyền trẻ em. Về cơ bản, việc xác định tuổi tối thiểu chịu TNHS mang tính chủ quan và tuỳ thuộc vào mỗi quốc gia, vì vậy không có một công thức nào chung nhất[11]. Tuổi tối thiểu chịu TNHS được quy định tại các quốc gia tương đối khác biệt và dao động “từ mức rất thấp, khoảng 7 hay 8 tuổi tới mức tương đối cao là khoảng 14 hoặc 16 tuổi”[12].             Điều 40.3 CRC buộc quốc gia phải đưa ra tuổi tối thiểu chịu TNHS xác định, mà dưới mức này thì chủ thể sẽ được cho là không có khả năng xâm phạm pháp luật hình sự. Nhìn chung, quốc gia vẫn có thẩm quyền rất lớn trong vấn đề này. Quy tắc 4 trong Nguyên tắc Bắc Kinh khuyến nghị rằng tuổi tối thiểu chịu TNHS không nên quá thấp và nhà chức trách cần phải cân nhắc yếu tố non nớt về thể chất và tinh thần của trẻ em. Uỷ ban CRC đã bổ sung và cho rằng, tuổi tối thiểu chịu TNHS mà dưới 12 tuổi là không thể chấp nhận, vì trái với nguyên tắc vì lợi ích tốt nhất của trẻ em[13].             2.2 Các biện pháp thay thế và chuyển hướng Sự cần thiết của các biện pháp thay thế xuất phát từ lập luận rằng, trẻ em vốn thiếu sự chín chắn, tâm lý chưa ổn định, dễ bị tổn thương nên việc tiếp xúc với các cơ quan công quyền, đặc biệt là trong hệ thống hình sự có thể gây tác động xấu và lâu dài tới tâm lý của các em. Mục tiêu của các biện pháp thay thế và chuyển hướng là để hạn chế sự tiếp xúc với hệ thống hình sự, nhưng vẫn đảm bảo người chưa thành niên phạm tội nhận được sự giáo dục và giúp đỡ cần thiết để khắc phục sai lầm của mình. Trường hợp nhận thấy không cần thiết phải xét xử hình sự, các quốc gia được khuyến khích nên thiết lập các biện pháp khác ngoài toà án để xử lý tội phạm chưa thành niên[14]. Các biện pháp này bao gồm chăm sóc, hướng dẫn, giám sát, thử thách, giáo dưỡng tại các cơ sở tập trung. Trường hợp bắt buộc phải tiến hành tố tụng hình sự (TTHS), thì hệ thống hình sự của quốc gia cần sử dụng kết hợp các biện pháp giáo dục và xã hội, đặc biệt là hạn chế việc tước đoạt tự do của người chưa thành niên. 3. Nguyên tắc vì lợi ích tốt nhất của trẻ em trong pháp luật hình sự Việt Nam Bộ luật Hình sự (BLHS) Việt Nam năm 2015 đưa ra những nguyên tắc chung khi xử lý tội phạm vị thành niên. Nhìn chung, việc xử lý hình sự đối với các đối tượng này phải dựa trên độ tuổi, sự chín chắn và hiểu biết cũng như mức độ nghiêm trọng trong hành vi phạm tội của họ. Việc xử lý hình sự chủ yếu nhằm giúp đỡ những người này mang tính khắc phục thiệt hại, sửa chữa và tránh những sai lầm sau này[15]. Quy định mới trong pháp luật hình sự còn nâng mục tiêu này lên thành nguyên tắc cơ bản; theo đó, lần đầu tiên pháp luật hình sự thừa nhận nguyên tắc “vì lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi”[16]. Điều này cho thấy, các nhà làm luật Việt Nam đang nỗ lực đảm bảo pháp luật Việt Nam tương thích với pháp luật quốc tế. Tuy nhiên, ở một góc độ khác, quy định này có phần khó hiểu. Nguyên tắc “lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi” có nghĩa là gì? Theo pháp luật hình sự Việt Nam, người từ đủ 14 tuổi tới 18 tuổi là những người phải chịu TNHS. Trong khi đó, chỉ những người từ 14 đến 16 tuổi mới được coi là trẻ em. Như vậy, liệu có phải nguyên tắc này chỉ áp dụng đối với đối tượng trẻ em đó, mà không mở rộng đối với người từ 16 đến 18 tuổi? Cách lập luận này không thuyết phục bởi: thứ nhất, nếu chỉ áp dụng cho một nhóm đối tượng cụ thể thì pháp luật phải quy định chi tiết, rõ ràng chứ không thể gói gọn chung chung vào một cụm từ “người dưới 18 tuổi”; thứ hai, BLHS và Bộ luật TTHS đều thừa nhận tính thiếu chín chắn, hiểu biết và dễ bị tổn thương là đặc tính chung của nhóm người dưới 18 tuổi. Vì vậy, nguyên tắc nêu trên cần được áp dụng chung cho nhóm đối tượng này. Tới đây lại nảy sinh một câu hỏi: liệu nguyên tắc “lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi” là nguyên tắc mới do nhà làm luật Việt Nam sáng tạo ra? Bởi trong CRC chỉ tồn tại duy nhất nguyên tắc vì “lợi ích tốt nhất của trẻ em”. Sở dĩ có nguyên tắc này là do đây là đối tượng yếu thế, thiếu sự chín chắn và dễ bị tổn thương, do đó cần sự chăm sóc, quan tâm đặc biệt từ những người xung quanh. Chúng tôi cho rằng, các nhà làm luật Việt Nam đang nhắc đến nguyên tắc vì lợi ích tốt nhất của trẻ em trong CRC nhưng có sự sửa đổi kỹ thuật cho phù hợp thực tế của Việt Nam. Việc bổ sung nguyên tắc này vào trong BLHS có ý nghĩa quan trọng, nâng cao nhận thức của các cơ quan tiến hành tố tụng khi xử lý các vấn đề liên quan tới người chưa thành niên phạm tội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng nguyên tắc này sẽ đặt câu hỏi ngược lại với định nghĩa trẻ em trong Luật Trẻ em năm 2016. Có thể, chúng ta sẽ phải sửa lại định nghĩa “trẻ em” để đảm bảo tính tương đồng giữa pháp luật trong nước và quốc tế cũng như các nguyên tắc liên quan. 3.1 Tuổi tối thiểu chịu TNHS trong pháp luật hình sự Việt Nam Theo BLHS năm 2009, người từ đủ 16 trở lên sẽ phải chịu trách nhiệm đối với tất cả tội phạm mà mình thực hiện. Những người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu TNHS nếu phạm tội rất nghiêm trọng một cách cố ý hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng. Quy định mức tuổi tối thiểu chịu TNHS của Việt Nam về cơ bản là tương thích với tiêu chuẩn quốc tế đặt ra.             Trong quá trình sửa đổi BLHS và Bộ luật TTHS, một số ý kiến cho rằng, Điều 12 BLHS năm 2009 liên quan tới TNHS của người từ 14 đến 16 tuổi là quá rộng và thiếu rõ ràng[17]. Nhìn chung, những đối tượng này vẫn phải chịu trách nhiệm cho hầu hết tất cả các loại tội phạm. Quy định như vậy không thể hiện được chính sách nhân đạo của Nhà nước đối với nhóm người này. Cuối cùng, BLHS năm 2015 đã được sửa đổi theo hướng: mức tuổi tối thiểu chịu TNHS vẫn giữ nguyên là từ 14 tuổi nhưng làm rõ hơn những tội mà những người từ 14 đến 16 tuổi phải chịu TNHS, bao gồm hai nhóm[18]: thứ nhất, tội giết người, tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, tội hiếp dâm, tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi, tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, tội cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản; thứ hai, tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một số điều cụ thể trong BLHS[19]. Người từ đủ 16 tuổi tới 18 tuổi thì vẫn phải chịu TNHS đối với tất cả các tội phạm. Các quy định trong BLHS năm 2009 và 2015 đều áp dụng tại thời điểm phạm tội. Nói cách khác, thủ tục TTHS cũng như hình phạt được áp dụng với cả người đã thành niên nếu như tại thời điểm phạm tội họ chưa đủ 18 tuổi. Toà án nhân dân tối cao đã ban hành văn bản hướng dẫn xác định tuổi của người phạm tội trong trường hợp họ không có đầy đủ giấy tờ nhân thân[20]. Trong thực tế, Toà phúc thẩm tại thành phố Hồ Chí Minh đã từng bác kháng cáo tăng án tử hình với lý do bị cáo chưa đủ 18 tuổi khi phạm tội[21]. Bộ luật TTHS năm 2015 đã quy định thống nhất theo hướng bổ sung điều khoản về phương thức xác định tuổi của người phạm tội và nạn nhân là người chưa thành niên[22]. Những quy định này là hoàn toàn phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. 3.2 Các biện pháp thay thế và chuyển hướng Như đã trình bày ở trên, nguyên tắc vì lợi ích tốt nhất của trẻ em đòi hỏi toà án và các cơ quan tố tụng hình sự khác cân nhắc rất kỹ trước khi tiến hành xử lý hình sự người chưa thành niên phạm tội.             Khoản 4 Điều 69 BLHS năm 2009 quy định: “Khi xét xử, nếu thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội, thì Toà án áp dụng một trong các biện pháp tư pháp được quy định tại Điều 70 của Bộ luật này.” Nói khác đi, Toà án sẽ cân nhắc hình phạt trước, và nếu thấy không cần thiết thì mới xem xét tới các biện pháp tư pháp khác. Quy định này rõ ràng không phù hợp với lợi ích tốt nhất của trẻ em, vốn đòi hỏi nhiều bao dung và hạn chế tiếp xúc với cơ quan công quyền. Đồng thời, Uỷ ban CRC cũng khẳng định rằng, việc tước đoạt tự do của trẻ em chỉ nên được coi là biện pháp cuối cùng khi không còn biện pháp nào khác thay thế[23]. Quy định tương tự cũng có thể tìm thấy tại khoản 2 Điều 307 Bộ luật TTHS năm 2003.             BLHS năm 2015 đã sửa đổi quy định này, theo đó Toà án sẽ chỉ áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội nếu xét thấy việc miễn TNHS và áp dụng các biện pháp giám sát, giáo dục tại Mục 2 và 3 Chương XII của Bộ luật này không đảm bảo hiệu quả giáo dục, phòng ngừa[24]. Quy định như vậy thể hiện sự đổi mới trong tư duy của nhà làm luật, đề cao lợi ích của trẻ em và là kim chỉ nam cho các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự khi xử lý người chưa thành niên phạm tội. Tuy nhiên, vẫn có sự lạc nhịp giữa BLHS và Bộ luật TTHS mới. Khoản 6 Điều 423 Bộ luật TTHS năm 2015 vẫn giữ lại quy định cũ: “Khi xét xử, nếu thấy không cần thiết phải quyết định hình phạt đối với bị cáo thì Hội đồng xét xử áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng”. Quy định như trên lại tiếp tục bước theo hướng truyền thống của hệ thống pháp luật hình sự, đó là trừng phạt và trả đũa, thay vì hướng người phạm tội nhận thức và khắc phục sai lầm. Sự mâu thuẫn giữa hai bộ luật này có thể gây ra khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng trên thực tế, đòi hỏi phải có phương hướng giải quyết. Chúng tôi khuyến nghị rằng, việc áp dụng nguyên tắc vì lợi ích tốt nhất của người chưa đủ 18 tuổi (nếu các quy định của pháp luật đưa đến nhiều cách hiểu khác nhau thì cách hiểu nào có lợi nhất cho trẻ em cần được ưu tiên) sẽ giải quyết được vấn đề này. Cụ thể, trong trường hợp nêu trên, các biện pháp giám sát và giáo dục được ưu tiên xem xét trước. Tuy nhiên, về dài hạn, Việt Nam cần xem xét sửa đổi quy định này sao cho đảm bảo tính thống nhất giữa hai bộ luật.             Khoản 2 Điều 69 BLHS năm 2009 quy định: “Người chưa thành niên phạm tội có thể được miễn TNHS nếu phạm tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng gây hại không lớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ”. Quy định này không loại trừ những người từ 14 đến 16 tuổi chịu TNHS đối với những tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng. Như vậy, theo quy định của  BLHS năm 2009, người chưa thành niên phạm tội vẫn phải trải qua quá trình TTHS nặng nề và đôi khi là phiền hà dù cho tội phạm thực hiện không quá nghiêm trọng.             BLHS năm 2015 đã khắc phục những vấn đề này.  Thứ nhất, khoản 2 Điều 91 Bộ luật quy định cụ thể một số trường hợp mà người dưới 18 tuổi sẽ được miễn TNHS, trong đó các đối tượng bao gồm cả người từ 14 đến 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý[25]. Thứ hai, BLHS bổ sung một mục mới quy định các biện pháp giám sát, giáo dục trong trường hợp được miễn TNHS, trong đó có thêm phương thức khiển trách, hoà giải tại cộng đồng; đồng thời tách riêng phương thức giáo dục tại trường giáo dưỡng. Cũng cần phải nói thêm, phương thức giáo dục tập trung tại trường giáo dưỡng là một hình thức tước đoạt tự do của người chưa thành niên phạm tội. Trước đây, pháp luật hành chính cho phép Chủ tịch Uỷ ban nhân dân được quyết định vấn đề này, nhưng quy định này đã được sửa. Theo đó, chỉ có Toà án mới có quyền ra quyết định tước đoạt tự do của cá nhân. Đây là sự sửa đổi hoàn toàn phù hợp với pháp luật quốc tế, đặc biệt là với CRC ở khía cạnh vì lợi ích của trẻ em.             Thứ ba, BLHS mới mở rộng các chủ thể có thẩm quyền được áp dụng các biện pháp tư pháp; theo đó, không chỉ có Toà án mà Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát cũng có thẩm quyền này. Đây là sự sửa đổi rất tiến bộ nhằm tạo điều kiện cho những người chưa thành niên phạm tội có thể nhận ra sai lầm của mình và sớm trở về với cộng đồng.             Trường hợp bắt buộc phải tiến hành việc xét xử đầy đủ thì Bộ luật TTHS cũ và mới đều quy định các biện pháp ngăn chặn áp dụng với người chưa thành niên phạm tội, gồm: cấm đi khỏi nơi cư trú; bảo lãnh; đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm. Về cơ bản, các biện pháp này đã được sử dụng tương đối hiệu quả. Một số nghiên cứu gần đây cho thấy, biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú và bảo lãnh thường xuyên được áp dụng nhiều hơn trong trường hợp người chưa thành niên phạm tội[26]./. ________________________________________ [1] CRC Committee, General Comment No. 14 on the Rights of the Child to Have His or Her Best Interests Taken as a Primary Consideration, CRC/C/GC/14 (2013); General Comment No. 4 on Adolescent Health and Development in the Context of the Convention on the Rights of the Child, CRC/C/GC/4 (2003). [2] Điều 1 Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004. [3] Điều 1 Luật Trẻ em năm 2016. [4] Điều 21 Bộ luật Dân sự năm 2015. [5]Javaid Rehman, International Human Rights Law 2nd ed. (Pearson, 2010) p. 564-565; Michael Freeman, A Commentary on the UN Convention on the Rights of the Child, Article 3 The Best Interest of The Child (Martinus Nijhoff Publishers, 2007); Trong một vài án lệ, đây còn được thừa nhận là một nguyên tắc tập quán quốc tế, Xem thêm Beharry v. Reno, 181 F. Supp 2d 584, 603-5 (E.D.N.Y. 2002) discussed in Aleinikoff and Chetail, Migration and International Legal Norms (Asser Press, 2003) 101. [6] Điều 3 CRC. [7] H. Reece, The Paramountcy Principle: Consensus or Construct? (Current Legal Problems 49, 1996) p. 16. [8] Philip Alston, The Best Interests Principle: Towards a Reconciliation of Culture and Human Rights, in Michael D.A. Freeman (ed), Children’s Rights vol 2 (Ashgate/Dartmouth, 2004) pp. 183-197. [9] CRC Committee, General Comment No. 10 (2007) (Sau đây viết tắt là GC No. 10) đoạn 10. [10] Mục tiêu truyền thống của pháp luật hình sự là sự trừng phạt, trả đũa (retributive justice). Trong khi đó, cách tiếp cận công lý phục hồi (restorative justice) đưa thủ phạm và nạn nhân vào làm trọng tâm, nếu thủ phạm đã ý thức được sai lầm, hối cải, và mong muốn sửa đổi, đền bù cho nạn nhân thì hình phạt nên giảm nhẹ. Xem thêm Ellen Lemley, Designing Restorative Justice Policy: An Analytical Perspective (Criminal Justice Policy Review 12(1), 2001) p. 43; Kathleen Daly, Restorative Justice: A Real Story (Punishment and Society 4(1), 2002) p. 55; Galaway and Hudson (eds), Restorative Justice: International Perspective (Criminal Justice Press, 1996) pp. 17-36. [11] Katarina Tomasevski (eds.), Children In Adult Prisons: An International Perspective (Frances Pinter Publishers, 1986) p. 5, 57. [12] GC No. 10 đoạn 30. [13] GC No. 10 đoạn 32-33. [14] GC No. 10, đoạn 22-29; UN Guidelines 1997, đoạn 15; Điều 11 Nguyên tắc Bắc Kinh. [15] Khoản 1 Điều 69 BLHS năm 2009. [16] Khoản 1 Điều 91 BLHS năm 2015 và khoản 1 Điều 414 Bộ luật TTHS năm 2015. [17] UNICEF Việt Nam, Báo cáo Kiến nghị sửa đổi BLHS và Bộ luật TTHS (2015), tr. 1-3. [18] Điều 12 BLHS năm 2015. [19] Bao gồm: a) Điều 143 (tội cưỡng dâm); Điều 150 (tội mua bán người); Điều 151 (tội mua bán người dưới 16 tuổi); b) Điều 170 (tội cưỡng đoạt tài sản); Điều 171 (tội cướp giật tài sản); Điều 173 (tội trộm cắp tài sản); Điều 178 (tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản); c) Điều 248 (tội sản xuất trái phép chất ma túy); Điều 249 (tội tàng trữ trái phép chất ma túy); Điều 250 (tội vận chuyển trái phép chất ma túy); Điều 251 (tội mua bán trái phép chất ma túy); Điều 252 (tội chiếm đoạt chất ma túy); d) Điều 265 (tội tổ chức đua xe trái phép); Điều 266 (tội đua xe trái phép); đ) Điều 285 (tội sản xuất, mua bán, trao đổi hoặc tặng cho công cụ, thiết bị, phần mềm để sử dụng vào mục đích trái pháp luật); Điều 286 (tội phát tán chương trình tin học gây hại cho hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử); Điều 287 (tội cản trở hoặc gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử); Điều 289 (tội xâm nhập trái phép vào mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử của người khác); Điều 290 (tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản); e) Điều 299 (tội khủng bố); Điều 303 (tội phá hủy công trình, cơ sở, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia); Điều 304 (tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự). [20] Xem thêm Công văn số 81/2002/TANDTC, Thông tư liên tịch số 01/2011/TTLT-VKSTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH. [21] Thoát án tử sau hai lần bị tuyên tử hình, http://laodong.com.vn/phap-luat/thoat-an-tu-sau-hai-lan-bi-tuyen-tu-hinh-169700.bld, truy cập ngày 04/03/2017. [22] Điều 471 Bộ luật TTHS năm 2015. [23] Điều 37 CRC; GC No. 10, đoạn 78-89; Xem thêm Human Rights Committee, General Comment No. 8 (1982). [24] Khoản 4 Điều 91 BLHS năm 2015. [25] Cụ thể: a) Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng, trừ trường hợp quy định tại Điều 134 (tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác); Điều 141 (tội hiếp dâm); Điều 171 (tội cướp giật tài sản); Điều 248 (tội sản xuất trái phép chất ma túy); Điều 249 (tội tàng trữ trái phép chất ma túy); Điều 250 (tội vận chuyển trái phép chất ma túy); Điều 251 (tội mua bán trái phép chất ma túy); Điều 252 (tội chiếm đoạt chất ma túy) của Bộ luật này; b) Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý quy định tại khoản 2 Điều 12 của Bộ luật này, trừ trường hợp quy định tại Điều 123 (tội giết người); Điều 134, các khoản 4, 5 và khoản 6 (tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác); Điều 141 (tội hiếp dâm), Điều 142 (tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi); Điều 144 (tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi); Điều 150 (tội mua bán người); Điều 151 (tội mua bán người dưới 16 tuổi); Điều 168 (tội cướp tài sản); Điều 171 (tội cướp giật tài sản); Điều 248 (tội sản xuất trái phép chất ma túy); Điều 249 (tội tàng trữ trái phép chất ma túy); Điều 250 (tội vận chuyển trái phép chất ma túy); Điều 251 (tội mua bán trái phép chất ma túy); Điều 252 (tội chiếm đoạt chất ma túy) của Bộ luật này; c) Người dưới 18 tuổi là người đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể trong vụ án. [26] Phạm Thị Thanh Nga, The Rights of the Child in Judicial Sector in Vietnam: Compliance with International Legal Standards, University of Wollongong, http://ro.uow.edu.au/theses/4524, (2015) p. 194. Nguyễn Tiến Đức  ThS. Viện Nhà nước và Pháp luật – Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam. Link bài viết: http://www.nclp.org.vn/nha_nuoc_va_phap_luat/nguyen-tac-vi-loi-ich-tot-nhat-cua-tre-em-trong-phap-luat-hinh-su-viet-nam  
Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một chính sách bảo đảm quyền con người, quyền công dân và là một bộ phận của tổng thể các chính sách xóa đói, giảm nghèo, đền ơn, đáp nghĩa, chính sách dân tộc và ưu đãi xã hội của Đảng và Nhà nước ta. Nhiệm vụ này được giao cho Ngành Tư pháp triển khai từ năm 1997 theo Quyết định số 734/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Luật TGPL lần đầu tiên được Quốc hội ban hành vào năm 2006 và qua 10 năm triển khai đã đạt được những thành quả đáng kể trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người nghèo, đối tượng chính sách và các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, đứng trước yêu cầu phát triển mới của đất nước, yêu cầu triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013 và nhiều đạo luật quan trọng mới được Quốc hội ban hành, tăng cường cải cách pháp luật, cải cách tư pháp và không còn nguồn hỗ trợ kinh phí từ các dự án quốc tế, do đó đã đặt ra yêu cầu điều chỉnh thể chế để đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của công tác TGPL. Do đó, ngày 20/6/2017, Quốc hội khóa XIV đã tiếp tục ghi nhận vị trí, vai trò công tác TGPL bằng việc thông qua Luật TGPL với tỷ lệ 100% đại biểu có mặt tán thành. Sự ra đời của Luật TGPL năm 2017 đã đánh dấu mốc quan trọng trong việc hoàn thiện thể chế công tác TGPL nói riêng và triển khai Hiến pháp năm 2013 về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân nói chung. Qua đó tiếp tục khẳng định TGPL là một yếu tố quan trọng trong hệ thống tư pháp hình sự, là trách nhiệm của Nhà nước trong bảo đảm quyền con người, quyền công dân cho đối tượng được TGPL. Bài viết xin giới thiệu một số điểm mới và các hoạt động triển khai thi hành Luật Trợ giúp pháp lý như sau: I. MỘT SỐ ĐIỂM MỚI CỦA LUẬT TRỢ GIÚP PHÁP LÝ NĂM 2017 Luật TGPL số 11/2017/QH14 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018 và thay thế Luật Trợ giúp pháp lý số 69/2006/QH11 sẽ mở ra một giai đoạn mới cho công tác TGPL với nhiều nội dung mới nổi bật. Luật TGPL được xây dựng xuất phát từ tinh thần lấy người được TGPL làm trung tâm nhằm mục tiêu nâng cao chất lượng dịch vụ TGPL theo hướng chuyên nghiệp hóa, sử dụng hiệu quả các nguồn lực của Nhà nước và xã hội nhằm cung cấp kịp thời dịch vụ pháp lý cho người yếu thế không có khả năng chi trả dịch vụ pháp lý và những người thuộc diện chính sách. Luật TGPL được bố cục thành 8 chương, 48 điều quy định về người được TGPL, tổ chức thực hiện TGPL, người thực hiện TGPL, hoạt động TGPL và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân đối với hoạt động TGPL. 1. Luật đã khẳng định rõ nét hơn trách nhiệm của Nhà nước trong công tác TGPL và có sự phân biệt hoạt động này với dịch vụ pháp lý thiện nguyện của các tổ chức xã hội - Luật TGPL năm 2006 đã quy định TGPL là trách nhiệm của Nhà nước. Bên cạnh đó, trong các Bộ luật, luật về tố tụng mới được Quốc hội ban hành thời gian gần đây cũng đã ghi nhận, khẳng định vấn đề này (như khoản 3 Điều 19 Luật Tố tụng hành chính; khoản 3 Điều 9 Bộ luật Tố tụng dân sự[1]; khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự[2]). Tuy nhiên đến các quy định của Luật TGPL năm 2017 đã làm rõ nét hơn nội dung TGPL là trách nhiệm của Nhà nước với những nội dung cụ thể như sau: + Luật có 01 điều quy định về vấn đề này với tiêu đề "Chính sách của Nhà nước về trợ giúp pháp lý" (Điều 4), thể hiện rõ hơn so với tên điều "Chính sách trợ giúp pháp lý" quy định Điều 6 Luật TGPL năm 2006. Nội dung Điều 4 đã làm rõ vai trò của Nhà nước, qua đó bảo đảm được bản chất, mục tiêu đặt ra trong công tác này. Tại khoản 1 Điều 4 đã khẳng định một lần nữa "TGPL là trách nhiệm của Nhà nước", do đó với tư cách là một trong những phương thức để bảo vệ quyền con người, quyền công dân, đòi hỏi Nhà nước có các chính sách để bảo đảm quyền được TGPL nhằm đáp ứng nhu cầu tiếp cận pháp luật ngày càng cao của người dân. Trong việc cung cấp dịch vụ đó phải đặt vấn đề chất lượng là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu, do đó Nhà nước cần có chính sách để nâng cao chất lượng dịch vụ TGPL. Bên cạnh đó, trách nhiệm của Nhà nước còn thể hiện ở chỗ có chính sách thu hút các nguồn lực thực hiện TGPL và hỗ trợ, khuyến khích, ghi nhận và tôn vinh các tổ chức, cá nhân tham gia, đóng góp, công tác TGPL để khích lệ sự tham gia nhiều hơn nữa của các lực lượng xã hội đối với hoạt động TGPL. Bằng các quy định cụ thể trong Luật đã tạo điều kiện cho các cá nhân, tổ chức có đủ điều kiện, tiêu chuẩn tham gia thực hiện TGPL và các chủ thể này khi ký hợp đồng thực hiện TGPL được Nhà nước chi trả thù lao thực hiện vụ việc. + So với Luật TGPL năm 2006, Luật TGPL năm 2017 đã bổ sung 01 Điều (Điều 5) quy định về nguồn tài chính cho công tác TGPL, theo đó bao gồm nguồn ngân sách nhà nước; đóng góp, tài trợ của tổ chức, cá nhân trong nước, ngoài nước và các nguồn hợp pháp khác. Nhà nước bố trí kinh phí trong dự toán ngân sách hằng năm của cơ quan thực hiện quản lý nhà nước về TGPL theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước. Đồng thời, đối với các tỉnh chưa tự cân đối được ngân sách, Luật quy định việc ưu tiên bố trí ngân sách từ số bổ sung cân đối ngân sách hằng năm để hỗ trợ cho việc thực hiện vụ việc TGPL phức tạp, điển hình. Đây là điểm mới quan trọng so với Luật TGPL năm 2006, khẳng định trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm cho người thuộc diện TGPL được giúp đỡ pháp lý khi họ có các vụ việc TGPL cụ thể, đồng thời nhằm khắc phục phục phần nào tình trạng bỏ sót nhu cầu TGPL của người dân, qua đó thể hiện cam kết của Nhà nước trong việc bảo đảm quyền được TGPL được thực thi trên thực tế. - Một vấn đề nữa là, ở nước ta chưa có cách hiểu rõ ràng về TGPL (tiếng Anh là từ legal aid) và dịch vụ pháp lý miễn phí, thiện nguyện (tiếng Anh là từ probono); về trách nhiệm của Nhà nước đối với dịch vụ TGPL. Do đó, các quy định của pháp luật hiện hành về TGPL và dịch vụ pháp lý thiện nguyện của luật sư, các tổ chức xã hội chưa phân định cụ thể giữa hai dịch vụ này, dẫn đến trong thực tế việc áp dụng pháp luật chưa thống nhất, hạn chế hiệu quả quản lý, kết quả, chất lượng dịch vụ. Luật TGPL năm 2017 cũng đưa ra khái niệm TGPL đi vào bản chất của dịch vụ, cụ thể tại Điều 2: "TGPL là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người được TGPL trong vụ việc TGPL theo quy định của Luật này, góp phần bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong tiếp cận công lý và bình đẳng trước pháp luật". Với khái niệm này, TGPL được nêu lên với bản chất và đặc điểm sau: (1) TGPL là cung cấp vụ việc, (2) mục đích trực tiếp là bảo vệ quyền con người, quyền công dân. Cùng với quy định tại khoản 1 Điều 30 đã nêu rõ yêu cầu TGPL chỉ được thụ lý khi có vụ việc cụ thể liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của người được TGPL, điều này sẽ dần đưa hoạt động TGPL đi đúng bản chất là cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí trong các vụ việc cụ thể như khái niệm nêu tại Điều 2. Như vậy, với những quy định khẳng định rõ nét vai trò của Nhà nước trong công tác TGPL và khái niệm TGPL như đã nêu trên đã có sự phân biệt giữa TGPL và dịch vụ pháp lý thiện nguyện của các cá nhân, tổ chức xã hội. Hoạt động TGPL cần tuân theo các quy định của Luật này về đối tượng, tổ chức và người thực hiện, hình thức, lĩnh vực TGPL… và là trách nhiệm của Nhà nước trong việc tổ chức thực hiện để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho những người thuộc diện được TGPL. Việc cung cấp dịch vụ pháp lý thiện nguyện của xã hội (theo Luật Luật sư, Nghị định số 77/2008/NĐ-CP về tư vấn pháp luật) không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật này. 2. Mở rộng diện người được TGPL theo các nguyên tắc, tiêu chí cụ thể, phù hợp với bản chất của TGPL và điều kiện đặc thù của đất nước  Đây là vấn đề được quan tâm và thảo luận nhiều nhất trong quá trình xây dựng Luật TGPL năm 2017. Qua nhiều lần thảo luận và ý kiến góp ý của các đại biểu Quốc hội, các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan, Quốc hội đã thống nhất việc xác định diện người được TGPL cần phải dựa trên những nguyên tắc, tiêu chí cụ thể, phù hợp với đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật hiện hành và điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước. Theo đó, việc quy định người được TGPL dựa trên 02 nguyên tắc, tiêu chí sau đây: Một là, thực hiện chính sách của Đảng và Nhà nước về đền ơn đáp nghĩa đối với người có công với cách mạng; chính sách dân tộc; chính sách hình sự đối với người dưới 18 tuổi bị buộc tội, chính sách chăm sóc và bảo vệ trẻ em. Đây là những đặc thù của Việt Nam trong việc thực hiện các chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Hai là, trợ giúp đối với một số nhóm đối tượng yếu thế nhất trong xã hội có khó khăn về tài chính, không đủ khả năng chi trả thù lao cho luật sư cung cấp dịch vụ pháp lý. Đây là bản chất của hoạt động TGPL đã được nhiều nước công nhận trên thế giới. So với Luật TGPL năm 2006 chỉ quy định 06 diện người được TGPL thì trong bối cảnh kinh tế - xã hội mới của đất nước, tại Điều 7 của Luật TGPL năm 2017 đã mở rộng với 14 diện người được TGPL, thậm chí có diện người kế thừa từ Luật TGPL năm 2006 cũng được phát triển hơn, cụ thể như sau: - Nhóm người được kế thừa hoàn toàn từ Luật TGPL năm 2006 gồm 02 diện là: (1) Người có công với cách mạng (khoản 1); (2) Người thuộc hộ nghèo (khoản 2). - Nhóm người được kế thừa và mở rộng từ Luật TGPL năm 2006 gồm 02 diện là: (1) Trẻ em (khoản 3, được mở rộng từ trẻ em không nơi nương tựa); (2) Người dân tộc thiểu số cư trú tại các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn (khoản 4, được mở rộng từ người dân tộc thiểu số thường trú tại các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn). - Nhóm người được bổ sung mới gồm 02 diện là: (1) Người bị buộc tội từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi (khoản 5, hiện nay đang thuộc trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng phải chỉ định người bào chữa theo quy định Bộ luật Tố tụng hình sự); (2) Người bị buộc tội thuộc hộ cận nghèo. - Nhóm người áp dụng điều kiện có khó khăn về tài chính đối với 08 diện tại khoản 6 là:(1) Cha đẻ, mẹ đẻ, vợ, chồng, con của liệt sĩ và người có công nuôi dưỡng khi liệt sĩ còn nhỏ; (2) người nhiễm chất độc da cam; (3) người cao tuổi; (4) người khuyết tật; (5) người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi là bị hại trong vụ án hình sự; (6) nạn nhân trong vụ việc bạo lực gia đình; (7) nạn nhân của hành vi mua bán người theo quy định của Luật Phòng, chống mua bán người; (8) người nhiễm HIV để cung cấp cho những người thực sự có nhu cầu nhưng không có khả năng tài chính để thuê dịch vụ pháp lý. Điều kiện khó khăn về tài chính sẽ được quy định tại Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết Luật TGPL. Như vậy, đối với nhóm người này phải đáp ứng hai điều kiện: Có khó khăn về tài chính theo hướng dẫn của Chính phủ và thuộc một trong tám diện người nêu trên. Có thể thấy việc mở rộng diện đối tượng TGPL nêu trên đã thể hiện rõ nét chính sách nhân văn, sự quan tâm toàn diện của Đảng và Nhà nước đối với các đối tượng chính sách và đối tượng yếu thế. Khi đáp ứng được đầy đủ, chất lượng nhu cầu TGPL của các diện người được quy định trong Luật cũng sẽ góp phần thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội mà Đảng và Nhà nước đã đề ra. 3. Nâng cao chất lượng dịch vụ và chuyên nghiệp hóa hoạt động TGPL thông qua việc chuẩn hóa đội ngũ người thực hiện TGPL, quy định tiêu chuẩn tham gia thực hiện TGPL đối với tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức tư vấn pháp luật và quản lý chất lượng vụ việc TGPL Qua đánh giá tổng kết 08 năm thi hành Luật TGPL năm 2006, cho thấy chất lượng vụ việc TGPL nhiều lúc còn chưa được bảo đảm, chưa chuyên nghiệp, chưa được xã hội đánh giá cao. Có thể nói một trong những nguyên nhân dẫn đến thực trạng đó là do trình độ, năng lực của người thực hiện TGPL, tổ chức thực hiện TGPL chưa cao. Bên cạnh đó vấn đề nhận thức chưa đúng về hoạt động TGPL khi cho rằng đây là hoạt động miễn phí nên chất lượng không cần cao, ngoài ra cơ chế quản lý chất lượng, việc kiểm tra, giám sát, đánh giá chất lượng vụ việc TGPL chưa được chú trọng, mang tính hình thức. Nhận diện được vấn đề đó, nâng cao chất lượng dịch vụ TGPL là một trong những mục tiêu được quan tâm, xuyên suốt khi triển khai Đề án đổi mới công tác TGPL giai đoạn 2015 - 2025 và cho đến khi xây dựng, thông qua Luật TGPL năm 2017. Để đạt được mục tiêu này Luật TGPL năm 2017 đã có các quy định chuẩn hóa đội ngũ người thực hiện TGPL, quy định tiêu chuẩn đối với tổ chức tham gia TGPL và quản lý chất lượng vụ việc TGPL, cụ thể: a) Về người thực hiện TGPL Theo quy định tại khoản 1 Điều 17 người thực hiện TGPL bao gồm 04 nhóm chủ thể như sau: (1) Trợ giúp viên pháp lý, (2) luật sư thực hiện TGPL theo hợp đồng với Trung tâm TGPL nhà nước và theo phân công của tổ chức tham gia TGPL; tư vấn viên pháp luật có 02 năm kinh nghiệm tư vấn pháp luật trở lên làm việc tại tổ chức tham gia; (4) cộng tác viên TGPL. Với quan điểm nâng cao chất lượng dịch vụ TGPL và phát triển công tác này theo hướng chuyên nghiệp hóa, Luật đã chuẩn hóa, nâng cao tiêu chuẩn đội ngũ Trợ giúp viên pháp lý như luật sư, bổ sung tiêu chuẩn phải trải qua tập sự nghề (trợ giúp pháp lý hoặc luật sư) tại khoản 3 Điều 19. Điều này là rất cần thiết để chuyên viên pháp lý có thời gian vận dụng kiến thức, giúp họ hoàn thiện những kỹ năng, đặc biệt là kỹ năng tham gia tố tụng để tự tin cung cấp dịch vụ pháp lý khi được bổ nhiệm Trợ giúp viên pháp lý. Việc tập sự TGPL tương tự như tập sự luật sư với tư cách là một dịch vụ pháp lý tương đương. Đồng thời, Luật tiếp tục ghi nhận sự tham gia của đội ngũ luật sư, tư vấn viên pháp luật có kinh nghiệm đang hoạt động có hiệu quả, đồng thời chọn lọc những người có kiến thức pháp luật, kinh nghiệm thực tiễn và bảo đảm về mặt thời gian tham gia TGPL để làm cộng tác viên TGPL một cách thực chất, hiệu quả. Quy định này nhằm chuẩn hóa đội ngũ người thực hiện TGPL, xuất phát từ thực trạng khi triển khai Luật TGPL năm 2006 cộng tác viên TGPL có trình độ không đồng đều, kể cả những người không có trình độ pháp luật như già làng, trưởng bản... cũng được thực hiện TGPL; số lượng Cộng tác viên TGPL tuy đông nhưng lại thực hiện ít vụ việc TGPL. Với những người thực hiện TGPL có trình độ, kinh nghiệm như quy định của Luật vừa thể hiện xu hướng đa dạng hóa chủ thể cung cấp dịch vụ pháp lý, vừa có tính kế thừa Luật hiện hành, đặc biệt là đã bảo đảm nâng cao chất lượng dịch vụ TGPL. Qua đó sẽ tạo sự tin tưởng từ người được TGPL đối với người thực hiện TGPL và góp phần nâng cao được vị trí, vai trò của công tác TGPL trong xã hội. Ngoài ra, trong quá trình xây dựng Dự án Luật này cũng có nhiều ý kiến đề nghị chuyển đổi chức danh Trợ giúp viên pháp lý thành luật sư công cho đúng phù hợp với bản chất. Tuy nhiên, nếu thay đổi tên gọi từ “trợ giúp viên pháp lý” sang thành “luật sư công” sẽ làm nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp, không đồng bộ với Luật Luật sư, Luật Viên chức và các luật về tố tụng (sửa đổi) vừa mới ban hành. Bởi vì, theo quy định của Luật TGPL thì Trợ giúp viên pháp lý là viên chức nhà nước; nhưng theo quy định của Luật Luật sư thì viên chức lại không được cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư nên không được hành nghề luật sư. Hơn nữa, Trợ giúp viên pháp lý cũng đã được quy định trong các đạo luật về tố tụng. Luật sư công theo pháp luật một số nước, hiểu là luật sư của Nhà nước, thực hiện những công việc do Nhà nước giao, trong đó có thể có hoạt động TGPL. Vì vậy mà trong Luật TGPL năm 2017 vẫn giữ lại chức danh này, vì suy cho cùng chỉ là thay đổi tên gọi, do vậy sẽ tiếp tục nghiên cứu và đề xuất trong giai đoạn mới. b) Về tổ chức tham gia TGPL Luật huy động các tổ chức tham gia TGPL bao gồm tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức tư vấn pháp luật ký kết hợp đồng thực hiện TGPL với Sở Tư pháp thực hiện bằng nguồn kinh phí nhà nước hoặc đăng ký tham gia TGPL bằng nguồn lực của chính tổ chức đó. Việc đa dạng hóa chủ thể cung cấp dịch vụ với các cơ chế này sẽ thu hút và lựa chọn được các tổ chức có các điều kiện đáp ứng yêu cầu TGPL của người dân, vừa bảo đảm yêu cầu quản lý, nâng cao trách nhiệm của tổ chức thực hiện TGPL và sử dụng có hiệu quả kinh phí của Nhà nước. Để khắc phục tình trạng tham gia TGPL một cách hình thức, không hiệu quả của các tổ chức xã hội, khác với Luật TGPL năm 2006, việc tham gia thực hiện TGPL của các tổ chức này phải tuân thủ các điều kiện tối thiểu theo quy định của Luật, phù hợp với tính chất công việc TGPL nhằm bảo đảm chất lượng dịch vụ như tại Điều 14 và Điều 15 của Luật, cụ thể: (1) Có lĩnh vực đăng ký hoạt động phù hợp với lĩnh vực TGPL theo quy định của Luật này; (2) Là tổ chức hành nghề luật sư; tổ chức tư vấn pháp luật có ít nhất 01 tư vấn viên pháp luật có 02 năm kinh nghiệm tư vấn pháp luật trở lên hoặc 01 luật sư làm việc thường xuyên tại tổ chức; (3) Có cơ sở vật chất phù hợp với hoạt động TGPL; (4) Không đang trong thời gian phải thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư, tư vấn pháp luật. Đặc biệt, để ký hợp đồng với các tổ chức có điều kiện tốt nhất cung cấp dịch vụ TGPL Sở Tư pháp sẽ tổ chức lựa chọn theo một quy trình chặt chẽ phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương. Hơn nữa, Luật có cơ chế trả thù lao cho các tổ chức ký hợp đồng thực hiện TGPL nhằm khuyến khích sự tham gia TGPL có chất lượng hơn của các tổ chức này. Điều này đã khắc phục được phần nào bất cập trong việc tham gia và chất lượng việc tham gia một cách hình thức, không chất lượng của các tổ chức trong thời gian qua. Như vậy, không phải bất kỳ tổ chức, cá nhân nào có nguyện vọng đều được cung cấp dịch vụ TGPL như Luật năm 2006. Theo Luật TGPL năm 2017, để được cung cấp dịch vụ TGPL, các tổ chức, cá nhân cần đáp ứng yêu cầu, điều kiện tối thiểu do Luật định để bảo đảm chất lượng dịch vụ họ cung cấp. Có thể nói, với những quy định chặt chẽ ngay từ khi xác định các tổ chức, cá nhân có quyền cung cấp dịch vụ TGPL, Nhà nước đã thể hiện cam kết mạnh mẽ trong việc cung cấp dịch vụ pháp lý có chất lượng cho người nghèo, đối tượng chính sách và các đối yếu thế khác trong xã hội. Đồng thời, việc huy động các tổ chức tham gia thực hiện TGPL thông qua cơ chế ký hợp đồng TGPL sẽ tạo sự cạnh tranh giữa các tổ chức thực hiện TGPL, từ đó nâng cao chất lượng dịch vụ TGPL của các tổ chức thực hiện TGPL nói chung, Trung tâm TGPL nhà nước nói riêng. c) Quản lý chất lượng vụ việc TGPL  Một trong những bất cập của công tác quản lý đối với hoạt động TGPL là việc nắm bắt thông tin về tổ chức và các mặt hoạt động TGPL, đặc biệt là chất lượng TGPL chưa thật sự hiệu quả, thủ công, chưa ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin trong quản lý, điều hành. Luật TGPL năm 2017 đặt ra yêu cầu đối với việc nâng cao hiệu quả công tác quản lý đối với hoạt động này, nhất là quản lý chất lượng vụ việc TGPL thông qua quy định hồ sơ điện tử của từng vụ việc TGPL được số hóa, cập nhật vào hệ thống quản lý vụ việc TGPL và lưu trữ tại cơ sở dữ liệu về TGPL (Điều 39). Thời gian tới, phần mềm quản lý tổ chức và hoạt động TGPL cần được nghiên cứu để có những cải tiến toàn diện, đáp ứng yêu cầu quản lý, điều hành trong điều kiện mới. Bên cạnh đó, Luật cũng giao Bộ Tư pháp có nhiệm vụ tổ chức việc thẩm định, đánh giá chất lượng vụ việc TGPL (khoản 2 Điều 42). Để thực hiện nhiệm vụ này Bộ Tư pháp sẽ có kế hoạch xây dựng quy định về quy trình, thủ tục đánh giá, yêu cầu đối với người đánh giá, quy trình đánh giá chặt chẽ. Nếu như nâng cao tiêu chuẩn đội ngũ người thực hiện TGPL và tổ chức thực hiện TGPL là khâu "đầu vào" thì việc tăng cường quản lý chất lượng vụ việc TGPL trong suốt quá trình thực hiện và đánh giá chất lượng vụ việc được coi là khâu "đầu ra" nhằm đánh giá toàn diện chất lượng của một dịch vụ. 4. Tập trung thực hiện vụ việc TGPL theo đúng bản chất của hoạt động TGPL Để khắc phục tình trạng dàn trải trong triển khai công tác TGPL, thiếu trọng tâm, trọng điểm, sử dụng không có hiệu quả nguồn lực, không đạt được bản chất, mục đích của TGPL là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người được TGPL trong các vụ việc cụ thể, tại khoản 2 Điều 27 Luật TGPL năm 2017 quy định 03 hình thức TGPL bao gồm: tham gia tố tụng, tư vấn pháp luật và đại diện ngoài tố tụng (mà không quy định “các hình thức TGPL khác”). Định hướng tập trung thực hiện vụ việc TGPL đã được Bộ Tư pháp chỉ đạo triển khai từ khi triển khai Đề án Đổi mới công tác TGPL giai đoạn 2015 - 2025 đến nay và tạo nên sự chuyển biến rất tích cực trong hoạt động TGPL. Hầu hết Trợ giúp viên pháp lý đã có nhận thức đầy đủ và đúng đắn về nhiệm vụ trong tâm của công tác TGPL, tích cực hơn trong việc trau dồi chuyên môn, nghiệp vụ, đặc biệt là kỹ năng tham gia tố tụng, số lượng và chất lượng các vụ việc tố tụng tăng lên và dần được các cơ quan tiến hành tố tụng ghi nhận. Đồng thời, Luật TGPL năm 2017 cũng đã chỉnh tinh nội hàm của các hình thức TGPL bảo đảm hoạt động đi đúng trọng tâm, bản chất. Ngoài ra, Luật cũng đặt ra yêu cầu đối với đội ngũ Trợ giúp viên pháp lý là viên chức nhà nước tập trung thực hiện vụ việc tố tụng thông qua quy định Trợ giúp viên pháp lý không thực hiện vụ việc tham gia tố tụng trong thời gian 02 năm liên tục sẽ bị miễn nhiệm, trừ trường hợp do nguyên nhân khách quan (Điểm d khoản 1 Điều 22). Trong quá trình xây dựng Dự án Luật này có nhiều ý kiến đề nghị giữ lại hình thức TGPL lưu động. Tuy nhiên, về bản chất đây không phải là hình thức TGPL mà là cách thức tổ chức thực hiện TGPL ngoài trụ sở Trung tâm TGPL nhà nước và nội dung này đã được quy định tại khoản 1 Điều 28 Luật. Trong quá trình thực hiện Luật, Bộ Tư pháp sẽ hướng dẫn cụ thể việc thực hiện nghiệp vụ này để bảo đảm đưa TGPL đến được với người dân. Tuy nhiên, cần có sự thay đổi nhận thức, TGPL lưu động là việc người thực hiện TGPL đi đến để tiếp nhận và thực hiện vụ việc TGPL, khác với cách triển khai như thời gian qua đã dẫn đến việc chồng lấn với hoạt động giáo dục, phổ biến pháp luật gây lãng phí nguồn lực con người và tài chính của Nhà nước. 5. Bổ sung các quy định về trình tự thực hiện TGPL tạo điều kiện thuận lợi cho người được TGPL, nhất là việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp lý trong hoạt động tố tụng. Nhằm khắc phục thực tiễn về một số thủ tục tiếp nhận, thực hiện TGPL chưa thuận lợi, Luật TGPL năm 2017 đã bổ sung nhiều quy định mới nhằm tạo thuận lợi cho người dân tiếp cận và sử dụng dịch vụ, ứng dụng công nghệ thông tin, qua đó tăng cường cơ chế bảo đảm quyền được TGPL, như: quy định phải công bố danh sách người thực hiện TGPL, tổ chức thực hiện TGPL để người dân biết và thực hiện quyền lựa chọn của mình (khoản 2 Điều 10 và khoản 2 Điều 17); ngoài hình thức nộp đơn trực tiếp, gửi qua đường bưu điện, người dân có thể nộp đơn yêu cầu qua hình thức điện tử, fax để tiết kiệm thời gian và chi phí đi lại (điểm b và điểm c khoản 2 Điều 29); có thể yêu cầu TGPL thông qua người thân thích, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác (khoản 2 Điều 8); thụ lý giải quyết ngay khi người yêu cầu chưa thể cung cấp hồ sơ theo quy định nhưng cần thực hiện TGPL ngay như vụ việc sắp hết thời hiệu, sắp đến ngày xét xử (khoản 4 Điều 30). Điểm mới này thể hiện rõ nét quan điểm lấy người được TGPL làm trung tâm, Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi tối đa để người dân biết và thực hiện quyền của mình, bảo đảm trong những vụ việc cụ thể thì quyền và lợi ích hợp pháp của người được TGPL được bảo vệ kịp thời. 6. Nâng cao vai trò của Sở Tư pháp thông qua việc ký hợp đồng với các tổ chức tham gia thực hiện trợ giúp pháp lý Có thể nói, vai trò của Sở Tư pháp trong việc giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện quản lý nhà nước về TGPL ở địa phương được nâng lên rõ nét thông qua quy định giao cho Sở Tư pháp thẩm quyền lựa chọn ký hợp đồng thực hiện TGPL (khoản 1 và khoản 2 Điều 14). Thông qua việc quản lý, đánh giá hoạt động của Trung tâm TGPL nhà nước và nắm bắt yêu cầu TGPL tại địa phương quyết định việc lựa chọn, ký hợp đồng thực hiện TGPL với các tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức tư vấn pháp luật có nguyện vọng, đáp ứng các điều kiện tối thiểu của Luật nhằm tăng cường khả năng đáp ứng nhu cầu TGPL, tránh việc bỏ sót người được TGPL khi họ cần giúp đỡ pháp lý. Việc lựa chọn sẽ được thực hiện thông qua quy trình chặt chẽ, tạo tiền đề cho việc cung cấp dịch vụ pháp lý có chất lượng. Để thực hiện nhiệm vụ này, hàng năm Sở Tư pháp phải dự toán kinh phí để ký kết hợp đồng với các tổ chức xã hội thực hiện TGPL. 7. Tăng cường cơ chế phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức có liên quan đến hoạt động TGPL, đặc biệt quy định rõ hơn trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng Luật này không chỉ quy định trách nhiệm quản lý nhà nước của Chính phủ, Bộ Tư pháp, Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh mà còn quy định trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức khác như các cơ quan có liên quan đến hoạt động trợ giúp pháp lý trong tố tụng, các cơ quan nhà nước có liên quan, tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư, tổ chức chủ quản của tổ chức tư vấn pháp luật nhằm tăng cường cơ chế phối hợp để bảo đảm quyền được TGPL, nâng cao chất lượng dịch vụ và quản lý nhà nước về TGPL, cụ thể: a) Luật TGPL quy định rõ trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng phối hợp tạo điều kiện cho người được TGPL được hưởng quyền TGPL, tạo điều kiện cho người thực hiện TGPL tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật. - Hiện nay, Thông tư liên tịch số 11/2013/TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC-VKSNDTC-TANDTC ngày 04/7/2013 hướng dẫn thực hiện một số quy định của pháp luật về TGPL trong hoạt động tố tụng đã quy định trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc phối hợp thực hiện TGPL. Tuy nhiên, qua thực tiễn triển khai, ở một số nơi vẫn còn tình trạng các cơ quan tiến hành tố tụng chưa thực sự phối hợp tốt để tạo điều kiện để người được TGPL được thụ hưởng quyền của mình như cán bộ tiếp công dân, người tiến hành tố tụng chưa chú trọng đến việc hướng dẫn, giải thích về quyền được TGPL; cơ quan tiến hành tố tụng chưa thực hiện việc thông báo lịch xét xử bằng văn bản hoặc giao nhưng chưa kịp thời các quyết định tố tụng cho tổ chức và người thực hiện TGPL... Việc bổ sung quy định về trách nhiệm phối hợp của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công án và các cơ quan tiến hành tố tụng ở tầm Luật TGPL (Điều 41) sẽ giúp khắc phục những bất cập nêu trên, dần bảo đảm quyền được TGPL trên thực tế, trạnh bỏ sót người được TGPL có nhu cầu. - Khoản 3 Điều 31 Luật TGPL quy định trong thời hạn 12 giờ kể từ thời điểm nhận được yêu cầu TGPL của người bị bắt, người bị tạm giữ hoặc trong thời hạn 24 giờ kể từ thời điểm nhận được yêu cầu TGPL của bị can, bị cáo, người bị hại là người được TGPL theo quy định của pháp luật về tố tụng, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm thông báo cho Trung tâm TGPL nhà nước tại địa phương. Quy định này cụ thể hơn về trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng đã được ghi nhận tại Điều 75 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, đồng thời cũng bảo đảm để Trung tâm TGPL nhà nước cử người thực hiện TGPL kịp thời trong thời hạn tạm giữ, tạm giam theo quy định pháp luật tố tụng. Đây là những nội dung quan trọng trong bối cảnh Bộ luật Tố tụng hình sự quy định việc chỉ định người bào chữa mở rộng cho những bị can, bị cáo về tội có khung hình phạt là 20 năm tù thì số lượng vụ việc TGPL được cơ quan tiến hành tố tụng giới thiệu sẽ tăng lên. b) Đối với các cơ quan nhà nước có liên quan, Luật quy định trong quá trình thực thi nhiệm vụ, quyền hạn của mình nếu phát hiện công dân thuộc diện được TGPL, cơ quan nhà nước có trách nhiệm giải thích quyền được TGPL và giới thiệu đến tổ chức thực hiện TGPL (Điều 42). Đối với tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư, tổ chức chủ quản của tổ chức tư vấn pháp luật sẽ phối hợp trong việc quản lý, giám sát việc thực hiện TGPL của luật sư, tư vấn viên pháp luật, tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức tư vấn pháp luật (Điều 43 và Điều 44). 8. Sắp xếp, tinh gọn các Chi nhánh của Trung tâm TGPL của Nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, quy định chặt chẽ điều kiện thành lâp Chi nhánh Từ tổng kết thực tiễn thi hành Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006, nhiều Chi nhánh được thành lập nhưng thiếu nguồn lực hoạt động hoặc kết quả hoạt động không cao, đồng thời thực hiện chủ trương tinh giản biên chế, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức theo Nghị quyết số 39-NQ/TW của Bộ Chính trị, Luật TGPL đã quy định trong 01 năm kể từ ngày Luật này có hiệu lực, địa phương phải thực hiện việc rà soát, sắp xếp lại, sáp nhập hoặc giải thể các Chi nhánh đã được thành lập để bảo đảm hiệu quả hoạt động (khoản 4 Điều 48). Chỉ trong trường hợp thực sự cần thiết để đáp ứng nhu cầu của nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập mới Chi nhánh theo những điều kiện chặt chẽ, tránh việc thành lập tràn lan nhưng hiệu quả hoạt động thấp. Cụ thể, Chi nhánh chỉ được thành lập tại các huyện ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, giao thông không thuận tiện đến Trung tâm TGPL nước, chưa có tổ chức hành nghề luật sư hoặc tổ chức tư vấn pháp luật tham gia TGPL (khoản 2 Điều 11). Như vậy, với những điểm mới nêu trên, Luật TGPL tạo khuôn khổ pháp lý cho sự phát triển bền vững công tác TGPL theo hướng chuyên nghiệp, sử dụng hiệu quả các nguồn lực của Nhà nước và xã hội để cung cấp kịp thời dịch vụ pháp lý cho người yếu thế không có khả năng chi trả dịch vụ pháp lý và những người thuộc diện chính sách được TGPL, tạo bước chuyển biến căn bản trong việc nâng cao chất lượng dịch vụ TGPL. II. CÁC HOẠT ĐỘNG TRIỂN KHAI LUẬT TRỢ GIÚP PHÁP LÝ NĂM 2017 Thực hiện Chương trình công tác của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ năm 2017, theo sự phân công của Thủ tướng Chính phủ, để triển khai thi hành Luật TGPL kịp thời, thống nhất và hiệu quả, Bộ Tư pháp đã phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và các cơ quan, tổ chức có liên quan xây dựng dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật TGPL. Ngày 12/9/2017, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1355/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật TGPL (Kế hoạch). Theo đó, Kế hoạch đã xác định các nội dung công việc, thời hạn, tiến độ hoàn thành, kết quả đầu ra và trách nhiệm, cơ chế phối hợp của các cơ quan, tổ chức có liên quan trong việc tổ chức triển khai thi hành Luật TGPL kịp thời, đồng bộ, thống nhất, hiệu quả trên phạm vi cả nước, cụ thể như sau: 1. Tổ chức quán triệt, truyền thông về nội dung của Luật TGPL và hoạt động TGPL Đây là một trong những hoạt động quan trọng, cần tăng cường công tác truyền thông về quyền được TGPL và hoạt động TGPL để nâng cao nhận thức của những người có thẩm quyền, cơ quan, tổ chức, cá nhân trong xã hội về bản chất và vai trò của công tác TGPL, từ đó có sự quan tâm thỏa đáng đến công tác TGPL và việc sử dụng dịch vụ TGPL. Nội dung, phương thức của hoạt động truyền thông trong thời gian tới cũng cần phải đổi mới, linh hoạt phù hợp với điều kiện từng vùng, miền, đối tượng. Nội dung Mục này gồm 04 hoạt động bao gồm: - Hoạt động tổ chức biên soạn tài liệu phục vụ công tác quán triệt, phổ biến giáo dục pháp luật về Luật TGPL; tài liệu tập huấn nghiệp vụ TGPL do Bộ Tư pháp chủ trì thực hiện trong Quý III và Quý IV năm 2017. - Hoạt động tổ chức hội nghị quán triệt những điểm mới của Luật TGPL do Bộ Tư pháp chủ trì thực hiện ở Trung ương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chủ trì thực hiện ở địa phương trong Quý III - Quý IV năm 2017. Bộ Tư pháp đã tổ chức thành công Hội nghị quán triệt, thi hành Luật TGPL năm 2017 hai miền tại thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh với sự tham gia của các Bộ, ngành, cơ quan, tổ chức, đặc biệt là các Sở Tư pháp, Trung tâm TGPL trên toàn quốc. - Hoạt động tổ chức truyền thông về những nội dung cơ bản và điểm mới của Luật TGPL và hoạt động TGPL trên các phương tiện thông tin đại chúng và các hình thức khác, do Bộ Tư pháp chủ trì thực hiện ở Trung ương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chủ trì thực hiện ở địa phương từ Quý IV năm 2017 và các năm tiếp theo. - Hoạt động tổ chức truyền thông về Luật TGPL bằng các hình thức, nội dung phù hợp điều kiện thực tế theo từng đối tượng ở các Bộ, ngành, địa phương, do Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, các Bộ, ngành có liên quan ở Trung ương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ở địa phương tùy từng điều kiện tổ chức thực hiện trong thời gian Quý IV năm 2017 và năm 2018. 2. Tổ chức rà soát các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành liên quan đến hoạt động TGPL Kế hoạch xác định nhiệm vụ của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, các cơ quan có liên quan trực tiếp thực hiện rà soát và gửi kết quả rà soát về Bộ Tư pháp, Bộ Tư pháp làm đầu mối tổng hợp kết quả rà soát, báo cáo Thủ tướng Chính phủ. Ở địa phương, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện việc rà soát các văn bản quy phạm pháp luật do địa phương ban hành. Công việc rà soát cần được triển khai ngay và hoàn thành vào Quý IV năm 2017, xây dựng báo cáo Quý I năm 2018 nhằm bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật về TGPL. 3. Xây dựng các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật TGPL; sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc ban hành mới các văn bản quy phạm pháp luật liên quan để bảo đảm phù hợp với Luật TGPL Để bảo đảm triển khai Luật TGPL kịp thời, công tác xây dựng thể chế cần được tiếp tục chú trọng để có hệ thống các văn bản hướng dẫn thi hành đồng bộ và khả thi, cụ thể: - Luật TGPL đã giao cho Chính phủ và Bộ trưởng Bộ Tư pháp có trách nhiệm quy định chi tiết một số điều của Luật. Do đó, Bộ Tư pháp có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành, cơ quan, tổ chức có liên quan tham mưu trình Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật TGPL và ban hành Thông tư quy định chi tiết một số điều và hướng dẫn thi hành Luật TGPL, các văn bản này phải ban hành trong Quý IV năm 2017 để bảo đảm hiệu lực thi hành đồng thời với Luật. Hiện nay, Bộ Tư pháp đang gấp rút hoàn thiện để trình ban hành trong tháng 10/2017. - Kế hoạch còn giao Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tài chính, Bộ Quốc phòng ban hành Thông tư liên tịch về việc phối hợp, hướng dẫn thực hiện một số quy định của pháp luật về TGPL trong hoạt động tố tụng trong Quý II năm 2018; giao Bộ Tài chính chủ trì xây dựng và ban hành Thông tư hướng dẫn về việc lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí trong hoạt động TGPL trong Quý II năm 2018. Ngoài ra, trên cơ sở việc rà soát văn bản quy phạm pháp luật về TGPL, Kế hoạch đề nghị Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, giao Bộ Tư pháp, các Bộ, cơ quan ngang Bộ trong phạm vi, nhiệm vụ, quyền hạn ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ các văn bản quy phạm pháp luật cho phù hợp với Luật trong năm 2018 và năm 2019. 4. Nâng cấp và vận hành trang thông tin điện tử TGPL, phần mềm quản lý tổ chức và hoạt động TGPL Kế hoạch đề ra nhiệm vụ nâng cấp và vận hành trang thông tin điện tử về TGPL và phần mềm quản lý tổ chức và hoạt động TGPL là nhiệm vụ thường xuyên giao Bộ Tư pháp chủ trì thực hiện từ Quý IV năm 2017. Đây là nơi trao đổi thông tin, kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm cho người thực hiện TGPL; là nơi truyền thông, phổ biến về pháp luật TGPL công khai, rộng rãi; phần mềm cập nhật vụ việc làm căn cứ để đánh giá hiệu quả công việc của đội ngũ người thực hiện TGPL. 5. Nâng cao năng lực cho đội ngũ người thực hiện TGPL Để đạt được mục tiêu nâng cao chất lượng dịch vụ TGPL thì cùng với các giải pháp về hoàn thiện thể chế, tăng cường nhận thức của các cơ quan, tổ chức cá nhân,… thì các biện pháp nâng cao năng lực cho những người trực tiếp cung cấp dịch vụ này có vai trò hết sức quan trọng. Trong bối cảnh triển khai Luật TGPL năm 2017 đòi hỏi trước hết là người thực hiện TGPL phải thay đổi nhận thức và cách thức thực hiện TGPL nhằm cung cấp dịch vụ TGPL có chất lượng cho đối tượng được TGPL. Năng lực của người thực hiện TGPL (trình độ chuyên môn, kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm) sẽ gắn liền với chất lượng của các vụ việc TGPL cụ thể, do đó nội dung này rất quan trọng trong việc bảo đảm triển khai thi hành hiệu quả Luật TGPL. - Hoạt động tổ chức tập huấn chuyên sâu các nội dung của Luật TGPL, ở Trung ương do Bộ Tư pháp, ở địa phương do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chủ trì thực hiện nội dung này cho đội ngũ người thực hiện TGPL, cán bộ, công chức thực hiện quản lý nhà nước về TGPL. Đối với việc tổ chức tập huấn chuyên sâu về các nội dung phối hợp trong hoạt động TGPL cho đội ngũ cán bộ, công chức của các Bộ, ngành có liên quan, Kế hoạch đề nghị Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an và các Bộ, ngành có liên quan phối hợp với Bộ Tư pháp, cơ quan, tổ chức có liên quan ở Trung ương; Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phối hợp Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Công an cấp tỉnh và các cơ quan, tổ chức có liên quan ở địa phương chủ trì thực hiện. Các nhiệm vụ này được thực hiện trong Quý IV năm 2017 và Quý I năm 2018. - Hoạt động tổ chức tập huấn, bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ và kỹ năng TGPL cho đội ngũ người thực hiện TGPL, Kế hoạch giao nhiệm vụ thực hiện hằng năm ở Trung ương cho Bộ Tư pháp và ở địa phương cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. 6. Rà soát người thực hiện TGPL, tổ chức thực hiện TGPL và người thuộc diện được TGPL trên địa bàn Kế hoạch giao Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong năm 2018 phải hoàn thành việc rà soát đội ngũ Trợ giúp viên pháp lý được bổ nhiệm để có kế hoạch đào tạo nghề luật sư phù hợp với điều kiện thực tế tại Trung tâm TGPL nhà nước; rà soát Chi nhánh đã được thành lập để có kế hoạch sáp nhập, giải thể các Chi nhánh hoạt động không hiệu quả; rà soát tổ chức tham gia TGPL, người tham gia TGPL theo quy định Luật TGPL năm 2006 để các cá nhân, tổ chức này có kế hoạch hoàn thiện các yêu cầu theo quy định Luật TGPL năm 2017; đồng thời rà soát tổ chức trong tên gọi có sử dụng cụm từ "trợ giúp pháp lý" và đề xuất hướng xử lý. Đây là các nhiệm vụ quan trọng cần được triển khai, hoàn tất trong giai đoạn chuyển tiếp và được quy định trong Luật TGPL năm 2017. Đồng thời, để triển khai hiệu quả Luật TGPL năm 2017, Kế hoạch giao Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong năm 2018 và những năm tiếp theo rà soát luật sư, tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức tư vấn pháp luật có đủ điều kiện tham gia TGPL, rà soát, thống kê số lượng người thuộc diện được TGPL theo quy định của Luật TGPL năm 2017 trên địa bàn để chủ động dự kiến được nguồn lực (nhân lực và kinh phí) thực hiện TGPL, bảo đảm đáp ứng nhu cầu TGPL tại địa phương. 7. Cập nhật, công bố danh sách tổ chức thực hiện TGPL, người thực hiện TGPLtrên địa bàn và các thủ tục hành chính theo quy định của Luật TGPL và các văn bản hướng dẫn thi hành Kế hoạch giao Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chủ trì từ năm 2018 thường xuyên thực hiện nhiệm vụ này để người dân biết và dễ dàng thực hiện các thủ tục cần thiết yêu cầu và sử dụng dịch vụ TGPL, qua đó thực hiện chủ trương minh bạch hóa thủ tục hành chính của Đảng và Nhà nước trong lĩnh vực TGPL. Như vậy, với những nội dung trên sẽ tạo thuận lợi cho các Bộ, ngành, địa phương chủ động trong việc tổ chức triển khai Luật TGPL từ 01/01/2018 và những năm tiếp theo. Ngoài ra, Kế hoạch cũng xác định trách nhiệm cụ thể trong tổ chức thực hiện của các cơ quan, tổ chức như sau: - Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ và Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được phân công trong Kế hoạch này chủ động, tích cực triển khai các nhiệm vụ trong phạm vi quản lý của Bộ, ngành và địa phương mình, bảo đảm đúng tiến độ, chất lượng, hiệu quả và tiết kiệm, tránh hình thức, lãng phí. - Căn cứ nội dung Kế hoạch này và tình hình thực tiễn, Bộ Tư pháp, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xây dựng kế hoạch chi tiết triển khai thi hành Luật TGPL tại Bộ và địa phương. Hiện nay, dự thảo Quyết định của Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật TGPL đang dần hoàn thiện. Vừa qua, ngày 21/9/2017 Bộ trưởng Bộ Tư pháp cũng đã ký Công văn số 3451/BTP-TGPL gửi Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về việc triển khai Luật TGPL, theo đó đã đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quan tâm, chỉ đạo triển khai một số công việc. - Bộ Tài chính, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh bảo đảm bố trí đủ kinh phí để triển khai hiệu quả các nhiệm vụ về TGPL của các Bộ, ngành, địa phương có liên quan được phân công trong Kế hoạch này. Kinh phí thực hiện Kế hoạch được bố trí từ ngân sách nhà nước trong dự toán chi thường xuyên hàng năm và các nguồn khác theo quy định của pháp luật. - Đề nghị Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Liên đoàn Luật sư Việt Nam, Hội Luật gia Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam và các tổ chức có liên quan chỉ đạo các tổ chức trực thuộc ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quán triệt sâu sắc, đầy đủ nội dung Luật TGPL và phối hợp hiệu quả trong công tác TGPL./. - Thanh Trịnh – Cục Trợ giúp pháp lý ________________________________________ [1] quy định Nhà nước có trách nhiệm bảo đảm TGPL cho người được TGPL theo quy định của Luật TGPL để họ thực hiện quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trước Tòa án. [2] quy định cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải yêu cầu, đề nghị Trung tâm TGPL nhà nước cử người bào chữa cho những người thuộc diện TGPL khi họ thuộc các trường hợp chỉ định người bào chữa.   Link bài viết:  http://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/thong-tin-khac.aspx?ItemID=2587  
Công ước La Hay số 33 về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực con nuôi quốc tế (sau đây gọi tắt là Công ước La Hay) là điều ước quốc tế đa phương điều chỉnh việc cho nhận trẻ em làm con nuôi giữa các nước thành viên, được Hội nghị La Hay về tư pháp quốc tế thông qua tại phiên họp thứ 17, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/5/1995. Cho đến nay, có 98 nước bao gồm các nước nhận (nước nhận trẻ em) và các nước gốc (nước cho trẻ em) là thành viên Công ước. Công ước La Hay bắt đầu có hiệu lực ở nước ta từ ngày 01/02/2012, được áp dụng trực tiếp trong thủ tục giải quyết việc nuôi con nuôi quốc tế. Cho đến nay, 14 nước là thành viên Công ước[1] đã thiết lập quan hệ hợp tác về nuôi con nuôi với  Việt Nam, thông qua 37 tổ chức con nuôi nước ngoài được cấp phép hoạt động. Trong giai đoạn 2011 - 2016, 2.322 trẻ em, trong đó 589 trẻ em sống ở gia đình[2] và 1.733 trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt sống ở các cơ sở trợ giúp xã hội[3] được cho làm con nuôi nước ngoài. Kể từ khi thực hiện Công ước, chưa có quyết định cho trẻ em Việt Nam làm con nuôi ở nước ngoài nào bị từ chối công nhận. Việc thực hiện Công ước đã giúp cho nhiều trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt ở các cơ sở trợ giúp xã hội được chăm sóc, nuôi dưỡng trong những gia đình thay thế phù hợp ở nước ngoài trong đó nhiều trẻ em khuyết tật, trẻ em mắc bệnh hiểm nghèo, trẻ em bị nhiễm HIV/AIDS đã được chữa trị bệnh tật, khuyết tật trong điều kiện y tế tiên tiến và hiện đại. Tuy nhiên, việc thực hiện Công ước La Hay vẫn còn gặp phải nhiều khó khăn, vướng mắc dẫn đến số lượng trẻ em được cho làm con nuôi quốc tế giảm mạnh[4], trên thực tế, vẫn còn nhiều trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt ở cơ sở trợ giúp xã hội chưa được quan tâm tìm gia đình thay thế ở trong nước cũng như ở nước ngoài[5]. Đây chính là điểm bất cập lớn trong việc triển khai thi hành Công ước ở nước ta. 1. Những vướng mắc, khó khăn trong việc thực thi Công ước La Hay 1.1. Về cơ chế bảo đảm thực hiện nguyên tắc ưu tiên nuôi con nuôi trong nước Theo Công ước La Hay, ưu tiên nuôi con nuôi trong nước là một trong những nguyên tắc cơ bản trong thủ tục giải quyết nuôi con nuôi quốc tế. Nguyên tắc này được hiểu: Việc nuôi con nuôi quốc tế là giải pháp cuối cùng khi các cơ quan có thẩm quyền ở nước gốc không tìm được gia đình thay thế phù hợp cho trẻ em. Thực hiện tốt nguyên tắc này cũng nhằm thực hiện tốt nguyên tắc lợi ích tốt nhất của trẻ em, và đồng thời tôn trọng các quyền cơ bản khác của trẻ như quyền được sống trong môi trường gia đình gốc; khi việc duy trì gia đình gốc cho trẻ em không thành, trẻ em có quyền được nhận làm con nuôi hoặc được chăm sóc phù hợp ở đất nước của mình6. Ngoài ra, để tuân thủ nguyên tắc này thì việc nuôi con nuôi quốc tế phải được lồng ghép trong hệ thống chăm sóc và bảo vệ trẻ em. Tuy nhiên, quá trình triển khai thực hiện nhiệm vụ này gặp nhiều vướng  mắc, khó khăn: Thứ nhất, về cơ chế chính sách và cơ chế tài chính. Khó khăn vướng mắc đầu tiên trong quá trình thực hiện nguyên tắc này chính là thiếu chính sách hỗ trợ của Nhà nước đối với những trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt như trẻ em mồ côi cả cha lẫn mẹ, trẻ em bị bỏ rơi hoặc trẻ em có các hoàn cảnh đặc biệt khác được nhận làm con nuôi. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 5 Nghị định số 136/2013/NĐ-CP ngày 21/10/2013 của Chính phủ quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội (Nghị định số 136/2013/NĐ-CP), Nhà nước hỗ trợ hàng tháng cho người nhận chăm sóc, nuôi dưỡng đối với trẻ em bị bỏ rơi chưa được nhận làm con nuôi. Như vậy, đối với trẻ em bị bỏ rơi được nhận làm con nuôi thì sẽ không được hưởng chế độ hỗ trợ đối với người nhận trẻ em đó làm con nuôi. Điều này khiến việc nhận con nuôi trong nước đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt ở một số địa phương không phổ biến. Ngoài ra, điểm b khoản 2 Điều 15 Luật Nuôi con nuôi quy định Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm hỗ trợ việc nuôi dưỡng trẻ em và thông báo, niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân trong thời hạn 60 ngày để tìm người nhận trẻ em làm con nuôi. Tuy nhiên, theo Điều 5 Nghị định số 136/2013/NĐ-CP  thì diện trẻ em có cha mẹ đẻ, người thân thích nhưng không có khả năng nuôi dưỡng không thuộc đối tượng hưởng trợ cấp hàng tháng. Nếu hiểu đối tượng trẻ em mồ côi không có người nuôi dưỡng hoặc trẻ em có cha mẹ đẻ, người thân thích không có khả năng nuôi dưỡng thuộc diện trợ giúp đột xuất thì theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 Nghị định số 136/2013/NĐ-CP, kinh phí thực hiện trợ giúp đột xuất lấy từ nguồn ngân sách địa phương tự cân đối theo quy định pháp luật về ngân sách nhà nước. Điều này cho thấy việc Ủy ban nhân dân cấp xã hỗ trợ nuôi dưỡng cho trẻ em cần tìm gia đình thay thế là còn rất khó khăn vì thiếu cơ chế tài chính hỗ trợ cho những đối tượng trẻ em cần tìm gia đình thay thế ở địa phương. Đối với việc tìm gia đình thay thế trong nước trên địa bàn phạm vi tỉnh cho trẻ em ở cơ sở nuôi dưỡng, thì lại không có quy định về kinh phí dành cho Sở Tư pháp để thực hiện việc đăng tin tìm gia đình thay thế trên các phương tiện thông tin đại chúng. Thứ hai, pháp luật hạn chế quyền được tìm gia đình thay thế của trẻ em có điều kiện như nhau trong những hoàn cảnh khác nhau. Qua thực tiễn thi hành pháp luật về nuôi con nuôi cho thấy, Điều 11 Nghị định số 19/2011/NĐ-CP ngày 21/3/2011 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Nuôi con nuôi (Nghị định số 19/2011/NĐ-CP) quy định các cơ sở trợ giúp xã hội tham gia giải quyết nuôi con nuôi nước ngoài phải được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ định, đây chính là một bước cản trở lớn trong việc ưu tiên nuôi con nuôi trong nước. Trong thời gian qua, chỉ có một số ít các cơ sở trợ giúp xã hội được chỉ định tham gia giải quyết nuôi con nuôi nước ngoài, còn một số lượng lớn trẻ em sống ở các cơ sở trợ giúp xã hội không được chỉ định (đặc biệt là các cơ sở trợ giúp xã hội ngoài công lập) không được quan tâm tìm gia đình thay thế ở trong nước và nước ngoài[7]. Xét trên phương diện bảo đảm quyền trẻ em, thì Điều 11 Nghị định số 19/2011/NĐ-CP đã hạn chế quyền được tìm gia đình thay thế ở trong nước và nước ngoài của những trẻ em có điều kiện như nhau nhưng sống ở các cơ sở trợ giúp xã hội không chỉ định; không phù hợp với khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013[8]. Ngoài ra, việc phân loại trẻ em cần tìm gia đình thay thế theo Danh sách 1, Danh sách 2 theo Điều 6 Nghị định số 19/2011/NĐ-CP dẫn đến việc cơ sở trợ giúp xã hội chỉ quan tâm tìm gia đình thay thế ở nước ngoài cho trẻ em thuộc diện Danh sách 2 theo thủ tục rút gọn, trong khi đó trẻ em thuộc diện Danh sách 1 lại không được quan tâm tìm gia đình thay thế ở trong nước và nước ngoài vì thủ tục giải quyết lâu hơn và phức tạp hơn. 1.2. Cơ chế bảo đảm thực hiện nguyên tắc vì lợi ích tốt nhất của trẻ em  Nguyên tắc vì lợi ích tốt nhất của trẻ em là một trong bốn nguyên tắc chủ đạo của Công ước La Hay. Luật Nuôi con nuôi đã lồng ghép nguyên tắc này nhằm xác định mục đích nuôi con nuôi (Điều 2), nguyên tắc giải quyết việc nuôi con nuôi (khoản 1 Điều 4) và căn cứ giới thiệu trẻ em làm con nuôi (Điều 35). Thông qua các quy định đó cho thấy việc nuôi con nuôi là nhằm xác lập quan hệ cha, mẹ và con lâu dài, bền vững, vì lợi ích tốt nhất của người được nhận làm con nuôi và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người được nhận làm con nuôi. Trong quá trình giải quyết việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài, việc thực hiện nguyên tắc này còn có những vướng mắc, khó khăn sau đây: (i) Về việc xác định lợi ích tốt nhất của trẻ em: Theo Báo cáo giải thích Công ước La Hay thì khái niệm lợi ích “tốt nhất” phải được hiểu là lợi ích “thực tế” hoặc lợi ích “thiết thực” của trẻ9. Công ước La Hay đưa ra một số điều kiện để xác định lợi ích tốt nhất của trẻ em[10]; yêu cầu trong quá trình áp dụng phải tránh sao cho nguyên tắc vì lợi ích tốt nhất của trẻ em không bị lạm dụng hoặc được giải thích một cách võ đoán để vi phạm các quyền cơ bản của trẻ em, đồng thời cũng nhằm tạo ra sự cân bằng với lợi ích của các bên có liên quan như cha mẹ đẻ và cha mẹ nuôi. Mặc dù nguyên tắc vì lợi ích tốt nhất của trẻ em đã được nội luật hóa song Luật Nuôi con nuôi không đưa ra khái niệm thế nào là lợi ích tốt nhất của trẻ em. Chính vì vậy, trong quá trình giải quyết nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài, các cơ quan có thẩm quyền chưa thực sự quan tâm tới nhu cầu được nhận làm con nuôi của trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt[11], hay nói cách khác chính là chưa quan tâm thực hiện quyền thực hiện biện pháp chăm sóc thay thế phù hợp dành cho trẻ em; mới chỉ chú trọng tới điều kiện pháp lý của trẻ em được cho làm con nuôi như tìm kiếm nguồn gốc cho trẻ em bị bỏ rơi mà chưa chú trọng tới các khía cạnh khác như y tế, tâm lý, điều kiện gia đình và xã hội của trẻ em được nhận con nuôi. Ngoài ra, việc thiếu vắng khái niệm lợi ích tốt nhất của trẻ em nên có thể dẫn đến việc lạm dụng nguyên tắc lợi ích tốt nhất[12] của trẻ em để có thể cho trẻ em làm con nuôi nước ngoài trong trường hợp không cần thiết. (ii) Về cơ chế pháp lý đánh giá điều kiện đối với trẻ em được cho làm con nuôi trong nước: Theo Điều 4 Công ước La Hay, bảo đảm trẻ em có đủ điều kiện được cho làm con nuôi theo pháp luật quốc gia là một trách nhiệm cơ bản của nước gốc. Theo quy định hiện hành trường hợp trẻ em được giải quyết cho làm con nuôi nước ngoài, Sở Tư pháp có trách nhiệm xác nhận trẻ em đủ điều kiện cho làm con nuôi. Tuy nhiên, đối với việc giải quyết nuôi con nuôi trong nước, cơ chế pháp lý xác nhận trẻ em đủ điều kiện cho làm con nuôi trong nước còn thiếu vắng. Vì vậy, rất có thể dẫn đến lạm dụng việc giải quyết nuôi con nuôi trong nước mà không vì lợi ích tốt nhất của trẻ em. (iii) Về các điều kiện vật chất và nhân lực để bảo đảm thực hiện: Theo yêu cầu của Công ước La Hay, đội ngũ tham gia giải quyết nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài phải đáp ứng đủ năng lực và trình độ chuyên môn về nuôi con nuôi quốc tế, đặc biệt phải có đội ngũ cán bộ đa ngành nghề trong lĩnh vực này. Trong quá trình triển khai thực hiện Công ước La Hay ở Việt Nam, các cơ quan có thẩm quyền ở địa phương và trung ương còn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt ở địa phương nhận thức của các cơ sở trợ giúp xã hội chưa theo kịp với những thay đổi của quy định pháp luật và trình tự thủ tục giải quyết theo Công ước La Hay[13]. Chúng ta còn thiếu đội ngũ cán bộ đa ngành nghề tham gia giải quyết nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài nhằm đánh giá điều kiện về gia đình, xã hội, y tế, tâm lý của trẻ em, tư vấn cho trẻ em và cha mẹ đẻ của trẻ em trong quá trình tiến hành thủ tục. Đồng thời, trong khuôn khổ Công ước La Hay, một số chức năng, nhiệm vụ của cơ quan trung ương có thể được giao cho tổ chức con nuôi được ủy quyền theo Điều 22 Công ước. Hiện nay, Luật Nuôi con nuôi chưa có quy định về các tổ chức con nuôi trong nước được ủy quyền thực hiện một số chức năng, nhiệm vụ của cơ quan trung ương. Điều này cũng là một khó khăn cho công dân Việt Nam khi có yêu cầu nhận trẻ em ở những nước là thành viên Công ước làm con nuôi. 1.3. Bảo đảm thực hiện nguyên tắc tách bạch giữa việc nuôi con nuôi quốc tế và hỗ trợ nhân đạo  Điều 7 Luật Nuôi con nuôi quy định Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân hỗ trợ nhân đạo cho việc chăm sóc, giáo dục trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt. Việc hỗ trợ nhân đạo không được ảnh hưởng đến việc cho nhận con nuôi. Quy định tách bạch hoạt động nuôi con nuôi và hỗ trợ nhân đạo là hoàn toàn phù hợp với Công ước La Hay, nhằm ngăn ngừa sự lệ thuộc giữa việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài với các khoản hỗ trợ nhân đạo và ngăn chặn và phòng ngừa việc thu lợi bất chính trong việc cho nhận con nuôi quốc tế. Thực hiện tốt nguyên tắc này cũng góp phần thực hiện tốt nguyên tắc vì lợi ích tốt nhất của trẻ em được cho làm con nuôi. Tuy nhiên, do việc giải quyết nuôi con nuôi gắn với các khoản hỗ trợ nhân đạo từ lâu đã trở thành “nếp” nên việc thay đổi nhận thức còn chậm trễ, chưa theo kịp yêu cầu của Công ước và cũng chưa được thực hiện đồng đều trên toàn quốc[14]. Trong thời gian qua, đa số trẻ em được giải quyết cho làm con nuôi nước ngoài thuộc diện khuyết tật, trẻ em mắc bệnh hiểm nghèo, trẻ em nhiễm HIV/AIDS (Danh sách 2) nên được miễn chi phí giải quyết nuôi con nuôi nước ngoài. Việc miễn chi phí đối với trẻ em khuyết tật, trẻ em mắc bệnh hiểm nghèo, trẻ em nhiễm HIV/AIDS cũng gây thêm khó khăn về tài chính cho cơ sở nuôi dưỡng (thiếu kinh phí khám sức khỏe, chăm sóc và chữa trị y tế cho trẻ em, thiếu kinh phí bổ sung cho việc chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ, cải thiện điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng cho trẻ em ở cơ sở trợ giúp xã hội)[15]. Ngoài ra, việc miễn chi phí giải quyết nuôi con nuôi nước ngoài tạo sự phân biệt trong công tác nuôi con nuôi, có thể dẫn đến việc người nước ngoài nhận con nuôi vẫn phải chi trả khoản chi phí được miễn hoặc hỗ trợ cho tặng sau khi nhận con nuôi ở địa phương. 2. Đề xuất, kiến nghị nhằm tăng cường hiệu quả thực thi Công ước La Hay  Thứ nhất, tăng cường cơ chế bảo đảm tuân thủ nguyên tắc vì lợi ích tốt nhất của trẻ em. - Nghiên cứu xây dựng chế định đánh giá điều kiện đối với người nhận con nuôi và trẻ em được nhận làm con nuôi trong nước. Quy định này nhằm mục đích tuyển chọn các gia đình cha mẹ nuôi trong nước có đầy đủ các điều kiện và những khả năng phù hợp để nhận trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt làm con nuôi. Mặt khác, quy định còn có ý nghĩa xác định chỉ những trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt cần tìm gia đình thay thế mới được giải quyết cho làm con nuôi; việc giải quyết nuôi con nuôi trong nước cần dựa trên các tiêu chí đánh giá toàn diện nhu cầu của trẻ em cần tìm gia đình thay thế. Đặc biệt hơn nữa, nếu xây dựng được cơ chế liên thông giữa nuôi con nuôi trong nước và nuôi con nuôi nước ngoài thì sẽ rút ngắn được thời hạn giải quyết nuôi con nuôi nước ngoài khi trẻ em không tìm được gia đình thay thế trong nước. Cơ chế này chỉ được thực hiện khi trẻ em được nhận làm con nuôi trong nước cũng phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện được cho làm con nuôi như con nuôi nước ngoài. - Nghiên cứu xây dựng cơ chế quản lý các khoản hỗ trợ, cho tặng của cha mẹ nuôi trong nước hoặc nước ngoài và tổ chức con nuôi nước ngoài nhằm tuân thủ nguyên tắc tách bạch giữa việc nuôi con nuôi với hỗ trợ nhân đạo, phòng ngừa và ngăn chặn tệ nạn mua bán trẻ em dưới danh nghĩa cho làm con nuôi. Đặc biệt, cần tăng cường chức năng, nhiệm vụ cho cơ quan trung ương về nuôi con nuôi quốc tế ở Việt Nam để bảo đảm Công ước La Hay được tuân thủ trên phạm vi toàn quốc. Thứ hai, tăng cường cơ chế bảo đảm tuân thủ nguyên tắc nguyên tắc ưu tiên nuôi con nuôi trong nước. Loại bỏ “rào cản” pháp lý của khoản 1 Điều 11 Nghị định số 19/2011/NĐ-CP khi hạn chế cơ hội tìm gia đình thay thế trong nước của những trẻ em sống tại các cơ sở trợ giúp xã hội chưa được chỉ định. Việc giải quyết nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài phải dựa vào nhu cầu cần tìm gia đình thay thế của trẻ em chứ không dựa vào quyết định hành chính của các cơ quan có thẩm quyền. Đồng thời, cần tháo gỡ khó khăn cho các cơ sở trợ giúp xã hội trong công tác phân loại trẻ em cần tìm gia đình thay thế theo tình trạng sức khỏe của trẻ. Việc lập danh sách trẻ em cần tìm gia đình thay thế phải dựa vào chính nhu cầu của trẻ em về hoàn cảnh gia đình, điều kiện xã hội, tâm lý, khả năng đoàn tụ gia đình gốc… chứ không chỉ đơn thuần dựa vào nhu cầu sức khỏe để quyết định trẻ em nào cần tìm gia đình thay thế. Về lâu dài, Nhà nước phải có chính sách hỗ trợ cho những gia đình trong nước nhận trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt làm con nuôi và chính sách đó phải gắn kết bảo trợ xã hội và an sinh xã hội cho các gia đình nhận con nuôi. Thứ ba, nghiên cứu xây dựng chế định về tổ chức con nuôi trong nước. Xu hướng chung trên thế giới đòi hỏi việc nuôi con nuôi phải được thực hiện bởi các cơ quan, tổ chức chuyên nghiệp, trong đó có vai trò trung gian hợp pháp của các tổ chức con nuôi trong nước. Công ước La Hay không cho phép hoạt động trung gian không được cấp phép và chỉ chấp nhận những tổ chức, cá nhân được ủy quyền thực hiện nhiệm vụ trung gian về nuôi con nuôi. Vì vậy, cần nghiên cứu xây dựng chế định về tổ chức con nuôi trong nước được cấp phép. Đây sẽ là những tổ chức con nuôi chuyên nghiệp, thay mặt cơ quan con nuôi trung ương để thực hiện một số nhiệm vụ như đào tạo cho các gia đình nhận con nuôi trong nước, đánh giá điều kiện gia đình, xã hội của người nhận con nuôi, đánh giá đặc điểm và nhu cầu cần tìm gia đình thay thế của trẻ em được cho làm con nuôi và theo dõi tình hình phát triển của con nuôi. Về thủ tục giải quyết nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài, các tổ chức con nuôi trong nước vừa có thể tham gia giải quyết nuôi con nuôi quốc tế vừa là cánh tay nối dài của cơ quan trung ương của Việt Nam (Bộ Tư pháp) nhằm đáp ứng nhu cầu hội nhập của Việt Nam với những nước là thành viên của Công ước La Hay, đáp ứng yêu cầu của công dân Việt Nam nhận trẻ em nước ngoài làm con nuôi. Phạm Thị Kim Anh Cục Con nuôi, Bộ Tư pháp Tài liệu tham khảo: [1]. Bao gồm Pháp, Ý, Ailen, Canada, Thụy Sỹ, Vương quốc Đan Mạch, Vương quốc Thụy Điển, Vương quốc Tây Ban Nha, Đức, Hoa Kỳ, Lúc-xăm-bua, Na-Uy, Bỉ và Man-ta. [2]. Trẻ em sống ở gia đình được giải quyết cho làm con nuôi ở nước ngoài thuộc đối tượng là con riêng, cháu ruột của người nhận con nuôi theo điểm a, b khoản 2 Điều 28 Luật Nuôi con nuôi. [3]. Riêng Cộng hòa Man-ta chưa chỉ định tổ chức con nuôi nước ngoài nào hoạt động tại Việt Nam, Cục Con nuôi (Bộ Tư pháp), Báo cáo đánh giá tình hình thi hành Luật Nuôi con nuôi và Nghị định số 19/2011/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Nuôi con nuôi giai đoạn 2011 - 2016, Hà Nội, tháng 11/2016. [4]. So với giai đoạn 06 năm trước khi Luật Nuôi con nuôi và Công ước La Hay có hiệu lực thi hành, từ năm 2005 - 2010, 7.355 trẻ em Việt Nam đã được giải quyết cho làm con nuôi nước ngoài, trong khi từ năm 2011 - 2016 chỉ có 2.322 trường hợp, như vậy, giảm hơn 03 lần. Xem: Báo cáo Đánh giá thực hiện Luật Nuôi con nuôi và Công ước La Hay năm 1993 (năm 2016), Cục Con nuôi - Bộ Tư pháp. [5]. Theo số liệu thống kê của Ngành Lao động - Thương binh và xã hội, hàng năm, có khoảng 22.000 trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt sống ở cơ sở trợ giúp xã hội, trong số đó, chỉ có khoảng hơn 300 trẻ em được giải quyết cho làm con nuôi (chỉ chiếm 1,7%). [6]. Sách hướng dẫn thực hiện tốt Công ước La Hay năm 1993, (số 1).  [7]. 53/413 cơ sở trợ giúp xã hội trên toàn quốc được chỉ định giải quyết nuôi con nuôi nước ngoài, Báo cáo Đánh giá thực hiện Luật nuôi con nuôi và Công ước La Hay năm 1993, Cục Con nuôi - Bộ Tư pháp. [8]. Khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013 quy định quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết, vì lý do quốc phòng, an ninh… [9]. G. Parra-Arangueren. Báo cáo Giải thích Công ước La Hay ngày 29/5/1993 về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực con nuôi quốc tế, tr. 34. [10]. Cụ thể như nước gốc phải nỗ lực duy trì và tái hòa nhập trẻ em trong gia đình gốc; tuân thủ nguyên tắc ưu tiên nuôi con nuôi trong nước; bảo đảm trẻ em đủ điều kiện cho làm con nuôi; có đầy đủ ý kiến cần thiết cho trẻ em làm con nuôi; lưu giữ các thông tin về trẻ em; đánh giá kỹ càng điều kiện gia đình của người nhận con nuôi để tìm được gia đình phù hợp cho trẻ em. [11]. Báo cáo Đánh giá thực hiện Luật Nuôi con nuôi và Công ước La Hay năm 1993 (năm 2016), Cục Con nuôi - Bộ Tư pháp. [12]. Báo cáo và kết luận của Ủy ban đặc biệt lần thứ 2 về thực thi Công ước La Hay năm 1993 (từ ngày 17 - 23/9/2005), tr. 18. [13]. Cục Con nuôi (Bộ Tư pháp), Báo cáo Đánh giá 04 năm thực hiện Công ước La Hay năm 1993 về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực con nuôi quốc tế, Hà Nội, tháng 11/2016. [14]. Báo cáo Đánh giá 04 năm thực hiện Công ước La Hay năm 1993 về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực con nuôi quốc tế, Hà Nội, tháng 11/2016. [15]. Báo cáo Đánh giá tình hình thi hành Luật Nuôi con nuôi và Nghị định số 19/2011/NĐ-CP, ngày 21/3/2011 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Nuôi con nuôi giai đoạn 2011 - 2016. Link bài viết: http://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/thi-hanh-phap-luat.aspx?ItemID=384  
Người cao tuổi chiếm tỷ trọng đáng kể trong cơ cấu dân số nước ta và là một trong những nhóm người dễ tổn thương trong xã hội, cần được bảo vệ và chăm sóc sức khỏe toàn diện. Là một nước có thu nhập trung bình thấp nhưng Việt Nam đã bước vào giai đoạn già hóa dân số với tốc độ rất nhanh. Chủ động ứng phó với sự thay đổi cơ cấu dân số theo hướng già hóa để khai thác mặt tích cực, hạn chế các tác động tiêu cực là việc làm cấp bách hiện nay. Già hóa dân số diễn ra với tốc độ nhanh Người cao tuổi là những người có độ tuổi từ 60 tuổi trở lên. Người cao tuổi chiếm tỷ trọng đáng kể trong cơ cấu dân số và là một trong những nhóm người dễ tổn thương trong xã hội, cần được bảo vệ và chăm sóc sức khỏe toàn diện. Theo Báo cáo Triển vọng dân số thế giới của Liên hợp quốc, tỷ lệ phụ thuộc già (tỷ lệ người cao tuổi phụ thuộc vào dân số đang ở độ tuổi lao đông) được dự kiến sẽ tăng từ 9,6 tới 21,7% trong thời gian từ 2015 tới 2035. Sự thay đổi cơ cấu dân số này có tác động lớn tới hệ thống bảo trợ xã hội, y tế, thị trường lao động,... Vì vậy, chủ động ứng phó với sự thay đổi cơ cấu dân số theo hướng già hóa để khai thác mặt tích cực, hạn chế các tác động tiêu cực là việc làm cấp bách hiện nay. Việt Nam là một nước có thu nhập trung bình thấp nhưng đã bước vào giai đoạn già hóa dân số với tốc độ rất nhanh. Trong khi vẫn đang tận dụng những cơ hội của thời kỳ cơ cấu dân số vàng, Việt Nam cũng cần phải chủ động xây dựng kế hoạch để ứng phó với việc già hóa dân số. Tuổi thọ trung bình của người Việt Nam (đã đạt mức 73 tuổi) đang tăng lên là kết quả của những cải thiện về đời sống vật chất, tinh thần, chăm sóc y tế trong công cuộc đổi mới. Đây là điều mà mỗi gia đình và cả xã hội đều vui mừng đón nhận; tuy nhiên, nó cũng tạo ra những thách thức đối với hệ thống an sinh xã hội của quốc gia. Hơn thế nữa, theo các nhà nghiên cứu, già hóa dân số là vấn đề, là hiện tượng và đặc trưng của những nước thu nhập cao, không phải là các nước thu nhập thấp. Việt Nam vừa thoát khỏi tình trạng nước có thu nhập thấp, chuyển sang nhóm nước có thu nhập trung bình thấp, vì vậy, thực trạng già hóa dân số sẽ đặt ra nhiều thách thức lớn không chỉ liên quan đến công tác chăm sóc sức khỏe người cao tuổi mà còn ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế, xã hội nói chung. Trong giai đoạn vừa qua, chính sách dân số - kế hoạch hóa gia đình giúp cho mức sinh của Việt Nam giảm khá nhanh. Bên cạnh đó, do điều kiện kinh tế phát triển, việc chăm sóc sức khỏe tốt hơn nên xu hướng gia tăng người cao tuổi của Việt Nam cũng đạt tốc độ nhanh chóng mặt. Việt Nam nằm trong số 10 nước có tốc độ già hóa nhanh nhất trên thế giới. Theo Tổng cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình, Việt Nam chính thức bước vào giai đoạn già hóa dân số từ năm 2011 và hiện có khoảng 10,1 triệu người cao tuổi, chiếm 11% dân số. Riêng số người từ 80 tuổi trở lên là 2 triệu người. Dự báo đến năm 2030, tỷ trọng người cao tuổi Việt Nam chiếm 17% và năm 2050 là 25%. Nếu như các nền kinh tế phát triển mất vài thập kỷ, thậm chí hàng thế kỷ để chuyển từ giai đoạn già hóa dân số (nhóm dân số 60+ tuổi chiếm 10%) sang giai đoạn dân số già (nhóm dân số 60+ tuổi chiếm 20%) như Australia: 73 năm, Hoa Kỳ: 69 năm, Canada: 65 năm… thì Việt Nam chỉ mất 22 năm. Trong thời gian tới, mức sinh được dự đoán ổn định và với tốc độ già hóa dân số nhanh như hiện tại, sự chuyển đổi cơ cấu dân số sẽ tạo ra những tác động rất lớn đối với tăng trưởng kinh tế, lao động việc làm, tiết kiệm, đầu tư, chăm sóc y tế, an sinh xã hội, sự chuyển dịch các dòng di cư, thiết kế hạ tầng... đặt kinh tế xã hội Việt Nam trước những thách thức mới, nêu không được quan tâm giải quyết sẽ tạo ra những hệ lụy không hề nhỏ. Đời sống người cao tuổi còn rất khó khăn Theo Báo cáo của Tổng Cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình (Bộ Y tế), tại Việt Nam, 65,7% người cao tuổi sống ở nông thôn, là nông dân và làm nông nghiệp. Đồng bằng sông Hồng là khu vực có tỷ lệ người cao tuổi đông nhất, chiếm 28% và thấp nhất là khu vực Tây Nguyên chỉ có 4%. Người cao tuổi tại Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều khó khăn trong đó 73% không có lương hưu và phải sống phụ thuộc vào con cái. Số người cao tuổi được hưởng lương hưu, trợ cấp xã hội nên rất nhiều người cao tuổi vẫn phải tự lao động và kiếm sống hàng ngày. Chất lượng cuộc sống của người cao tuổi nhất là ở vùng nông thôn còn rất khó khăn, tỷ lệ người nghèo ở người cao tuổi là 23,5%. Chỉ có khoảng 60% người cao tuổi có thẻ bảo hiểm y tế. Tuổi thọ trung bình cao nhưng tuổi thọ khỏe mạnh của người cao tuổi ở nước ta thấp (64 tuổi); đặc biệt, có 67,2% người cao tuổi có tình trạng sức khỏe yếu và rất yếu, 70% người cao tuổi có khó khăn về vật chất… Theo Cục Quản lý Khám chữa bệnh (Bộ Y tế), sức khỏe của người cao tuổi nước ta còn nhiều hạn chế. Tuy tuổi thọ trung bình cao nhưng gánh nặng bệnh tật kép của người cao tuổi Việt Nam cũng cao, khoảng 95% người cao tuổi có bệnh, chủ yếu là bệnh mãn tính không lây truyền, trung bình 1 người cao tuổi Việt Nam mắc 3 bệnh. Gánh nặng bệnh tật kép này sẽ đe dọa nguồn ngân sách vốn đã eo hẹp của các quốc gia đang trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế, trong đó có Việt Nam. Trong khi đó ở nước ta, hệ thống chăm sóc sức khỏe chưa đáp được nhu cầu ngày càng tăng của người cao tuổi. Hoạt động chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi còn gặp nhiều khó khăn thách thức. Năm 2014, cả nước chỉ có 49/63 tỉnh có khoa lão tại các bệnh viện tỉnh và gần một nửa số người cao tuổi không có bảo hiểm y tế. Có tới 72,3% số người cao tuổi sống cùng với con cháu, trong khi đó xu hướng quy mô gia đình Việt Nam đang chuyển dần từ gia đình truyền thống sang gia đình hạt nhân. Tình trạng người cao tuổi sống không có vợ, chồng chiếm tỷ lệ cao, trong đó số cụ bà cô đơn cao gấp 5,44 lần so với cụ ông. Phụ nữ cao tuổi ly hôn, ly thân có tỷ lệ cao gấp 2,2 lần so với nam giới. Phải sống một mình là điều rất khó khăn đối với người cao tuổi bởi gia đình luôn là chỗ dựa cơ bản cho mỗi người khi về già… Hệ thống an sinh xã hội cũng chưa đáp ứng được nhu cầu của người cao tuổi; chưa có hệ thống chăm sóc dài hạn và hệ thống cung ứng việc làm cũng như chăm sóc sức khỏe dài hạn cho người cao tuổi; một bộ phận xã hội còn quan niệm sai lệch về người cao tuổi; vai trò của các tổ thức dân sự, đoàn thể, cá nhân chưa thực sự được phát huy…  Chăm sóc y tế cho người cao tuổi Đối với người cao tuổi, chăm sóc y tế là điều quan trọng nhất. Nhiệm vụ này cần được Nhà nước, gia đình và xã hội cùng quan tâm thực hiện. Bệnh tật ở người cao tuổi chủ yếu là bệnh không lây nhiễm và mạn tính nên chi phí chăm sóc sức khỏe ngày càng tăng cao. Bên cạnh đó, người cao tuổi còn có những yêu cầu khác biệt, đặc thù về chăm sóc sức khỏe so với các nhóm tuổi khác. Đặc điểm bệnh lý của người cao tuổi khác với các lứa tuổi khác như lão hóa các cơ quan, tính chất đa bệnh lý, các hội chứng đặc trưng ở người cao tuổi; sử dụng nhiều thuốc, tình trạng phụ thuộc; tăng nguy cơ tai biến. Bệnh nhân cao tuổi thường có các hội chứng lão khoa đặc trưng (như hội chứng dễ bị tổn thương, sa sút trí tuệ, rối loạn vận động, suy dinh dưỡng, giảm hoạt động chức năng, lú lẫn, trầm cảm, loét, mất nước) có nguy cơ tai biến điều trị cao… Sau khi được điều trị, các bệnh nhân có nguy cơ cao dẫn đến tình trạng phụ thuộc hoàn toàn về thể chất và tâm thần, rất khó hồi phục. Chính vì thế, ngành y tế cần đáp ứng đầy đủ nhu cầu khám chữa bệnh của người cao tuổi với chất lượng ngày càng cao, chi phí và hình thức phù hợp (tại các cơ sở y tế, tại nhà…); đồng thời, phối hợp chăm sóc sức khỏe người cao tuổi tại cơ sở y tế và dựa vào cộng đồng. Trong đó, việc thành lập khoa lão khoa trong các bệnh viện sẽ giúp người cao tuổi được chăm sóc một cách chuyên nghiệp, toàn diện và liên tục.  Cả nước hiện có 106 khoa lão khoa được thành lập tại bệnh viện đa khoa tỉnh, thành phố và bệnh viện trung ương; hơn 900 khoa khám bệnh có buồng riêng cho người cao tuổi; trên 10.000 giường điều trị nội trú ưu tiên cho người cao tuổi và có 1.791 nhân viên y tế được đào tạo về lão khoa. Bên cạnh đó, số người cao tuổi được phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng là trên 213.000 lượt; được khám chữa bệnh tại nhà là gần 80.000 lượt; người cao tuổi khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế là gần 8 triệu lượt. Qua khám chữa bệnh phát hiện trên 1 triệu lượt người cao tuổi có bệnh mạn tính không lây nhiễm… Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác khám, chữa bệnh cho người cao tuổi còn nhiều khó khăn, thách thức. Một số địa phương hiện vẫn chưa bố trí kinh phí thực hiện chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi như khám sức khỏe định kỳ do điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị để thành lập khoa lão còn thiếu; bác sỹ, điều dưỡng học về chuyên ngành lão khoa còn thiếu nên chưa tư vấn, tuyên truyền và phổ biến kiến thức phòng và chữa bệnh cho người cao tuổi tại cộng đồng… Mặc dù đã đạt được những kết quả bước đầu trong công tác chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi, tuy nhiên, với tốc độ già hóa dân số như hiện nay, Nhà nước, mà cụ thể là ngành y tế cần có cơ chế, chính sách cũng như chương trình mở rộng mạng lưới các cơ sở y tế, tăng cường trang thiết bị, đào tạo nguồn nhân lực chuyên sâu cho công tác khám, chữa bệnh và điều trị cho người cao tuổi. Theo hướng này, Bộ Y tế đã xây dựng “Đề án chăm sóc sức khỏe người cao tuổi giai đoạn 2017 - 2025”. Đề án được triển khai trên toàn quốc tại 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; ưu tiên các tỉnh thành phố có tỷ lệ người cao tuổi cao, các tỉnh vùng khó khăn, vùng sâu vùng xa có nhiều người cao tuổi gặp khó khăn hoặc người cao tuổi là người dân tộc thiểu số.  Nội dung đề án tập trung vào các hoạt động tăng cường truyền thông giáo dục thay đổi hành vi nâng cao nhận thức, tạo môi trường xã hội đồng thuận tham gia chăm sóc sức khỏe người cao tuổi; xây dựng, phát triển phong trào chăm sóc sức khỏe người cao tuổi; củng cố, hoàn thiện hệ thống cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu, khám chữa bệnh cho người cao tuổi. Nâng cao năng lực cho y tế cơ sở bao gồm cả trạm y tế xã, phường, thị trấn trong thực hiện chăm sóc sức khỏe ban đầu cho người cao tuổi; nâng cao năng lực cho các khoa lão của bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh và các bệnh viện đa khoa, chuyên khoa (trừ bệnh viện chuyên khoa nhi) thực hiện khám chữa bệnh cho người cao tuổi. Ngoài ra, đề án còn xây dựng và phổ biến mô hình chăm sóc sức khỏe dài hạn cho người cao tuổi; xây dựng và duy trì hoạt động của đội ngũ chăm sóc sức khỏe người cao tuổi tại gia đình; thí điểm xã hội hóa chăm sóc y tế cho người cao tuổi tại các cơ sở chăm sóc tập trung; phát triển nguồn nhân lực chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi… Tổ chức hệ thống mạng lưới chăm sóc sức khỏe người cao tuổi, đặc biệt là chăm sóc sức khỏe ban đầu để dự phòng các bệnh không lây nhiễm; phối hợp y học cổ truyền và y học hiện đại trong chăm sóc sức khỏe người cao tuổi, chăm sóc sức khỏe tâm thần.  Quan tâm đến chính sách bảo hiểm y tế, dự báo chi phí chăm sóc sức khỏe trong tương lai đối với người cao tuổi. Đặc biệt, phân bổ nhân lực để thực hiện cung ứng dịch vụ dự phòng các bệnh mạn tính ở tuyến y tế cơ sở, trong cộng đồng, nhân lực đáp ứng nhu cầu quản lý bệnh không lây nhiễm ở giai đoạn bệnh tiến triển… Tạo môi trường thuận lợi để người cao tuổi tiếp tục đóng góp cho xã hội Người cao tuổi là một nguồn lực quan trọng của xã hội. Người cao tuổi là những người có kiến thức, kinh nghiệm. Trong số người cao tuổi, rất nhiều người là những chuyên gia, người lao động trình độ cao của các ngành, lĩnh vực; có sức khỏe, có nguyện vọng tiếp tục cống hiến cho gia đình và xã hội. Họ không muốn nghỉ ngơi thụ động, phụ thuộc vào con cái mà muốn có cuộc sống chủ động, tích cực, tham gia công việc gia đình, xã hội. Vì vậy, Nhà nước và xã hội cần thay đổi quan niệm, cách tiếp cận, cách nhìn đối với vấn đề người cao tuổi. Coi người cao tuổi không chỉ là vấn đề để tập trung chăm sóc, coi người cao tuổi là đối tượng đi thăm, tặng quà vì đã quá già và nghèo. Thực tể có rất nhiều người còn sức khỏe, nhất là từ tuổi 60 đến 75, họ vẫn muốn tiếp tục cống hiến, vẫn muốn được tạo điều kiện nhưng chưa được đáp ứng. Vì vậy, người cao tuổi không chỉ là vấn đề cần giải quyết mà còn là cơ hội, nguồn lực cho sự phát triển, cấn quan tâm tạo có chế, chính sách để thu hút, khai thác nguồn lực đó một cách hiệu quả. Để người cao tuổi tiếp tục đóng góp cho gia đình, xã hội, người cao tuổi cần sự ủng hộ và tạo của gia đình, cộng đồng và doanh nghiệp. Và đặc biệt là vai trò của Nhà nước. Để các hoạt động đáp ứng nhu cầu của người cao tuổi diễn ra suôn sẻ, những hoạt động này cần đặt trên nền tảng pháp luật. Nhà nước có thể ban hành các chính sách hỗ trợ, thúc đẩy các hoạt động của người cao tuổi. Đây là vai trò nổi bật của Nhà nước trong việc khuyến khích, hỗ trợ doanh nghiệp, cộng đồng, gia đình, cá nhân bảo vệ, chăm sóc, phát huy khả năng đóng góp của người cao tuổi.  Nhà nước cũng có thể lồng ghép yếu tố người cao tuổi, chính sách đối với người cao tuổi vào chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Chính sách, pháp luật của Nhà nước cũng hướng trực tiếp đến người cao tuổi; khuyến khích, tạo điều kiện, hỗ trợ cho họ rèn luyện sức khỏe; tham gia học tập; hoạt động kinh tế, văn hoá, xã hội. Nhà nước cần bố trí nguồn lực hằng năm để thực hiện pháp luật, chính sách chăm sóc và phát huy vai trò người cao tuổi, nhất là đối với những người cao tuổi có hoàn cảnh đặc biệt. Những nỗ lực của gia đình, xã hội và Nhà nước sẽ tạo ra môi trường xã hội thúc đẩy tính năng động của quá trình già hóa, điều kiện và cơ hội tốt nhất phát huy được đầy đủ khả năng của người cao tuổi và cùng xã hội đáp ứng tốt nhất nhu cầu của nhóm xã hội đặc biệt này./. TS. Phạm Hải Hưng Đại học Lao động và Xã hội Hà Nội Link bài viết: http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/Van-hoa-xa-hoi/2017/47468/Cham-soc-va-phat-huy-vai-tro-cua-nguoi-cao-tuoi-trong.aspx  
Bảo đảm quyền của các dân tộc thiểu số cùng với đấu tranh chống lợi dụng vấn đề dân tộc ở nước ta hiện nay là những vấn đề lý luận - thực tiễn vừa cơ bản, vừa cấp bách, cần được nhận thức thấu đáo và tổ chức thực hiện đồng bộ, toàn diện, kiên trì. Đây là một bộ phận hữu cơ của sự nghiệp phát triển toàn diện các dân tộc, bảo vệ và phát triển các quyền con người chân chính, góp phần xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với xây dựng thế trận an ninh nhân dân ở vùng dân tộc thiểu số. Sự tác động qua lại giữa bảo đảm quyền của các dân tộc thiểu số và đấu tranh chống lợi dụng vấn đề dân tộc Quyền của các dân tộc thiểu số nhìn chung được chia thành hai nhóm: nhóm các quyền cá nhân thông thường áp dụng với từng thành viên của mỗi dân tộc và nhóm các quyền tập thể áp dụng cho cộng đồng các dân tộc thiểu số. Bảo đảm quyền con người ở vùng dân tộc thiểu số có hiệu quả là bằng chứng thực tiễn - pháp lý sinh động phản bác mọi luận điệu xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch; là cách làm tốt nhất để bảo vệ chân lý, lẽ phải của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta trong sự nghiệp bảo vệ và chăm lo quyền con người chân chính; là sự chủ động phòng ngừa, ứng phó với mọi nguy cơ phát sinh từ vấn đề dân tộc, không tạo cớ cho các thế lực thù địch lợi dụng chống phá; là môi trường giúp các dân tộc (đa số và thiểu số) phát triển lành mạnh, định hình ý thức dân tộc chân chính, xây dựng quan hệ dân tộc đoàn kết, bình đẳng, tôn trọng, giải quyết hài hòa quan hệ giữa các dân tộc, giúp nhau cùng phát triển; là hình thức tự đề kháng của các dân tộc thiểu số trước mọi luận điệu của các thế lực thù địch hòng xuyên tạc, chống phá, chia rẽ khối đoàn kết dân tộc. Đấu tranh chống các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc có hiệu quả sẽ tạo môi trường ổn định cho các dân tộc xây dựng khối đoàn kết, bình đẳng, giúp nhau cùng phát triển. Đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng có vai trò đập tan ngay từ nguồn gốc tư tưởng - lý luận của chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa ly khai, giúp bản thân các dân tộc định hình ý thức dân tộc chân chính, thống nhất giữa quyền con người và quyền công dân, quyền và nghĩa vụ, quyền cá nhân của thành viên dân tộc với quyền tập thể dân tộc, giữa quyền của tập thể dân tộc với quyền của cộng đồng quốc gia - dân tộc. Đấu tranh có hiệu quả giúp Đảng, Nhà nước khẳng định được tính chính nghĩa, lẽ phải trên các diễn đàn đa phương, song phương, củng cố vị thế, uy tín, nhờ đó vừa tranh thủ được dư luận và nguồn lực quốc tế, vừa tập trung được nguồn lực trong nước để đầu tư cho phát triển các dân tộc. Còn xung đột, chia rẽ không những làm cho các dân tộc thiếu môi trường ổn định và không tập trung được nguồn lực đầu tư để phát triển, mà còn dẫn tới phân tán nhân lực, vật lực, gây xáo trộn các quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, bỏ lỡ các cơ hội phát triển. Đấu tranh còn mang hàm ý đấu tranh trong nội bộ nhân dân, nhất là với những nhận thức chưa đúng đắn, những hành vi lệch lạc, sai trái của một bộ phận cán bộ và người dân trong bảo đảm quyền của các dân tộc thiểu số. Nhờ đó bảo đảm cho việc thực thi chính sách dân tộc được triển khai một cách đồng bộ, đầy đủ, nhất quán với ý thức và trách nhiệm tự giác cao của toàn bộ hệ thống chính trị, của đồng bào các dân tộc đa số và thiểu số, của doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế. Bảo đảm quyền của các dân tộc thiểu số và đấu tranh chống âm mưu lợi dụng vấn đề dân tộc có sự thống nhất ở mục tiêu chung, ở chủ thể lãnh đạo - quản lý chung, ở phục vụ lợi ích quốc gia - dân tộc thống nhất, ở sử dụng chung nhiều lực lượng. Mục tiêu chung của bảo đảm quyền của các dân tộc thiểu số và đấu tranh chống lợi dụng vấn đề dân tộc đều nhằm xây dựng một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ công cuộc đổi mới, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo vệ lợi ích quốc - dân tộc; bảo vệ môi trường hòa bình và ổn định chính trị, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội cho phát triển đất nước; bảo vệ bản sắc văn hóa của dân tộc Việt Nam. Bảo đảm quyền của các dân tộc thiểu số và đấu tranh chống lợi dụng vấn đề dân tộc ở Việt Nam đều do Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, cùng cả hệ thống chính trị tham gia, bao gồm từ hoạch định đường lối đến tổ chức thực hiện; thống nhất ở đặt lợi ích quốc gia - dân tộc làm tối thượng, lợi ích bộ phận không thể thoát ly lợi ích của quốc gia - dân tộc. Tuy nhiên, bảo đảm và đấu tranh, mỗi vấn đề có nội dung riêng do khác nhau về mục tiêu cụ thể, đối tượng tác động, lực lượng chuyên trách và phương pháp công tác chuyên biệt. Về mục tiêu cụ thể, nếu tính hướng đích của bảo đảm quyền các dân tộc là tôn trọng và bảo vệ quyền chân chính của các dân tộc thiểu số, thì đấu tranh có mục tiêu là làm thất bại các âm mưu, thủ đoạn, hoạt động của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, nhân quyền để phá hoại khối đoàn kết dân tộc, kích động chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa ly khai. Về đối tượng, nếu đối tượng của bảo đảm quyền các dân tộc là đồng bào các dân tộc thiểu số, gồm cả tập thể dân tộc và thành viên của từng cộng đồng dân tộc, thì đối tượng của đấu tranh là các thế lực thù địch bên ngoài hòng lợi dụng vấn đề dân tộc thiểu số để chống phá, là các phần tử phản động trong nước tiếp tay cho các thế lực thù địch bên ngoài thực hiện các hành vi chống phá lợi ích quốc gia - dân tộc, chia rẽ khối đoàn kết dân tộc. Về lực lượng chuyên trách, bảo đảm quyền của các dân tộc thiểu số do các tổ chức và cá nhân có nhiệm vụ tổ chức và thực thi các chính sách phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo vệ quốc phòng, an ninh, chính sách đối ngoại, bảo vệ môi trường sinh thái...; mỗi lực lượng có vai trò, vị trí riêng khi thực thi các chính sách đa/liên ngành, trong đó cơ quan chuyên trách công tác dân tộc có vai trò rất quan trọng. Đấu tranh chống lợi dụng vấn đề dân tộc tuy cũng cần lực lượng đa/liên ngành rộng lớn, nhưng đội ngũ nòng cốt chuyên trách là công an nhân dân, quân đội nhân dân, các nhà tư tưởng lý luận, nhà báo đấu tranh trên địa hạt tư tưởng - lý luận. Về biện pháp công tác chuyên biệt, nếu bảo đảm quyền của các dân tộc thiểu số được thực hiện bằng các biện pháp kinh tế, hành chính, dân sự, thông qua các chính sách và luật pháp tôn trọng, bảo vệ, chăm lo quyền con người, thông qua các chương trình, dự án đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, củng cố hệ thống chính trị, bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa, bảo vệ môi trường sinh thái, ... thì đấu tranh chống lợi dụng vấn đề dân tộc đòi hỏi phải kết hợp cả biện pháp vũ trang và phi vũ trang, kể cả sử dụng nghiệp vụ chuyên biệt của lực lượng vũ trang để đập tan các hoạt động móc nối, gây dựng cơ sở, tập hợp lực lượng hòng chia rẽ khối đoàn kết dân tộc, kích động bạo loạn lật đổ, thực hiện chủ nghĩa ly khai. Bảo đảm quyền của các dân tộc thiểu số và đấu tranh chống lợi dụng vấn đề dân tộc: Vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Để nâng cao hiệu quả trong giải quyết vấn đề này cần chú ý mấy vấn đề sau đây: Thứ nhất, cần nhận thức đầy đủ vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của việc bảo đảm quyền các dân tộc thiểu số trong giải quyết vấn đề dân tộc ở Việt Nam. Bảo đảm quyền của các dân tộc thiểu số có tầm quan trọng đặc biệt đối với ổn định và phát triển của đất nước. Nó được chế định bởi điều kiện địa - chính trị, kinh tế, nhân văn, môi trường của vùng dân tộc thiểu số; bởi tính chất khó khăn, phức tạp của vấn đề dân tộc do di tồn lịch sử, giới hạn nguồn lực đầu tư, rào cản của phong tục, tập quán và trình độ phát triển, đặc biệt là hoạt động chống phá của các thế lực thù địch. Vì vậy, bảo đảm quyền của các dân tộc thiểu số không thể thực hiện nhanh chóng bằng một vài chương trình, dự án hoặc chỉ bằng can thiệp hành chính, mà phải thông qua giải pháp tổng hợp, thực hiện theo các bước phát triển ngắn hạn, trung hạn và dài hạn, giai đoạn trước tạo tiền đề phát triển cho giai đoạn sau. Đây là sự nghiệp lâu dài, gian khổ; cần nhiều nguồn lực đầu tư lớn, gồm cả nhân lực, tài lực, vật lực; cần sự tham gia của cả hệ thống chính trị, của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế; cần sự tương trợ, giúp nhau cùng phát triển giữa các dân tộc; cao nhất vẫn là khơi dậy ý thức tự lực, tự cường của bản thân đồng bào các dân tộc. Thứ hai, bảo đảm quyền của các dân tộc là vấn đề liên ngành/đa ngành, từ kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội, môi trường - sinh thái, quan hệ quốc tế, quốc phòng - an ninh. Quyền kinh tế là vấn đề trước hết cần được quan tâm, vì nó liên quan đến quyền an sinh và phát triển, quyền tiếp cận các nguồn lực một cách bình đẳng. Quyền chính trị được thể hiện ở quyền bình đẳng của công dân trong bầu cử, ứng cử, tham gia quản lý nhà nước, tham dự các nghị trình chính sách, mà ở đó tạo nguồn, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng và cơ cấu hợp lý cán bộ dân tộc thiểu số trong các cơ quan hệ thống chính trị chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng. Quyền văn hóa không chỉ có ý nghĩa bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, mà còn liên quan đến những vấn đề cốt lõi nhất cho duy trì và phát triển một cộng đồng dân tộc. Các vấn đề môi trường, sinh thái liên quan rất chặt chẽ đến quyền của các dân tộc trong bảo vệ không gian sinh tồn và phát triển của cộng đồng. Vấn đề quyền của các dân tộc thiểu số trong thế giới hiện đại không còn bó hẹp trong biên giới quốc gia mà mang tính xuyên quốc gia, kể cả chế định trong các văn kiện chính trị - pháp lý quốc tế. Chẳng hạn, Tuyên bố của Liên hợp quốc về quyền của người thuộc về các nhóm thiểu số về ngôn ngữ, tôn giáo, chủng tộc (năm 1992)(1), Công ước khung của Hội đồng châu Âu về bảo vệ dân tộc thiểu số (năm 1995)(2), Hiến chương về ngôn ngữ vùng hoặc thiểu số của châu Âu (năm 1994)(3), Bản khuyến nghị Lund về sự tham gia có hiệu quả của các dân tộc thiểu số trong đời sống công cộng (năm 1999)(4)... Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (năm 1966) đã ghi nhận rõ việc bảo vệ quyền con người và quyền của dân tộc thiểu số tại các điều 2, 4, 27. Ở các nước có nhiều nhóm thiểu số về dân tộc, tôn giáo và ngôn ngữ thì những cá nhân thuộc các dân tộc, tôn giáo, ngôn ngữ thiểu số đó, cùng các thành viên khác của cộng đồng mình, không thể bị tước bỏ quyền có đời sống văn hóa riêng, quyền được theo và thực hành tôn giáo riêng, hoặc quyền được sử dụng tiếng nói riêng (Điều 27)... Bảo đảm quyền của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam là công việc của nhiều chủ thể, từ Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội, doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế và toàn cộng đồng xã hội. Đó còn là việc xử lý mối quan hệ giữa tôn trọng các giá trị phổ quát được ghi nhận trong các công ước quốc tế mà Việt Nam đã cam kết với tính toán đầy đủ những đặc thù trong bảo đảm quyền cho các dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (năm 1966) ghi: “Tại những nước có nhiều nhóm dân tộc thiểu số, tôn giáo và ngôn ngữ cùng chung sống, thì những cá nhân thuộc các dân tộc, tôn giáo, ngôn ngữ và các thiểu số đó, cùng với những thành viên khác của cộng đồng mình, không thể bị tước bỏ quyền được thụ hưởng nền văn hóa riêng, quyền được thể hiện và thực hành tôn giáo riêng hoặc quyền được sử dụng tiếng nói riêng của họ” (Điều 3). Phù hợp với các Công ước quốc tế về quyền con người, pháp luật Việt Nam đã ghi nhận và bảo đảm đầy đủ quyền của dân tộc thiểu số. Hiến pháp Việt Nam năm 2013 đã ghi nhận: “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là quốc gia thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam. Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc. Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt. Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình. Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để các dân tộc thiểu số phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước” (Điều 5); Các quy định về quyền bình đẳng giữa các dân tộc trong Hiến pháp được thể chế bằng chế định về Hội đồng Dân tộc (Điều 75). Ngoài ra, quyền bình đẳng giữa các dân tộc còn được ghi nhận và cụ thể hóa trong nhiều văn bản pháp luật khác của Việt Nam, như Luật Quốc tịch năm 2008 (Điều 1) khẳng định sự bình đẳng về quyền có quốc tịch của các dân tộc thiểu số; Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (Điều 29), Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (Điều 20), Luật Tố tụng hành chính 2015 (Điều 17, Điều 21) quy định về quyền bình đẳng của mọi công dân trong tiến hành tố tụng và quyền được sử dụng tiếng nói, chữ viết của các dân tộc trong quá trình tiến hành tố tụng. Đây chính là những quy định bảo vệ quyền của người dân tộc thiểu số trong việc bảo đảm sự bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật và tòa án. Bộ luật Hình sự năm 1999 (Điều 1) xác định một trong những nguyên tắc của luật hình sự là bảo vệ quyền bình đẳng giữa đồng bào các dân tộc. Luật Bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 (Điều 8, Điều 9) quy định về sự tham gia bình đẳng của các dân tộc thiểu số vào việc bầu cử, ứng cử đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân... Về quyền giữ gìn bản sắc văn hóa, Hiến pháp năm 2013 (Điều 5) ghi rõ: “Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình; Điều 42 cũng ghi nhận: “Công dân có quyền xác định dân tộc của mình, sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ, lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp”. Trong nhiều văn bản pháp luật khác, trong đó bao gồm Bộ luật Dân sự năm 2015 (các điều 5, 7, 26, 29) quy định về việc áp dụng tập quán, chính sách đối với quan hệ dân sự, quyền có họ, tên, quyền xác định, xác định lại dân tộc. Pháp luật Việt Nam cũng ghi nhận quyền được Nhà nước hỗ trợ để phát triển về mọi mặt. Hiến pháp năm 2013 quy định: “Nhà nước, xã hội đầu tư phát triển sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc sức khỏe của nhân dân, thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân, có chính sách ưu tiên chăm sóc sức khỏe cho đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào ở miền núi, hải đảo và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn” (Điều 58); “Nhà nước ưu tiên phát triển giáo dục ở miền núi, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn...” (Điều 61). Luật Giáo dục năm 2005 (Điều 61, Điều 82) quy định về việc Nhà nước thành lập các trường phổ thông dân tộc nội trú, dân tộc bán trú, dự bị đại học cho con em dân tộc thiểu số và chính sách luân chuyển cán bộ quản lý giáo dục công tác ở các vùng dân tộc thiểu số được học tiếng dân tộc thiểu số để nâng cao chất lượng dạy và học; Luật Khám, chữa bệnh năm 2009 (Điều 4) quy định về chính sách của Nhà nước về khám, chữa bệnh cho đồng bào dân tộc thiểu số, được ưu tiên bố trí ngân sách đáp ứng nhu cầu khám bệnh, chữa bệnh cơ bản của nhân dân... Luật Hộ tịch năm 2014 quy định về thẩm quyền đăng ký thay đổi, cải chính, bổ sung hộ tịch, xác định lại dân tộc, thủ tục đăng ký thay đổi, cải chính, bổ sung hộ tịch, xác định lại dân tộc (Điều 46, Điều 47). Bộ luật Lao động năm 2012 nghiêm cấm hành vi phân biệt đối xử về dân tộc (Điều 8)... Đó là những bằng chứng thực tiễn - pháp lý sinh động cho thấy quyền của các dân tộc thiểu số đã được tôn trọng, ghi nhận, thực thi và bảo vệ. Thứ ba, mối quan hệ giữa quyền của thành viên dân tộc và quyền tập thể dân tộc.  Đây là mối quan hệ rất cơ bản trong quá trình bảo đảm quyền dân tộc và đấu tranh chống lợi dụng vấn đề dân tộc của các thế lực thù địch. Quyền cá nhân con người thuộc mọi dân tộc đều bình đẳng trước pháp luật, thống nhất giữa quyền cá nhân và quyền tập thể cộng đồng dân tộc được đặt chung trong quyền của quốc gia - dân tộc. Bình đẳng về quyền con người đã được Hiến pháp năm 2013 và các luật ghi nhận đầy đủ. Tuy nhiên, do xuất phát điểm thấp, điều kiện địa lý cách biệt, các rào cản về ngôn ngữ, nên khả năng thực hiện quyền của đồng bào dân tộc thiểu số thường bị hạn chế. Bởi vậy, bảo đảm quyền này phải được ưu tiên trong các chính sách phát triển. Các quyền đều có thể được thực hiện thông qua hai hình thức: trực tiếp và gián tiếp, từ quyền chính trị, quyền văn hóa, quyền tiếp cận các nguồn lực phát triển, quyền an sinh và phát triển,... Quyền chính trị được thực hiện bằng hình thức dân chủ trực tiếp hoặc hình thức dân chủ đại diện. Trong điều kiện đa tộc người cư trú phân tán và xen kẽ, các dân tộc có trình độ và quy mô dân số khá cách biệt,... thì dân chủ đại diện đóng vai trò rất quan trọng nhằm bảo đảm quyền chính trị của các dân tộc thiểu số, thông qua lựa chọn cơ cấu những người thật sự tiêu biểu của các dân tộc vào hệ thống chính trị các cấp. Dân chủ đại diện có ưu thế trong lựa chọn được những đại biểu ưu tú tham gia các cơ cấu chính trị mà dân chủ trực tiếp không thể thay thế được và nhờ đó khắc phục những hạn chế của trình độ và quy mô dân số quá chênh lệch giữa các dân tộc, thậm chí những dân tộc có dân số rất ít, dưới 10.000 người. Thông qua phát huy hình thức dân chủ đại diện mà các dân tộc thiểu số, đặc biệt là các tộc người thiểu số có dân số ít, thực hiện quyền tham dự chính trị, qua đó phản ánh ý chí của đồng bào các dân tộc, đưa lợi ích, nguyện vọng của đồng bào vào các nghị trình, hoạt động hoạch định chính sách cũng như tổ chức thực thi chính sách có hiệu quả. Kết quả các cuộc bầu cử Quốc hội, Hội đồng nhân dân những kỳ gần đây cho thấy việc bảo đảm quyền tham dự chính trị của đại diện cộng đồng các dân tộc thiểu số. Ngày 9-6-2016, Hội đồng Bầu cử quốc gia đã công bố Nghị quyết về kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV. Theo đó, có 86/496 đại biểu trúng cử, tương ứng 17,30% tổng số đại biểu trúng cử, là người dân tộc thiểu số. Trong 4 nhiệm kỳ Quốc hội gần đây, tỷ lệ đại biểu Quốc hội là người dân tộc thiểu số chiếm từ 15,6% đến 17,27% (so với tỷ lệ dân số các dân tộc thiểu số chiếm 14,3% trong tổng dân số cả nước). Trong tổng số 500 đại biểu Quốc hội khóa XIII, có 78 đại biểu Quốc hội là người dân tộc thiểu số thuộc 29 dân tộc khác nhau, đến từ 26 tỉnh, thành phố (chiếm tỷ lệ 15,6%). Đại biểu là người dân tộc thiểu số tham gia Hội đồng nhân dân cấp tỉnh nhiệm kỳ 2011 - 2016 là 688 người, chiếm 18%; cấp huyện là 4.237 người, chiếm 20,1%; cấp xã là 62.383 người, chiếm 22,46%. Số lượng đại biểu Quốc hội là người dân tộc thiểu số khóa XII là 87, chiếm 17,6%. Số lượng đại biểu Quốc hội là người dân tộc thiểu số khóa XI là 86, chiếm 17,2%. Như vậy, đại biểu là người dân tộc thiểu số luôn chiếm một phần tỷ lệ lớn trong tổng số các đại biểu nói chung xét trên tổng dân số. Theo điều tra dân số cả nước tại thời điểm ngày 1-4-2009, dân số Việt Nam có 85.846.997 người, trong đó có 54 dân tộc và người nước ngoài cùng sinh sống, dân tộc Kinh có 73.594.427 người, chiếm 85,7%, các dân tộc thiểu số chiếm 14,3 % tổng dân số. Thứ tư, về giải quyết mối quan hệ giữa quyền con người với quyền công dân, quyền dân tộc - tộc người với quyền quốc gia - dân tộc của đồng bào các dân tộc thiểu số.  Đây là mối quan hệ rất cơ bản, quan trọng cần được nhận thức thấu đáo và tổ chức thực hiện nghiêm túc trong quá trình bảo đảm quyền của các dân tộc thiểu số và đấu tranh chống lợi dụng vấn đề dân tộc. Không ít cư dân các dân tộc thiểu số, nhất là các nhóm cư dân thường di cư xuyên biên giới chỉ xem trọng ý thức dân tộc - tộc người, quyền dân tộc - tộc người mà xem nhẹ ý thức công dân và quyền của quốc gia - dân tộc. Điều này thường bị các thế lực thù địch lợi dụng, cường điệu hóa ý thức dân tộc - tộc người, hạ thấp hoặc phủ nhận ý thức công dân, kích động chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa ly khai. Trong lịch sử nước ta, trong đồng bào các dân tộc đều đã hình thành và phát triển ý thức quốc gia - dân tộc, “đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt”, đều xác định “nước Việt Nam là nước chung”(5) như Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định trong Thư gửi Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam tại Plâycu (tháng 4-1946). Đó là chất keo gắn bó, đoàn kết các dân tộc trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước, cùng chung sức xây dựng nên nước Việt Nam có hình thái lãnh thổ và kết cấu đa dân tộc như ngày nay. Vì vậy, giáo dục ý thức công dân, tinh thần quốc gia - dân tộc cho các dân tộc thiểu số là một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng trong quá trình bảo đảm quyền của các dân tộc. Bởi vì, cư dân thuộc bất cứ thành phần dân tộc nào trong thời đại ngày nay cũng đều phải định cư, sinh sống, hoạt động kinh tế trong lãnh thổ quốc gia nhất định, thực hiện quyền và nghĩa vụ với một nhà nước - dân tộc nhất định. Chính trên lãnh thổ quốc gia - dân tộc và nằm dưới sự quản lý của nhà nước quốc gia - dân tộc mà thành viên của dân tộc đó trở thành công dân, có điều kiện thực hiện các quyền và nghĩa vụ chính đáng của mình. Do đó, thống nhất giữa ý thức dân tộc - tộc người với ý thức công dân, giữa quyền con người và quyền công dân, giữa quyền và nghĩa vụ là những vấn đề rất cơ bản trong quá trình bảo đảm quyền của các dân tộc thiểu số. Thứ năm, về mối quan hệ giữa tính phổ biến và tính đặc thù trong bảo đảm quyền của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam.  Tính phổ biến xuất phát từ các giá trị phổ quát của quyền con người, bất luận đó là người thuộc dân tộc thiểu số hay dân tộc đa số, dân tộc thiểu số dân số lớn hay dân tộc thiểu số dân số ít, nhất là các quyền an sinh và phát triển. Tính đặc thù xuất phát từ đặc điểm vấn đề dân tộc và quan hệ dân tộc - tộc người, từ trình độ phát triển của từng dân tộc và của quốc gia - dân tộc, từ bản sắc văn hóa các tộc người thiểu số ở nước ta. Tính đặc thù có thể xem xét ở cả cấp độ quốc gia - dân tộc, cấp độ vùng và cấp độ địa phương. Ở cấp độ quốc gia, Nhà nước ghi nhận đầy đủ quyền dân tộc trong Hiến pháp, pháp luật; cơ cấu hợp lý đại diện các dân tộc trong Quốc hội, Chính phủ, các bộ/ngành; bảo đảm quyền tham gia của các dân tộc thiểu số trong hoạch định và thực thi chính sách. Tuy nhiên, chính ở cấp độ vùng và địa phương mới có điều kiện thể hiện tính đa dạng của dân tộc - tộc người, của nhóm địa phương trong quá trình triển khai thực thi các chính sách bảo đảm quyền của các dân tộc thiểu số. Trong điều kiện mô hình nhà nước đơn nhất, cần thiết phải có sự phân cấp hợp lý cho các địa phương trong hoạch định các chủ trương mang tính địa phương, để bảo đảm thể hiện được đầy đủ tính địa phương và tính dân tộc - tộc người trong mỗi chính sách quản lý và phát triển, trong cơ cấu hệ thống chính trị địa phương, sâu xa là bảo đảm tốt hơn quyền của các dân tộc thiểu số. Tại địa phương, tùy quy mô dân số dân tộc - tộc người, mức độ xen cài giữa các dân tộc thiểu số và dân tộc đa số, giữa dân tộc thiểu số tại chỗ và dân tộc mới đến, giữa dân tộc thiểu số có dân số lớn với dân tộc thiểu số có dân số ít... mà lựa chọn những mô hình quản lý và phát triển phù hợp. Hiện nay, ở tất cả các xã và thôn, làng dân tộc thiểu số, thể chế nhà nước đã được thiết lập với bộ máy khá hoàn bị. Nhưng không vì thế mà xem nhẹ vai trò của luật tục, thiết chế xã hội truyền thống trong quản lý xã hội, bản sắc văn hóa địa phương. Các thiết chế xã hội truyền thống luôn tồn tại song hành với thiết chế nhà nước, thậm chí ở nhiều nơi các thiết chế xã hội truyền thống có ảnh hưởng rất sâu đậm trong đời sống đồng bào các dân tộc. Trong bộ máy quản lý nhà nước hiện nay thôn, làng được coi là đơn vị dân cư, đơn vị xã hội cơ sở nhưng không phải là một cấp hành chính. Mỗi thôn, làng có một người đứng đầu với chức danh là “trưởng thôn”, “trưởng bản”, vừa tuân thủ luật pháp nhà nước, vừa điều hành theo luật tục trong quản lý các đơn vị dân cư, thậm chí người dân thường tự nguyện chấp hành luật tục hơn là chế tài của pháp luật. Vì thế, chú ý đầy đủ tính địa phương và tính tộc người trong mỗi chính sách quản lý và phát triển bên cạnh tăng cường tính thống nhất quản lý của chính quyền Trung ương là những vấn đề lớn cần quan tâm trong chính sách dân tộc. Bảo đảm quyền của các dân tộc thiểu số và đấu tranh chống lợi dụng vấn đề dân tộc là những vấn đề lớn cần được nhận thức, xử lý đầy đủ, thấu đáo trong thực hiện chính sách dân tộc ở nước ta hiện nay./. ---------------------------------------------------------- (1) UN Declaration on the Rights of Persons Belonging to National or Ethnic, Religious and Linguistic Minorities, 1992 (2) The Council of Europe’s Framework Convention for the protection of national minorities, 1995 (3) The European Charter for Regional or Minority Languages, 1992 (4) The Lund Recommendations on the Effective Participation of National Minorities in Public Life, 1999 (5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb, Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 4, tr. 249  Đoàn Minh Huấn PGS, TS, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản Link bài viết: http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/Nghiencuu-Traodoi/2017/47487/Bao-dam-quyen-cua-cac-dan-toc-thieu-so-va-dau-tranh.aspx    
1. Trẻ em khuyết tật và quyền của trẻ em khuyết tật             Trẻ em là một thuật ngữ được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau. Công ước của Liên hiệp quốc (LHQ) về Quyền trẻ em quy định: “Trẻ em có nghĩa là bất kỳ người nào dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật có thể được áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn”[1]. Trong một số trường hợp, khái niệm trẻ em cũng được tiếp cận dưới góc độ người chưa thành niên. Theo đó, người chưa thành niên được xác định “là trẻ em hay người trẻ tuổi”[2]. Thuật ngữ người chưa thành niên có nội hàm cùng thuật ngữ trẻ em cũng được quy định trong Bản quy tắc của LHQ về Bảo vệ người chưa thành niên bị tước quyền tự do, theo đó, “người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi”[3]. Sự giao thoa của hai khái niệm trẻ em và người chưa thành niên cũng được ghi nhận trong Từ điển Black is Law Dictionary, “người chưa thành niên là trẻ em và trẻ em là người dưới 18 tuổi”[4] . Trong khi đó, pháp luật Việt Nam lại tiếp cận khái niệm trẻ em và người chưa thành niên dưới các khía cạnh khác nhau. Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, người chưa thành niên được xác định: “Người từ đủ mười tám tuổi trở lên là người thành niên. Người chưa đủ mười tám tuổi là người chưa thành niên”[5]. Trong khi đó, Luật Trẻ em xác định: “Trẻ em là người dưới 16 tuổi”[6]. Thuật ngữ người khuyết tật cũng được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau. Có quan điểm cho rằng, người khuyết tật là “công dân hạng hai”[7], người thuật ngữ khuyết tật được xếp đồng nghĩa với thuật ngữ người tàn tật. Có quan điểm tiếp cận người khuyết tật dưới góc độ từ thiện. Do đó, người khuyết tật cần sự trợ giúp đặc biệt từ phía xã hội và người khuyết tật khó có cơ hội hoà nhập vào môi trường xung quanh cũng như khả năng thay đổi môi trường sống và sự tác động đến ý thức hệ của cộng đồng đối với họ. Với cách tiếp cận này, họ thụ động trong cách được hưởng các quyền mà pháp luật quy định. Có quan điểm tiếp cận người khuyết tật dưới góc độ y tế, theo đó, người khuyết tật được Nhà nước chữa trị và với mục tiêu làm cho người khuyết tật trở lại trạng thái bình thường bằng can thiệp y tế[8]. Bên cạnh đó, tiếp cận dựa trên quyền của người khuyết tật cũng nhận được nhiều sự quan tâm của xã hội[9]. Mặc dù có nhiều cách tiếp cận khác nhau, tuy nhiên những cách tiếp cận đó đã góp phần tạo ra một bước đột phá mới trong tư duy, nhận thức của cộng đồng về quyền đối với người khuyết tật nói chung và trẻ em khuyết tật nói riêng ở nước ta.   Theo quy định của Công ước về Quyền của người khuyết tật năm 2006, người khuyết tật “bao gồm những người bị suy giảm về thể chất, thần kinh, trí tuệ hay giác quan trong một thời gian dài, có ảnh hưởng qua lại với hàng loạt những rào cản có thể cản trở sự tham gia đầy đủ với hiệu quả của người khuyết tật vào xã hội trên cơ sở bình đẳng với những người khác”[10]. Phù hợp với Công ước quốc tế, trẻ em khuyết tật có thể được hiểu là: “Người dưới 16 tuổi có sự biến đổi bất thường về hình thái hay chức năng của bộ phận nào đó trong cơ thể gây ảnh hưởng đáng kể đến các hoạt động của cuộc sống trên cơ sở bình đẳng với những người khác”. Quyền của người khuyết tật nói chung và trẻ em khuyết tật nói riêng được ghi nhận trong rất nhiều văn kiện quốc tế[11] và pháp luật quốc gia[12]. Quyền của trẻ em khuyết tật được xem là những thuộc tính tự nhiên gắn với chính bản thân họ. Trẻ em khuyết tật được hưởng các quyền con người một cách bình đẳng, không bị phân biệt đối xử với các đối tượng khác trong xã hội. Mặt khác, trẻ em khuyết tật cũng tham gia vào cộng đồng như những công dân thực thụ khi tiếp cận và thực hiện các loại quyền đã được thừa nhận dưới phương diện pháp lý. Theo đó, quyền của trẻ em khuyết tật có những đặc trưng cơ bản của quyền con người nói chung như: i) tính phổ biến; ii) tính đặc thù; iii) tính không thể bị tước bỏ; iv) tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau giữa các quyền[13]. 2. Nội dung quyền của trẻ em khuyết tật 2.1 Quyền chăm sóc sức khoẻ         Theo quy định của pháp luật nước ta, Nhà nước có chính sách để hỗ trợ, bảo đảm mọi trẻ em nói chung và trẻ em khuyết tật nói riêng được chăm sóc sức khỏe, ưu tiên cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, trẻ em thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, trẻ em dân tộc thiểu số, trẻ em đang sinh sống tại các xã biên giới, miền núi, hải đảo và các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Đồng thời, pháp luật cũng quy định, Nhà nước bảo đảm thực hiện các biện pháp theo dõi sức khỏe định kỳ cho trẻ em theo độ tuổi, chăm sóc dinh dưỡng, sức khỏe ban đầu và tiêm chủng cho trẻ em; phòng, chống tai nạn, thương tích trẻ em, tư vấn và hỗ trợ trẻ em trong việc chăm sóc sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục phù hợp với độ tuổi theo quy định của pháp luật. Nhà nước đóng, hỗ trợ đóng bảo hiểm y tế cho trẻ em theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế phù hợp với độ tuổi, nhóm đối tượng và phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội từng thời kỳ. Nhà nước khuyến khích cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân ủng hộ, đầu tư nguồn lực để bảo vệ và chăm sóc sức khỏe cho trẻ em, ưu tiên cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt. Trẻ em khuyết tật được khám bệnh, chữa bệnh và sử dụng các dịch vụ y tế phù hợp, được hưởng chính sách bảo hiểm y tế. Pháp luật cũng khuyến khích tổ chức, cá nhân hỗ trợ thực hiện khám bệnh, chữa bệnh cho người khuyết tật và quy định trách nhiệm của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh. Trẻ em khuyết tật được thực hiện biện pháp khám bệnh, chữa bệnh phù hợp, trong trường hợp trẻ em khuyết tật đặc biệt nặng và trẻ em khuyết tật nặng có chế độ ưu đãi về khám bệnh, chữa bệnh. Ngoài ra, pháp luật cũng quy định các biện pháp phòng ngừa và phát hiện sớm khuyết tật; xác định khuyết tật bẩm sinh đối với trẻ em sơ sinh để kịp thời có biện pháp điều trị và chỉnh hình, phục hồi chức năng phù hợp. Trẻ em khuyết tật được phục hồi chức năng thông qua Viện Chỉnh hình, phục hồi chức năng; Trung tâm Chỉnh hình, phục hồi chức năng; Bệnh viện Điều dưỡng, phục hồi chức năng; Khoa Phục hồi chức năng của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; Bộ phận Phục hồi chức năng của cơ sở bảo trợ xã hội; cơ sở khác. Ngoài ra, trẻ em khuyết tật còn được tạo điều kiện, hỗ trợ phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng. 2.2 Quyền giáo dục             Giáo dục đào tạo được xem là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho con người là đầu tư cho quá trình phát triển. Đối với trẻ em khuyết tật, quyền giáo dục là một loại quyền đặc biệt. Loại quyền này gắn liền với hoạt động về trí tuệ và sử dụng trí tuệ là công cụ để tiếp thu các kiến thức được truyền thụ. Tuy nhiên, trẻ em khuyết tật về trí tuệ gặp những rào cản lớn khi thực thi loại quyền này. Chính vì vậy, pháp luật đã có những quy định mang tính ưu tiên cho đối tượng đặc thù này.             Pháp luật quy định về các ưu đãi đối với trẻ em khuyết tật như: được học tập phù hợp với nhu cầu và khả năng của người khuyết tật; được nhập học ở độ tuổi cao hơn so với độ tuổi quy định đối với giáo dục phổ thông; được ưu tiên trong tuyển sinh; được miễn, giảm một số môn học hoặc nội dung và hoạt động giáo dục mà khả năng của cá nhân không thể đáp ứng; được miễn, giảm học phí, chi phí đào tạo, các khoản đóng góp khác; được xét cấp học bổng, hỗ trợ phương tiện, đồ dùng học tập. Ngoài ra, trẻ em khuyết tật cũng gặp những khó khăn nhất định trong quá trình thực thi quyền giáo dục vì các nhu cầu riêng cần được hỗ trợ trong quá trình học tập. Do đó, trẻ em khuyết tật được cung cấp phương tiện, tài liệu hỗ trợ học tập dành riêng trong trường hợp cần thiết; người khuyết tật nghe, nói được học bằng ngôn ngữ ký hiệu; người khuyết tật nhìn được học bằng chữ nổi Braille theo chuẩn quốc gia. Đặc biệt, pháp luật quy định ba hình thức giáo dục cho trẻ em khuyết tật bao gồm: giáo dục hòa nhập, giáo dục bán hòa nhập và giáo dục chuyên biệt. Đồng thời pháp luật cũng quy định trách nhiệm của cơ sở giáo dục, Trung tâm Hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập trong bảo đảm quyền giáo dục cho trẻ em khuyết tật. 2.3 Quyền dạy nghề và quyền làm việc             Dạy nghề giữ vai trò quan trọng tạo nguồn nhân lực bổ sung vào thị trường lao động, đặc biệt là nguồn nhân lực từ trẻ em khuyết tật. Để ghi nhận trẻ em khuyết tật được hưởng quyền dạy nghề, trong pháp luật đã ghi rõ trách nhiệm của Nhà nước trong việc hỗ trợ tạo điều kiện cho trẻ em khuyết tật học nghề, được tư vấn học nghề miễn phí, lựa chọn và học nghề theo khả năng, năng lực bình đẳng như những người khác. Pháp luật cũng quy định trách nhiệm của cơ sở dạy nghề trong việc bảo đảm điều kiện dạy nghề cho trẻ em khuyết tật. Pháp luật cũng mở ra nhiều cơ hội để giải quyết việc làm cho trẻ em khuyết tật sau khi được học nghề và bồi dưỡng đào tạo nâng cao trình độ.             Trong lĩnh vực việc làm, bảo đảm quyền làm việc và có việc làm luôn là bài toán khó mang tính toàn cầu, đặc biệt là quyền làm việc của trẻ em khuyết tật. Pháp luật quy định vai trò của Nhà nước trong điều tiết các quan hệ lao động, tạo mọi điều kiện để người khuyết tật tham gia vào thị trường lao động. Nhà nước tạo điều kiện để trẻ em khuyết tật phục hồi chức năng lao động, được tư vấn việc làm miễn phí, có việc làm và làm việc phù hợp với sức khỏe và đặc điểm của người khuyết tật. Pháp luật cũng quy định trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân không được từ chối tuyển dụng trẻ em khuyết tật có đủ tiêu chuẩn tuyển dụng vào làm việc hoặc đặt ra tiêu chuẩn tuyển dụng trái quy định của pháp luật nhằm hạn chế cơ hội làm việc của trẻ em khuyết tật. Ngoài ra, pháp luật cũng quy định trách nhiệm của người sử dụng lao động bố trí sắp xếp công việc, bảo đảm điều kiện và môi trường làm việc phù hợp cho trẻ em khuyết tật. Đồng thời, pháp luật cũng ghi nhận quyền bình đẳng trong lĩnh vực việc làm của trẻ em khuyết tật, quyền không bị phân biệt đối xử trong lĩnh vực việc làm, quyền tự tạo việc làm của trẻ em khuyết tật dưới sự bảo trợ của Nhà nước và sự hỗ trợ của người sử dụng lao động. Ngoài ra, pháp luật cũng quy định trách nhiệm và chế độ ưu đãi của người sử dụng lao động khi sử dụng trẻ em khuyết tật vào làm việc. Các ưu đãi dành cho doanh nghiệp thông thường là những ưu đãi về thuế, sự hỗ trợ về vốn, kỹ thuật, vật tư cho các doanh nghiệp sử dụng trẻ em khuyết tật. 2.4 Quyền bảo trợ xã hội    Bảo trợ xã hội được xem là một bộ phận của hệ thống an sinh xã hội. Vì vậy,khi đánh giá tốc độ phát triển văn minh của một quốc gia, tiêu chí để đo lường chính là hệ thống an sinh xã hội trong quốc gia đó. Thông qua bảo trợ xã hội, Nhà nước tiến hành phân phối lại thu nhập cho người nghèo và những người dễ bị tổn thương, trẻ em khuyết tật, tác động lên nghèo đói và bất bình đẳng xã hội. Pháp luật quy định chế độ trợ cấp xã hội, hỗ trợ kinh phí chăm sóc hàng thángcho trẻ em khuyết tật, trong đó, những đối tượng hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng bao gồm người khuyết tật đặc biệt nặng và người khuyết tật nặng. Để tạo điều kiện cho trẻ em khuyết tật được hưởng bảo trợ xã hội, pháp luật cũng ghi nhận đối tượng được hỗ trợ kinh phí chăm sóc hàng tháng, mức trợ cấp xã hội hàng tháng, mức hỗ trợ kinh phí chăm sóc hàng tháng đối với từng loại đối tượng trẻ em khuyết tật. Không chỉ thế, pháp luật cũng quy định chế độ nuôi dưỡng người khuyết tật trong cơ sở bảo trợ xã hội và các chế độ khác về bảo trợ xã hội cho trẻ em khuyết tật. Đồng thời, pháp luật quy định trách nhiệm của cơ sở chăm sóc trẻ em khuyết tật người khuyết tật trong việc tuân thủ điều kiện hoạt động của cơ sở chăm sóc trẻ em khuyết tật; thực hiện đầy đủ các quy chuẩn về nuôi dưỡng, cung cấp dịch vụ tư vấn, trợ giúp trẻ em khuyết tật tương ứng với từng loại cơ sở, thực hiện cải tạo, nâng cấp cơ sở vật chất chưa bảo đảm điều kiện tiếp cận đối với trẻ em khuyết tật. 3. Một số nhận xét, đánh giá quyền của trẻ em khuyết tật             Nhìn nhận một cách khách quan, quyền của trẻ em khuyết tật trong pháp luật nước ta về cơ bản đã bước đầu đáp ứng được những yêu cầu đặt ra trong các văn kiện pháp lý quốc tế về nhân quyền. Hệ thống pháp luật Việt Nam đã góp phần quan trọng trong việc ghi nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền của trẻ em khuyết tật. Thông qua hành lang pháp lý này, việc thực thi quyền của trẻ em khuyết tật ngày càng được củng cố, bảo vệ và phát triển phù hợp với điều kiện kinh tế, chính trị và xã hội Việt Nam. Bên cạnh đó, trong điều kiện hội nhập và toàn cầu hoá quốc tế như hiện nay, pháp luật về quyền của trẻ em khuyết tật vẫn còn những những hạn chế sau đây:             Thứ nhất, quy định của pháp luật về quyền của trẻ em khuyết tật còn tản mạn ở nhiều văn bản pháp luật; việc xác định độ tuổi trẻ em chưa phù hợp với thông lệ quốc tế.    - Quyền của trẻ em khuyết tật được điều chỉnh trong các văn bản pháp luật khác nhau như: Hiến pháp, Luật Trẻ em, Luật Người khuyết tật, Bộ luật Lao động và nhiều văn bản dưới luật. Điều này tạo ra những khó khăn nhất định trong quá trình tổ chức thi hành.    - Các văn bản pháp lý quốc tế xác định độ tuổi trẻ em mang tính mở; trong đó, xác định độ tuổi trẻ em có nội hàm với độ tuổi của lao động chưa thành niên. Trong khi đó, biên độ để xác định độ tuổi trẻ em của pháp luật nước ta thấp hơn so với thông lệ quốc tế. Điều này gây khó khăn trong cách xác định các biện pháp bảo đảm quyền của trẻ em khuyết tật.    Thứ hai, quy định của  pháp luật về việc làm cho trẻ em khuyết tật còn thiếu cụ thể, ảnh hưởng tới việc bảo đảm quyền có việc làm của trẻ em.    Quy định của pháp luật về việc làm cho trẻ em khuyết tật còn mang tính định khung, chủ yếu dưới dạng khuyến khích, kêu gọi, khẩu hiệu, chưa quy định cụ thể những vấn đề liên quan đến chính sách miễn giảm, ưu đãi về thuế, quỹ quốc gia về việc làm, nguồn kinh phí và cách thực hiện nguồn kinh phí để bảo đảm và thực thi chính sách đối với trẻ em khuyết tật… Đặc biệt, quy định cơ sở sản xuất, kinh doanh sử dụng từ 30% tổng số lao động trở lên là người khuyết tật nói chung và trẻ em khuyết tật nói riêng được hỗ trợ, ưu đãi tuỳ theo tỷ lệ lao động là người khuyết tật, mức độ khuyết tật của người lao động và quy mô doanh nghiệp là một bất cập, thiếu sự bình đẳng giữa cơ sở sản xuất, kinh doanh có sử dụng lao động là người khuyết tật với cơ sở sản xuất, kinh doanh không sử dụng lao động là người khuyết tật. Thứ ba, quy định về dạy nghề cho trẻ em khuyết tật chưa đầy đủ. Quy định của pháp luật về dạy nghề cho trẻ em khuyết tật còn bỏ trống nhiều vấn đề như: i) chưa luật hoá các tiêu chí về cơ sở doanh nghiệp và cơ sở sản xuất kinh doanh sử dụng nhiều lao động trẻ em khuyết tật; ii) chưa quy định trẻ em khuyết tật được học nghề, bổ túc nghề, đào tạo lại nghề tại các cơ sở dạy nghề được miễn, giảm học phí; iii) chưa luật hoá các nội dung liên quan đến vấn đề giúp đỡ lao động là người khuyết tật phục hồi chức năng lao động. Chưa luật hoá các điều kiện, nội dung, hình thức và cơ chế hỗ trợ trẻ em khuyết tật phục hồi chức năng lao động, chưa quy định cụ thể trách nhiệm của các doanh nghiệp trong tạo điều kiện hỗ trợ, giúp đỡ trẻ em khuyết tật bị tai nạn lao động được phục hồi chức năng lao động. Ngoài ra, quy định về mức hỗ trợ học phí, đào tạo nâng cao trình độ, chuyển đổi nghề còn thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra. Đặc biệt, thiếu vắng các danh mục nghề đào tạo đối với các dạng tật, danh mục đối với các cơ sở đăng ký đào tạo nghề cho trẻ em khuyết tật… Thứ tư, quy định về mức bảo trợ xã hội cho trẻ em khuyết tật chưa đáp ứng yêu cầu hiện nay. Pháp luật hiện hành quy định mức chuẩn để xác định mức trợ cấp xã hội hàng tháng là 270.000 đồng (hệ số 1). Khi mức sống tối thiểu của dân cư thay đổi thì mức chuẩn trợ cấp cũng sẽ thay đổi cho phù hợp với tình hình thực tế của từng đối tượng bảo trợ xã hội. Trong khi đó, hiện nay mức lương tối thiểu chung áp dụng tính chế độ bảo hiểm xã hội, tính mức lương cho cán bộ, công chức, viên chức là 1.300.000 đồng. Nếu căn cứ vào mức tiền lương tối thiểu như hiện nay, thì rõ ràng sự thay đổi mức trợ cấp cho trẻ em khuyết tật hưởng bảo trợ xã hội chưa đáp ứng được tình hình hiện nay. Điều này dẫn đến sự bất hợp lý giữa mức thụ hưởng của trẻ em khuyết tật và sự thay đổi của điều kiện kinh tế - xã hội. Thứ năm, cơ chế đảm bảo việc thực hiện quyền của trẻ em khuyết tật chưa đáp ứng yêu cầu. Thực tế thực hiện các cơ chế bảo vệ quyền của trẻ em khuyết tật cho thấy, cơ chế thúc đẩy, bảo vệ và phòng ngừa để nâng cao hiệu quả thực thi quyền của trẻ em khuyết tật chưa được chú trọng. Đặc biệt là cơ chế phòng ngừa thông qua các kênh tuyên truyền, truyền thông, tư vấn, thông tin, tập huấn… chưa đáp ứng được yêu cầu bảo vệ quyền trẻ em khuyết tật hiện nay. Thứ sáu, chế tài áp dụng đối với các hành vi vi phạm quyền của trẻ em khuyết tật chưa tương xứng với yêu cầu bảo vệ quyền trẻ em khuyết tật. Pháp luật quy định trường hợp cơ quan, tổ chức, cá nhân vi phạm quy định của pháp luật về quyền của trẻ em khuyết tật thì tuỳ theo mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷluật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự[14]. Tuy nhiên, khi cóhành vi vi phạm pháp luật về quyền của trẻ em khuyết tật xảy ra thì việc áp dụng chế tài lại nằm rải rác ở nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau, gây rất nhiều khó khăn cho các chủ thể trong quá trình áp dụng.             Trong thời gian tới, để nâng cao chất lượng và hiệu quả thực thi quyền của trẻ em khuyết tật, chúng ta cần hoàn thiện quy định của pháp luật về quyền trẻ em khuyết tật nhằm sớm khắc phục những hạn chế nêu trên. Đồng thời, cần chú trọng việc xây dựng một cách có hiệu quả các cơ chế thực hiện quyền của trẻ em khuyết tật; đẩy mạnh cơ chế bảo vệ thông qua các cơ quan quản lý về trẻ em khuyết tật; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát của các cơ quan quản lý trong bảo đảm việc thực hiện quyền của trẻ em khuyết tật kết hợp với cơ chế phòng ngừa, thường xuyên tuyên truyền và tập huấn quyền của trẻ em khuyết tật./.                                 ________________________________________ [1] Điều 1 Công ước LHQ về Quyền trẻ em. [2] Điểm 2 Bản quy tắc Tiêu chuẩn tối thiểu của tổ chức LHQ về áp dụng pháp luật người chưa thành niên được Đại hội đồng LHQ thông qua ngày 29/11/1985. [3] Bản quy tắc của LHQ về bảo vệ người chưa thành niên bị tước quyền tự do được Đại hội đồng LHQ thông qua ngày 14/12/1990. [4] Trần Thắng Lợi ( 2012), Hoàn thiện pháp luật về lao động chưa thành niên trong điều kiện hội nhập quốc tế. [5] Quốc hội (2015), Bộ luật Dân sự. [6] Điều 1 Luật Trẻ em. [7] Đào Mộng Điệp, Thực trạng và định hướng nghiên cứu, giảng dạy pháp luật về người khuyết tật tại Trường Đại học Luật Huế, Hội thảo khoa học “Chia sẻ kinh nghiệm giảng dạy và nghiên cứu pháp luật người khuyết tật trong các cơ sở đào tạo luật”, Đại học Luật Hà Nội, 2015. [8] Đào Mộng Điệp, Thực trạng và định hướng nghiên cứu, giảng dạy pháp luật về người khuyết tật tại Trường Đại học Luật Huế, tlđd. [9] Nguyễn Trung, Giảng dạy ngoại khoá Luật Người khuyết tật Việt Nam – Cảm nghĩ của một cộng tác viên, Tạp chí Luật học, 10/2013. [10] Điều 1 Công ước về Quyền của người khuyết tật năm 2006. [11] Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền năm 1948; Công ước về các Quyền dân sự, chính trị năm 1966; Tuyên bố về Quyền của những người thiểu năng tâm thần năm 1971; Tuyên bố về Quyền của người khuyết tật năm 1975; Các nguyên tắc về bảo vệ người bị thiểu năng tâm thần và tăng cường chính sách sức khoẻ tâm thần năm 1991; Các quy tắc tiêu chuẩn về bình đẳng hoá các cơ hội cho người khuyết tật năm 1993; Công ước của LHQ về Quyền của người khuyết tật năm 2006; Công ước số 100 về Trả công bình đẳng giữa lao động nam và lao động nữ cho một số công việc có giá trị ngang nhau năm 1951; Công ước số 111 về Phân biệt đối xử trong việc làm và nghề nghiệp năm 1958; Công ước số 159 về Phục hồi chức năng lao động và việc làm của người khuyết tật năm 1983; Bản Quy tắc thực hành trong quản lý người khuyết tật tại công sở năm 2002… [12] Việt Nam đã ban hành Hiến pháp năm 2013, Luật Trẻ em năm 2016, Luật Người khuyết tật năm 2010, Bộ luật Lao động năm 2012, Luật Giáo dục và nghề nghiệp… và các nghị định hướng dẫn thi hành để tạo hành lang pháp lý cho trẻ em khuyết tật được bảo vệ và thực thi có hiệu quả quyền của mình trên thực tế.          [13] Xem thêm Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2009; Tài liệu một số kiến thức pháp luật về quyền con người dành cho giáo viên dạy môn Giáo dục công dân, môn Pháp luật, Nguyễn Duy Lãm, Nguyễn Thị Tố Nga (CB), Bộ Tư pháp, 2012; Vũ Ngọc Bình, LHQ và pháp luật quốc tế về quyền con người , http://www.crights.org.vn/home.asp?id-107&langid=1. [14] Điều 105 Luật Trẻ em. Đào Mộng Điệp, TS. Khoa Luật Kinh tế, Đại học Luật Huế; Phan Vĩnh Tuấn Anh, Đại học Luật Huế.   Link bài viết: http://www.nclp.org.vn/nha_nuoc_va_phap_luat/quyen-cua-tre-em-khuyet-tat  
Giải phóng và phát triển toàn diện phụ nữ là một trong những mục tiêu của cách mạng Việt Nam. Trong 30 năm đổi mới, công tác phụ nữ của Đảng đạt bước tiến quan trọng, góp phần  nâng cao bình đẳng giới ở Việt Nam và sự phát triển của đất nước nói chung. Tuy vậy, tiếp tục đổi mới và tăng cường công tác phụ nữ là một yêu cầu cơ bản và cấp bách hiện nay. 1. Quá trình đổi mới nhận thức về công tác phụ nữ Thực hiện đường lối đổi mới toàn diện, nhiều chủ trương của Đảng về công tác quần chúng nói chung, công tác vận động phụ nữ, công tác cán bộ nữ nói riêng được ban hành, tạo điều kiện để phụ nữ phát triển và thúc đẩy bình đẳng giới. Nghị quyết số 8B - NQ/TW ngày 27/3/1990 của Ban Chấp hành Trung ương Về đổi mới công tác quần chúng của Đảng,chỉ đạo các cấp tăng cường mối quan hệ Đảng - nhân dân, xác định công tác vận động quần chúng là trách nhiệm của toàn hệ thống chính trị. Tiếp đó, Nghị quyết số 04-NQ/TW ngày 12/7/1993 của Bộ Chính trị Về đổi mới và tăng cường công tác vận động phụ nữ trong tình hình mới, Đảng khẳng định “Sự nghiệp giải phóng phụ nữ và công tác phụ nữ là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước, các đoàn thể nhân dân, của toàn xã hội và từng gia đình. Đường lối giải phóng phụ nữ phải được thể chế hóa và cụ thể hóa trong hệ thống pháp luật, chế độ, chính sách của Đảng và Nhà nước”(1), xácđịnh mục tiêu của công tác phụ nữ là “Xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc. Xây dựng người phụ nữ Việt Nam có sức khỏe, có kiến thức, năng động, sáng tạo, biết làm giàu chính đáng, quan tâm đến lợi ích xã hội và cộng đồng, có lòng nhân hậu”(2). Năm 2007, nhằm tiếp tục phát huy kết quả đạt được, tại Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 27/4/2007 Về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Bộ Chính trị khẳng định “phải chăm lo cho phụ nữ tiến bộ về mọi mặt, quan tâm đầy đủ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng để phụ nữ có điều kiện thực hiện tốt vai trò người công dân, người lao động, người mẹ, người thầy đầu tiên của con người; phát huy vai trò, tiềm năng to lớn của phụ nữ trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nâng cao địa vị phụ nữ, thực hiện bình đẳng giới trên mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội là một trong những nhiệm vụ và mục tiêu quan trọng của cách mạng Việt Nam trong thời kỳ mới”(3). Công tác phụ nữ được khẳng định rõ hơn “Công tác phụ nữ là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của toàn xã hội và từng gia đình. Trong đó, hạt nhân lãnh đạo là các cấp ủy đảng, trách nhiệm trực tiếp và chủ yếu là cơ quan quản lý nhà nước các cấp, vai trò chủ thể là phụ nữ mà nòng cốt là các cấp Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam”(4) theo hướng “phải sát hợp với từng đối tượng, vùng, miền, phát huy được tinh thần làm chủ, tiềm năng, sức sáng tạo và khả năng đóng góp cao nhất của các tầng lớp phụ nữ, góp phần tạo nên sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc để phát triển đất nước”(5). Trên cơ sở đó, Đảng định hướng nhận thức về công tác phụ nữ và bình đẳng giới; xây dựng, hoàn thiện và thực hiện tốt luật pháp, chính sách về bình đẳng giới, tạo điều kiện cho sự tiến bộ của phụ nữ. Xây dựng người phụ nữ Việt Nam có sức khỏe, tri thức, kỹ năng nghề nghiệp, năng động, sáng tạo, có lối sống văn hóa, có lòng nhân hậu; xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học nữ có trình độ cao, cán bộ lãnh đạo, quản lý nữ đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh CNH, HĐH. Hội Liên hiệp phụ nữ, từ “là tổ chức đại diện cho lợi ích của phụ nữ, là trung tâm tập hợp đoàn kết phụ nữ Việt Nam”(6)đã nâng lên là nòng cốt trong công tác phụ nữ.  Cùng với các giải pháp “đổi mới nội dung, tổ chức và phương thức hoạt động của Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam” (1993)(7), Đảng đã xác định việc “xây dựng, củng cố Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam thực sự vững mạnh, phát huy đầy đủ vai trò nòng cốt trong công tác vận động phụ nữ” (2007)(8). Đại hội XII của Đảng (2016) tiếp tục khẳng định quan điểm và chủ trương về công tác phụ nữ: “Nâng cao trình độ mọi mặt và đời sống vật chất, tinh thần của phụ nữ; thực hiện tốt bình đẳng giới, tạo điều kiện cho phụ nữ phát triển tài năng. Nghiên cứu, bổ sung và hoàn thiện luật pháp và chính sách đối với lao động nữ, tạo điều kiện và cơ hội để phụ nữ thực hiện tốt vai trò và trách nhiệm của mình trong gia đình và xã hội. Kiên quyết đấu tranh chống các tệ nạn xã hội và xử lý nghiệm minh theo pháp luật các hành vi bạo lực, buôn bán, xâm hại nhân phẩm phụ nữ”. Từ nhận thức phụ nữ là đối tượng vận động đến phụ nữ có vai trò chủ thể là bước tiến quan trọng trong đổi mới tư duy về công tác vận động quần chúng, đề cao tinh thần chủ động, tích cực. 2. Pháp luật, chính sách về công tác phụ nữ Quan điểm của Đảng về phụ nữ được thể chế hóa, chính sách, pháp luật ngày càng hoàn thiện. Hầu hết các quy định bảo đảm quyền bình đẳng với tư cách là công dân tham gia, đóng góp và hưởng thành quả trong các lĩnh vực chính trị, dân sự, kinh tế, xã hội và văn hóa. Các quy định pháp luật quan tâm đến bình đẳng giới trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt tập trung vào lĩnh vực lao động, giáo dục và kinh tế, bởi đó là động lực để giải quyết các vấn đề xã hội trong việc bảo đảm bình đẳng giới thực chất. Hệ thống luật pháp, chính sách ngày càng được hoàn thiện. Bộ luật Lao động (năm 2002) sửa đổi, bổ sung những nội dung liên quan đến chính sách đối với lao động nữ, bao gồm: bảo hiểm xã hội, tiền lương, bảo hộ lao động, đào tạo nghề. Luật Bình đẳng giới (2007)(9) thể hiện cam kết cao nhất của Nhà nước Việt Nam trong thực hiện Cương lĩnh hành động Bắc Kinh (1995) vì Bình đẳng giới, hòa bình và phát triển; Việt Nam đã nội luật hóa Công ước Liên Hợp quốc về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ; Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới (2011-2020). Đã cụ thể hóa mục tiêu thứ 3 về bình đẳng giới trong mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ của Liên Hợp quốc. Bên cạnh chính sách, pháp luật trên các lĩnh vực cơ bản nhất, Việt Nam cũng quan tâm các vấn đề đặc thù, như: ban hành Pháp lệnh về phòng, chống mại dâm (2003); Chương trình hành động, phòng, chống tội phạm buôn bán phụ nữ và trẻ em; và có những biện pháp hỗ trợ nạn nhân. Quốc hội thường xuyên giám sát về bình đẳng giới; Chính phủ có báo cáo hàng năm về kết quả thực hiện pháp luật về bình đẳng giới. Việt Nam đã tham gia nhiều công ước quốc tế, như Công ước về Xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW, năm 1981), ký các hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý với 12 nước, trong đó có Lào, Trung Quốc và Campuchia; tham gia các thoả thuận và tuyên bố quốc tế về phòng, chống mua bán người; là thành viên tích cực của các diễn đàn đa phương như Tiến trình Tư vấn khu vực châu Á - Thái Bình Dương; Tiến trình Bali về phòng, chống mua bán người và tội phạm xuyên quốc gia; Tuyên bố chung ASEAN về phòng, chống mua bán người... Những nỗ lực của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong việc hoạch định và triển khai các chủ trương, chính sách đã tạo bước chuyển mạnh mẽ trong bảo đảm các quyền bình đẳng giới; quyền được làm việc, được hưởng lương; quyền sở hữu, thừa kế và quyền lựa chọn bạn đời khi kết hôn hoặc ly hôn,... Trong quá trình đó, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam vận động nữ giới thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân, vừa hỗ trợ nữ giới phát huy vai trò, khả năng; tuyên truyền về bình đẳng giới trong xã hội nhằm chia sẻ gánh nặng công việc gia đình để phụ nữ phát triển. Hoạt động đó góp phần thúc đẩy tiến bộ xã hội. Thể hiện vai trò nòng cốt, tiên phong trong các hoạt động bình đẳng giới. Hội phụ nữ tập hợp rộng rãi nguyện vọng yêu cầu các tầng lớp phụ nữ đề xuất các chính sách phù hợp với phụ nữ, kết hợp giữa vận độngvà chăm lo; kết hợp giữa phổ biến kién thức pháp luật với nâng cao ý thức trách nhiệm của phụ nữ. Phần lớn phụ nữ tự ý thức về trách nhiệm của bản thân, giải quyết hài hòa, cân đối các công việc gia đình và xã hội. 3. Công tác phụ nữ đạt những thành tựu quan trọng Nhận thức xã hội về bình đẳng giới được nâng lên. Phụ nữ được tôn trọng và bình đẳng hơn, địa vị của người phụ nữ trong xã hội và gia đình ngày càng được nâng cao. Bình đẳng giới của Việt Nam được Liên Hợp quốc đánh giá là điểm sáng trong thực hiện các Mục tiêu thiên niên kỷ. Trong lĩnh vực chính trị, phụ nữ đóng góp tích cực vào xây dựng và thực thi pháp luật, chính sách; cử đại diện xứng đáng trong các cơ quan dân cử, cơ quan quản lý nhà nước và các đoàn thể chính trị - xã hội. Số lượng phụ nữ tham gia lãnh đạo ngày càng tăng, nhất là ở những vị trí cấp cao, như: ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, bộ trưởng, thứ trưởng và trong chính quyền các cấp... Việt Nam là một trong những nước có tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội cao trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Tỷ lệ nữ tham gia các cấp ủy Đảng nhiệm kỳ 2015-2020 tăng hơn nhiệm kỳ 2010-2015: cấp ủy viên là nữ cấp xã chiếm 19,69% (tăng 1,59%); cấp ủy viên là nữ ở cấp huyện chiếm 14,3% (tăng 0,3%); ở cấp tỉnh, nữ trong cấp ủy chiếm 13,3% (tăng 1,9%), trong Ban Thường vụ là 10,75%; có 3/63 tỉnh, thành phố có nữ Bí thư, chiếm 4,76%; nữ Phó Bí thư có 17 người chiếm 10,9%. Ở cấp Trung ương có 3 nữ là Ủy viên Bộ Chính trị chiếm 15,7%; có 20/200 nữ Ủy viên chiếm 10%(10). Trong chính quyền, ở cấp Trung ương có 1 nữ Phó Chủ tịch nước; nữ Bộ trưởng 2/22 (9%); Thứ trưởng 13 (9%, tăng so với khoá trước 3,6%); nữ vụ trưởng của cơ quan bộ và ngang bộ là 9,9%, nữ phó vụ trưởng là 20,7%. Ở cấp tỉnh có 1/63 Chủ tịch UBND là nữ (1,6%), nữ Phó Chủ tịch UBND chiếm 10,4%; nữ trưởng ngành cấp tỉnh là 10,5%. Cấp huyện, nữ Chủ tịch UBND là 3,6% (giảm 1,65% so với nhiệm kỳ trước); nữ Phó Chủ tịch UBND là 14,5% (tăng 6% so với nhiệm kỳ trước); lãnh đạo nữ trưởng ngành đạt 13,9%. Cấp xã, nữ Chủ tịch UBND là 3,42%, nữ Phó Chủ tịch UBND là 8,8%(11). Trong cơ quan dân cử: Tỷ lệ nữ Đại biểu Quốc hội khóa XIII là 24,2% (giảm 1,36% so với khóa XII); nữ đại biểu Hội đồng nhân cấp tỉnh là 25,17%; cấp huyện là 24,62%; cấp xã là 21,71%(12).  Đặc biệt, tại kỳ họp thứ 11 Quốc hội khóa XIII, ngày 31/3/2016, lần đầu tiên trong lịch sử, Quốc hội có nữ Chủ tịch đó là đồng chí Nguyễn Thị Kim Ngân 62 tuổi (sinh năm 1954), trúng cử với số phiếu 95,5%. Đây là mốc son trong lịch sử nữ quyền ở Việt Nam vì đã có phụ nữ được nắm giữ một trong 4 vị trí đứng đầu hệ thống chính trị. Trong lĩnh vực kinh tế - lao động, hơn 50% dân số, phụ nữ đang tham gia hầu hết các ngành nghề, công việc, đóng góp lớn vào thành tựu sản xuất, phát triển kinh tế xã hội. Nhiều phụ nữ giữ cương vị chủ chốt trong hoạt động quản lý doanh nghiệp. Quyền của phụ nữ về kinh tế đã được nâng lên với việc thực hiện pháp luật, quy định phụ nữ cùng đứng tên với nam giới trong giấy chứng nhận quyền sở hữu đất đai, nhà ở và tài sản. Cơ hội tiếp cận tín dụng của phụ nữ được cải thiện. Phụ nữ tham gia lực lượng lao động ngày càng nhiều hơn trong khu vực phi nông nghiệp, đặc biệt là các ngành, lĩnh vực kinh tế có yêu cầu kỹ thuật, công nghệ cao, vị thế việc làm của lao động nữ cũng có sự thay đổi tích cực, nhóm lao động làm công ăn lương tăng mạnh trong cơ cấu phân bố lao động (40% nữ)(13). Trong lĩnh vực khoa học - công nghệ, đội ngũ nữ trí thức Việt Nam trưởng thành cả về số lượng và chất lượng. Nhiều tập thể và cá nhân các nhà khoa học nữ có công trình nghiên cứu được nhận giải thưởng VIFOTEC của Liên hiệp các Hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam, Bằng lao động sáng tạo của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam: đặc biệt trí thức có giải thưởng riêng là Giải thưởng Phụ nữ Việt Nam, Giải thưởng Kôvalépxkaia... Nhiều nhà khoa học nữ đã chủ động lập ra các hội nghề nghiệp, các câu lạc bộ, trung tâm nghiên cứu, tư vấn để phát huy trí tuệ, tài năng của mình đóng góp vào sự nghiệp phát triển đất nước. Trong lĩnh vực giáo dục, nhiều nữ giới các vùng miền đã tích cực tham gia học tập bằng nhiều hình thức để nâng cao trình độ và luôn chăm lo đến việc học tập của con cái, góp phần tạo nên chuyển biến tích cực trong nền giáo dục nước nhà. Phụ nữ đóng góp quan trọng vào xây dựng phát triển văn hóa, con người Việt Nam. Đến năm 2011, tỷ lệ nữ biết đọc, biết viết đạt 92%; 80% trẻ em gái trong độ tuổi ở vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, học tiểu học và trung học cơ sở. Nữ sinh viên các trường đại học và cao đẳng chiếm trên 50%; nữ thủ khoa các kỳ tuyển sinh và tốt nghiệp đại học chiếm 61,6%. Đội ngũ nữ trí thức tiếp tục tăng cả về số lượng, chất lượng và được trẻ hóa. Trong ngành giáo dục, tỷ lệ giảng viên nữ tăng đồng đều trong giai đoạn 2007-2012 và cao hơn ở nam giới. Năm học 2011-2012, có 16,8% nữ phó giáo sư, 25% nữ tiến sĩ, 47,1% nữ thạc sĩ(14). Ở cấp đại học, 47% giảng viên là nữ. Trong lĩnh vực khoa học và công nghệ, có 38,6% nữ phó giáo sư, 30,9% nữ tiến sĩ và 54,6% nữ thạc sĩ(15). Trong xây dựng gia đình, phụ nữ kế thừa và phát huy các giá trị truyền thống tốt đẹp, đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, phòng chống tệ nạn xã hội từ gia đình. Tuổi thọ bình quân của nữ thường cao hơn nam, trung bình 4 - 5 năm, năm 2011 là73,2tuổi. Tỷ lệ tử vong bà mẹ giảm xuống còn 67/100.000 trẻ sơ sinh sống(16).  Phụ nữ có ý thức cao trong thực hiện quy mô gia đình ít con gắn với nâng cao chất lượng cuộc sống; thực hiện các quyền và động viên các thành viên gia đình thực hiện quyền và trách nhiệm cá nhân; quan tâm đặc biệt đến trẻ em và người cao tuổi. Xây dựng gia đình văn hoá. 4. Một số vấn đề đặt ra Trước yêu cầu CNH, HĐH và hội nhập quốc tế, công tác phụ nữ còn nhiều hạn chế, cùng nhiều vấn đề mới đặt ra, với nhiều thách thức. Về cơ hội việc làm và thu nhập, lao động nữ trong nhiều doanh nghiệp, khu công nghiệp, việc làm thiếu ổn định, điều kiện lao động không được đảm bảo; chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hộ lao động chưa được thực hiện đầy đủ. Số lao động nữ nông thôn thiếu việc làm, di cư tự phát ra đô thị ngày càng tăng. Ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, tỷ lệ phụ nữ nghèo còn cao; bị ràng buộc bởi phong tục, tập quán lạc hậu; còn nhiều phụ nữ cao tuổi, phụ nữ đơn thân, phụ nữ tàn tật có hoàn cảnh khó khăn cần được quan tâm. Thực tiễn đời sống xã hội đang nảy sinh nhiều vấn đề liên quan trực tiếp tới phụ nữ. Phụ nữ gặp nhiều khó khăn, thách thức khi thực hiện vai trò người mẹ, người thầy đầu tiên của con người trong điều kiện xã hội và gia đình Việt Nam có nhiều thay đổi. Một số giá trị truyền thống tốt đẹp có phần bị mai một, lối sống thực dụng có xu hướng gia tăng. Bạo lực gia đình, tệ nạn xã hội, buôn bán phụ nữ, trẻ em, lấy chồng nước ngoài vì mục đích vụ lợi... diễn biến phức tạp. Báo cáo Điều tra đánh giá các mục tiêu trẻ em và phụ nữ Việt Nam (MICS) 2014(17) cho thấy số phụ nữ trong độ tuổi 15-19 kết hôn là 10,3%, tăng so với 8% tại báo cáo MICS 2011. Bên cạnh đó, có mối tương quan với giáo dục, điều kiện kinh tế và kết hôn sớm, với tỷ lệ 26% phụ nữ trong độ tuổi 15-19 từ những hộ gia đình nghèo nhất kết hôn sớm so với chỉ 2% từ những hộ gia đình khá giả. Đặc biệt, gần 30% phụ nữ dân tộc thiểu số 15-19 tuổi đã kết hôn. Đáng lưu tâm là, hơn 56% phụ nữ trong độ tuổi 15-49 và 50% phụ nữ trong độ tuổi 15-24 không có hiểu biết toàn diện về HIV/AIDS. Trong công tác phụ nữ, việc định hướng lãnh đạo, chính sách, phương pháp công tác vận động phụ nữ còn thiếu cụ thể và sát hợp với từng nhóm đối tượng, khu vực, vùng, miền; chưa đáp ứng yêu cầu mới. Công tác vận động lao động nữ trong các thành phần kinh tế, trong các dân tộc ít người, các tôn giáo, giới trí thức chưa được quan tâm nghiên cứu đúng mức để có những phương thức vận động phù hợp. Đặc biệt, chính sách đối với cán bộ nữ còn bất cập. Hoạt động của Hội phụ nữ ở nhiều nơi còn dàn trải, thiếu chiều sâu, chưa quan tâm được hết các nhóm phụ nữ, chưa toàn diện theo hướng hỗ trợ phụ nữ thực hiện vai trò “chủ thể” của mình thông qua trao quyền, tạo cơ hội để phụ nữ tự giải quyết những vấn đề của mình bên cạnh sự hỗ trợ của Nhà nước và xã hội. Từ thực tế công tác phụ nữ hiện nay, đặt ra một số vấn đề cần tập trung thực hiện, đó là: nghiên cứu, ban hành Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về phụ nữ và công tác phụ nữđể tạo sự chuyển biến về nhận thức và hành động mạnh hơn trong toàn Đảng, toàn dân, Nhà nước và xã hội, góp phần giải quyết những vấn đề đặt ra gần 10 năm thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TW (2007), những vấn đề đặt ra đối với phụ nữ, công tác phụ nữ sau 30 năm đổi mới, đáp ứng vai trò quan trọng của phụ nữ và công tác phụ nữ. Rà soát, sửa đổi, bổ sung hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến phụ nữ và công tác phụ nữ. Tổ chức thực hiện nghiêm các quy định về lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật đã quy định trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và Luật Bình đẳng giới. Sửa đổi, bổ sung Luật Bình đẳng giới để quy định rõ những khía cạnh liên quan đến phụ nữ, nhất là thiên chức người mẹ trong mối quan hệ với việc thực hiện mục tiêu bình đẳng giới. Sửa đổi quy định về tuổi nghỉ hưu của cán bộ, công chức, viên chức và người lao động phù hợp với tình hình thực tế. Tuổi nghỉ hưu có mối quan hệ rất hữu cơ và chặt chẽ với tuổi thực hiện nhiều chính sách khác có liên quan như tuổi đề bạt, bổ nhiệm; tuổi đào tạo, bồi dưỡng; chính sách lương hưu. Sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới các chính sách quan tâm hơn đến gia đình theo hướng cụ thể hóa quy định tại Khoản 3 Điều 60 Hiến pháp 2013 “tạo môi trường xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc; xây dựng con người Việt Nam có sức khỏe, văn hóa, giàu lòng yêu nước, có tinh thần đoàn kết, ý thức làm chủ, trách nhiệm công dân” bằng các chính sách phù hợp, trong đó đặc biệt quan tâm vai trò của phụ nữ với tư cách người mẹ có tác động và ảnh hưởng sâu sắc đến chất lượng nguồn nhân lực của đất nước. Các cấp ủy Đảng, chính quyền tiếp tục đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò của phụ nữ; về chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đối với phụ nữ và công tác phụ nữ, về bình đẳng giới, về hôn nhân và gia đình...; Nghiên cứu sửa đổi, bổ sung quy định rõ trách nhiệm của cấp ủy, cơ quan, tổ chức, đặc biệt là người đứng đầu trong việc tổ chức thực hiện quan điểm, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước về phụ nữ và công tác phụ nữ, nhất là các quy định liên quan đến cán bộ nữ quản lý, lãnh đạo các cấp. Hội Phụ nữ cần nâng cao vai trò, trách nhiệm trong tham mưu và thực hiện giải pháp nâng cao nhận thức bình đẳng giới cho phụ nữ.Tham mưu, đề xuất chủ trương, chính sách liên quan đến cán bộ nữ. Chủ động, tích cực tham mưu, giới thiệu, tạo nguồn cán bộ nữ. Giáo dục giá trị truyền thống của phụ nữ Việt Nam, nêu gương phụ nữ điển hình trong các lĩnh vực và phê phán những biểu hiện phân biệt đối xử với phụ nữ dưới mọi hình thức Đối với phụ nữ và cán bộ nữ, thể hiện năng lực cá nhân; xóa bỏ tâm lý tự ti; an phận; nâng cao trách nhiệm xã hội, hỗ trợ, kèm cặp, động viên thế hệ đi sau; bảo vệ quan điểm, chính kiến trước những vấn đề đặt ra cho phụ nữ và cán bộ nữ. PGS, TS. Trịnh Thị Hồng Hạnh - Viện Lịch sử Đảng,  Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Ghi chú: (1), (2), (6), (7) Nghị quyết số 04 - NQ/TW ngày 12-7-1993 của Bộ Chính trị. (3), (4), (5), (8) Nghị quyết số 11 - NQ/TW ngày 27/4/2007 của Bộ Chính trị Về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. (9) Luật số 73/2006/QH11 của Quốc hội : Luật Bình đẳng giới, Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2007. (10) Báo cáo số 08/BC-UBQG ngày 3/2/2016 của Ủy ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam về kết quả hoạt động năm 2015 và phương hướng nhiệm vụ công tác năm 2016, tr. 11-12. (11) Phát huy năng lực, trí tuệ của đội ngũ cán bộ nữ , Tạp chí Xây dựng Đảng,số 10, 2013. (12) Phạm Thị Hải Chuyền - Bộ trưởng Bộ Lao động -Thương binh và Xã hội, phát biểu khai mạc Tọa đàm “Vai trò của truyền thông nhằm tăng cường sự tham gia của phụ nữ trong Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp” do Ủy ban Quốc gia về bình đẳng giới phối hợp với UNDP tổ chức tại Hà Nội, ngày 25/2/2016. (13) Báo cáo số 1346/BC-UBXH12 ngày 11/5/2009 Ủy ban về các vấn đề xã hội của Quốc hội về kết quả giám sát tình hình thực hiện bình đẳng giới và việc triển khai thi hành Luật Bình đẳng giới. (14), (15) Nguồn: báo cáo thực hiện chiến lược quốc gia về bình đẳng giới của Chính phủ năm 2013. (16) Nguồn: báo cáo thực hiện chiến lược quốc gia về bình đẳng giới của Chính phủ năm 2011. (17) http://www.unicef.org.   Link bài viết: http://tcnn.vn/Plus.aspx/vi/News/125/0/1010067/0/37166/Cong_tac_nu_va_buoc_tien_cua_binh_dang_gioi_o_Viet_Nam    

Đặt câu hỏi

Họ tên:
Email:
Điện thoại:
Tiêu đề:
Nội dung:

Tư vấn pháp luật