Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của tổ chức đoàn thể, cơ sở giáo dục, gia đình và cá nhân trong đảm bảo thực hiện quyền và nghĩa vụ của trẻ em. Trên cơ sở hệ thống hoá các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về vấn đề này, kết hợp với phân tích thực trạng, tác giả đề xuất các kiến nghị nhằm nâng cao vai trò của các chủ thể trong đảm bảo thực hiện quyền và bổn phận của trẻ em.
Cho đến nay, ở Việt Nam, quan điểm và cách thức xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền chủ yếu tập trung vào xây dựng, hoàn thiện thể chế pháp quyền trong tổ chức bộ máy và tổ chức vận hành của Nhà nước, mà hầu như chưa chú ý đúng mức đến việc xây dựng thể chế pháp quyền của công dân với vai trò là nền móng và mục đích tổ chức, hoạt động của Nhà nước pháp quyền.
Tóm tắt: Bài viết phân tích quy định về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự của trẻ em trong pháp luật hình sự các nước, từ đó so sánh dưới góc độ lập pháp với các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành.
1. Nội dung của bảo đảm sự tham gia của người dân vào quá trình ban hành quyết định hành chính Điều 28 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Công dân có quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận và kiến nghị với cơ quan nhà nước về các vấn đề của cơ sở, địa phương và cả nước. Nhà nước tạo điều kiện cho công dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội”. Quy định này của Hiến pháp tuy không đề cập cụ thể quyền tham gia vào quá trình ban hành quyết định hành chính (QĐHC), nhưng với cách hiểu ban hành QĐHC là một hoạt động của quản lý nhà nước trong lĩnh vực hành chính thì có thể khẳng định: tham gia vào quá trình ban hành QĐHC là một trong những nội dung của quyền tham gia vào quản lý nhà nước. Nội dung của bảo đảm sự tham gia của người dân vào quá trình ban hành QĐHC bao gồm: bảo đảm quyền tham gia đề xuất ban hành QĐHC; bảo đảm quyền được thông tin về việc ban hành QĐHC; bảo đảm quyền được tham vấn ý kiến về nội dung của QĐHC và về các vấn đề nảy sinh trong quá trình ban hành QĐHC và bảo đảm quyền khiếu nại đối với những nội dung của QĐHC. Đề xuất ban hành QĐHC là giai đoạn đầu tiên của quá trình ban hành QĐHC. Đề xuất ban hành QĐHC được hiểu là những ý tưởng, ý kiến về ban hành QĐHC. Tham gia đề xuất ban hành QĐHC tức là người dân được đưa ra ý tưởng của mình về việc ban hành một QĐHC. Do đó, bảo đảm quyền tham gia đề xuất ban hành QĐHC là bảo đảm việc tiếp nhận các ý tưởng của người dân về việc ban hành QĐHC và nỗ lực biến các ý tưởng đó thành kế hoạch ban hành QĐHC. Trên thực tế, người dân có thể có rất nhiều ý kiến, ý tưởng khác nhau về cùng một vấn đề. Chất lượng của các ý tưởng này cũng khác nhau tùy thuộc vào trình độ nhận thức, kiến thức và kinh nghiệm của mỗi người. Trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền là tiếp nhận các đề xuất này, tổng hợp và tiếp thu một cách tối đa để đưa ra kế hoạch ban hành QĐHC. Như vậy, đánh giá việc người dân có được bảo đảm quyền tham gia đề xuất ban hành QĐHC hay không không phụ thuộc vào kết quả đề xuất đó có được chấp nhận hay không, mà phụ thuộc vào cách thức và thái độ tiếp nhận đề xuất đó. Để bảo đảm quyền tham gia đề xuất ban hành QĐHC thì quy định pháp luật cần chú ý đến quy trình tiếp nhận và xử lý các đề xuất nêu trên. Bên cạnh việc tham gia đề xuất ban hành QĐHC thì việc được thông tin về việc ban hành QĐHC có ý nghĩa quan trọng đối với cả những cá nhân tham gia đề xuất và những cá nhân không tham gia đề xuất. Chẳng hạn, việc phổ biến thông tin về ban hành những QĐHC có liên quan đến lợi ích cộng đồng là cần thiết bởi QĐHC sau khi được ban hành sẽ có ảnh hưởng không chỉ tới cá nhân mà còn tới cả cộng đồng. Ngoài ra, đối với các QĐHC bất lợi cho đối tượng thi hành hoặc cho người thứ ba thì việc thông tin là bắt buộc để đảm bảo quyền lợi cho họ. Do vậy, bảo đảm quyền được thông tin về việc ban hành QĐHC được hiểu là những người có liên quan được gửi thông báo bằng các hình thức khác nhau (phương tiện thông tin đại chúng, bưu điện, thư điện tử, điện thoại) và được chắc chắn rằng những người này nhận được thông tin. Kể từ thời điểm nhận được thông tin về việc ban hành QĐHC, người dân bắt đầu tham gia một cách chủ động vào quá trình ban hành QĐHC. Tiếp theo, giai đoạn quan trọng của quá trình ban hành QĐHC và có ảnh hưởng tới chất lượng QĐHC đó là tham vấn ý kiến về nội dung của QĐHC và về các vấn đề nảy sinh trong quá trình ban hành QĐHC. Tham vấn ý kiến là việc hỏi ý kiến, tham khảo ý kiến về một vấn đề nào đó. Việc hỏi ý kiến này có thể được thực hiện bằng các hình thức đa dạng như: Phiếu điều tra, bảng hỏi, tổ chức cuộc họp, trưng cầu ý kiến trên phương tiện thông tin đại chúng... Càng có nhiều ý kiến, chất lượng của dự thảo QĐHC càng cao và việc ban hành QĐHC càng đạt hiệu quả tốt. Tuy nhiên, việc tham vấn ý kiến có tốt hay không không những phụ thuộc vào quá trình tổ chức lấy ý kiến mà còn vào cách thức, thái độ tiếp thu các ý kiến này. Như vậy, bảo đảm cho người dân được tham vấn ý kiến trong quá trình ban hành QĐHC là bảo đảm các điều kiện cho họ được tham gia đóng góp ý kiến và đảm bảo việc tổ chức tổng hợp, tiếp thu các ý kiến đó một cách nghiêm túc. Cuối cùng, quá trình ban hành QĐHC về cơ bản sẽ kết thúc khi một QĐHC được ban hành bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Tuy nhiên, sau khi QĐHC được ban hành, người dân vẫn có quyền khiếu nại và được giải quyết khiếu nại[1]. Khoản 1 Điều 2 Luật Khiếu nại năm 2011 giải thích “khiếu nại là việc người dân có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xem xét lại QĐHC …khi có căn cứ cho rằng quyết định đó… trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình”.  Kết quả của quá trình giải quyết khiếu nại là hoặc giữ nguyên QĐHC cũ để thi hành hoặc thay đổi nội dung của QĐHC cho phù hợp. Ở trường hợp thứ hai, việc ban hành QĐHC vẫn tiếp tục được diễn ra. Với ý nghĩa đó, đảm bảo quyền khiếu nại đối với QĐHC sau khi QĐHC được ban hành, theo chúng tôi, được coi là của sự bảo đảm trong quá trình ban hành QĐHC. Với nội dung nêu trên, việc đảm bảo cho người dân tham gia vào quá trình ban hành QĐHC vừa đảm bảo quyền tham gia vào quản lý nhà nước theo tinh thần của Hiến pháp 2013 và các Công ước quốc tế về Quyền con người, vừa góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, đảm bảo dân chủ, công khai và minh bạch trong quản lý hành chính. 2. Những hạn chế, bất cập trong quy định của pháp luật về bảo đảm sự tham gia của người dân vào quá trình ban hành quyết định hành chính Thứ nhất, ở một số lĩnh vực, quy định của luật chuyên ngành về sự tham gia của người dân vào quá trình ban hành QĐHC còn thiếu, chưa thống nhất về hình thức, nội dung thể hiện. Nhìn chung, pháp luật chuyên ngành không quy định trực tiếp trách nhiệm của Nhà nước, quyền của người dân trong bảo đảm tham gia vào quá trình ban hành QĐHC, mà chỉ quy định về trách nhiệm của Nhà nước trong việc thông báo QĐHC cho đối tượng chịu tác động và quyền khiếu nại, khởi kiện QĐHC của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Một số luật có quy định thêm về quyền được yêu cầu giải thích, cung cấp thông tin về xử phạt hành vi vi phạm trong quá trình ban hành QĐHC như là một trong những biện pháp đảm bảo. Ví dụ, các Điều 28, 204 và 208 Luật Đất đai năm 2013 quy định về (1) Trách nhiệm của Nhà nước trong việc thông báo QĐHC trong lĩnh vực quản lý đất đai cho tổ chức, cá nhân bị ảnh hưởng quyền và lợi ích hợp pháp (Điều 28)[2]; (2) Quyền khiếu nại, khởi kiện QĐHC của người sử dụng đất, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến sử dụng đất (Điều 204)[3]; (3) Xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự với hành vi vi phạm (Điều 208)[4]; Luật Xây dựng năm 2014 quy định trách nhiệm của cơ quan Nhà nước trong việc lấy ý kiến về quy hoạch xây dựng (Điều 16 và 17), quyền khiếu nại, khởi kiện, tố cáo hành vi vi phạm trong việc cấp phép xây dựng của người dân (Điều 106); Luật Quản lý thuế năm 2006 quy định người nộp thuế được quyền “khiếu nại, khởi kiện quyết định hành chính liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình” (Điều 6), cơ quan quản lý thuế có trách nhiệm “Giải thích, cung cấp thông tin....”; “Giải quyết khiếu nại, tố cáo...” và “Giao kết luận, biên bản kiểm tra thuế, thanh tra..., giải thích khi có yêu cầu”(Điều 8); Luật Đầu tư năm 2014 quy định: “Người lợi dụng chức vụ, quyền hạn cản trở hoạt động đầu tư kinh doanh, có hành vi sách nhiễu, gây phiền hà đối với nhà đầu tư, không thực thi công vụ theo quy định của pháp luật thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự” (Khoản 2, Điều 73)... Thứ hai, các quy định của pháp luật chuyên ngành chưa đảm bảo quyền của người dân tham gia vào quá trình ban hành QĐHC ngay từ giai đoạn soạn thảo dự thảo QĐHC Điều 28 Luật Đất đai năm 2013 đã quy định về việc thông báo về QĐHC cho đối tượng có liên quan. Nhưng điều luật chưa làm rõ QĐHC này được thông báo khi đã ban hành hay khi đang trong quá trình xây dựng Dự thảo. Trong trường hợp QĐHC đã được ban hành và ký bởi người có thẩm quyền rồi mới thông báo cho người có liên quan thì chưa đảm bảo được sự tham gia của người dân (trước hết là người chịu tác động) vào quá trình ban hành QĐHC này. Hay Điều 204 Luật Đất đai năm 2013 quy định về giải quyết khiếu nại, khiếu kiện đối với QĐHC trong lĩnh vực đất đai - một trong những phương pháp bảo đảm quyền và lợi ích của cá nhân, tổ chức là đối tượng chịu tác động của QĐHC - nhưng phương pháp này chưa thực sự hiệu quả đối với quá trình ban hành QĐHC do chỉ được thực hiện ở giai đoạn sau khi QĐHC được ban hành. Theo các quy định của các Điều 6, 8 Luật Quản lý thuế năm 2006, người dân có quyền yêu cầu giải thích về kết luận, biên bản kiểm tra thuế, thanh tra thuế. Tuy nhiên, quy trình giải thích, biện pháp xử lý đối với cán bộ không thực hiện yêu cầu giải thích của người dân ra sao thì chưa được pháp luật quy định cụ thể. Quy định của Luật Khiếu nại năm 2011 về quyền đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại QĐHC khi có căn cứ cho rằng quyết định đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình (Điều 1) chỉ đảm bảo được cho người dân tham gia có ý kiến một cách bị động sau khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành QĐHC. Thứ ba, chưa có biện pháp  xử lý kỷ luật đối với  hành vi thờ ơ hay cản trở sự tham gia của người dân vào quá trình ban hành QĐHC Điều 208 của Luật Đất Đai năm 2013 đã có quy định về việc xử lý người có thẩm quyền có hành vi vi phạm các quy định về trình tự, thủ tục ban hành QĐHC. Tuy nhiên, đối với hành vi không tiếp thu, giải trình đối với ý kiến của nhân dân hoặc hành vi cản trở việc tham gia của người dân có bị xử lý hay không, biện pháp khắc phục hậu quả thế nào… vẫn là vấn đề còn bỏ ngỏ. Tương tự, Luật Xây dựng năm 2014, Luật Đầu tư năm 2014 chỉ quy định trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền mà không xác định hình thức xử lý đối với trường hợp không hoàn thành trách nhiệm đó.  3. Một số kiến nghị Chúng tôi cho rằng, để bảo đảm sự tham gia của người dân vào quá trình ban hành QĐHC, cần thực hiện một số giải pháp sau đây: Thứ nhất, cần đẩy nhanh quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật về hành chính nói chung và về ban hành QĐHC nói riêng nhằm tạo cơ sở pháp lý cho người dân thực hiện quyền tham gia của mình vào quá trình ban hành QĐHC. Do đó, việc nhanh chóng xem xét đưa Dự án Luật Ban hành QĐHC vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh hoặc nghiên cứu bổ sung các quy định này vào luật có liên quan là cần thiết; Thứ hai, cần xác định mục tiêu của việc xây dựng các quy định của pháp luật về ban hành QĐHC theo hướng: (1) Tăng cường khả năng thực hiện và bảo đảm quyền tham gia của người dân vào quản lý nhà nước bằng các quy định của pháp luật; (2) Thống nhất và cụ thể hóa các quy định của pháp luật về quy trình ban hành QĐHC và về mức độ, nội dung tham gia của người dân vào quá trình ban hành QĐHC; Thứ ba, làm rõ một số nội dung như: về quá trình ban hành QĐHC; về thông tin trong quá trình ban hành QĐHC; về tham vấn ý kiến của cá nhân, tổ chức có liên quan; về hành vi vi phạm trong quá trình ban hành QĐHC bị xử lý trách nhiệm./. ThS.Trần Hà Thu  Trung tâm Thông tin Khoa học lập pháp, Viện Nghiên cứu Lập pháp   ________________________________________ [1] Luật Khiếu nại năm 2011 quy định về khiếu nại và giải quyết khiếu nại đối với QĐHC. [2] Khoản 3 Điều 28 Luật Đất đai 2013 quy định Nhà nước có trách nhiệm “Thông báo QĐHC, hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai cho tổ chức, cá nhân bị ảnh hưởng quyền và lợi ích hợp pháp” [3] Điều 204 Luật Đất đai 2013 về giải quyết khiếu nại, khiếu kiện về đất đai quy định:” Người sử dụng đất, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến sử dụng đất có quyền khiếu nại, khởi kiện QĐHC hoặc hành vi hành chính về quản lý đất đai”; “Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại QĐHC… thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại. Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu kiện QĐHC về đất đai được thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính”. [4] Điều 208 Luật Đất đai 2013 quy định xử lý đối với các hành vi “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái quy định của pháp luật trong ra QĐHC trong quản lý đất đai” và “Vi phạm các quy định về lấy ý kiến, công bố, công khai thông tin; vi phạm quy định trình tự, thủ tục hành chính; vi phạm quy định về báo cáo trong quản lý đất đai”.   Link bài viết: http://tcnn.vn/Plus.aspx/vi/News/125/0/1010070/0/38659/Bao_dam_su_tham_gia_cua_nguoi_dan_vao_qua_trinh_ban_hanh_quyet_dinh_hanh_chinh  
Theo dự báo của Liên Hiệp quốc, số người cao tuổi (từ 60 tuổi trở lên) trên khắp thế giới sẽ tăng từ 760 triệu trong năm 2010 lên khoảng 2 tỷ người vào năm 2050 (tức là từ 11% lên 22% tổng dân số thế giới). Nếu như vào năm 1990, tỷ lệ người cao tuổi ở nước ta chỉ chiếm 7,2% dân số thì đến năm 2011, tỷ lệ này là 10%, chính thức bắt đầu giai đoạn “già hóa dân số”. Theo dự báo, đến năm 2038, người cao tuổi ở Việt Nam sẽ chiếm 20% tổng dân số - tăng gấp ba lần trong vòng 24 năm. Như vậy, Việt Nam sẽ đối mặt với nguy cơ “già trước khi giàu”, khi tốc độ già hóa dân số tiếp tục tăng nhanh trong khi tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân đầu người mới ở mức trung bình thấp (khoảng 2.000 đô la Mỹ), các chính sách an sinh xã hội dành cho người cao tuổi chưa thực sự hoàn chỉnh và chủ động để hướng đến đón nhận hiện tượng già hóa dân số tích cực. Thực tế cho thấy, quyền được đối xử bình đẳng, được tôn trọng, chăm sóc, bảo vệ và thụ hưởng các phúc lợi trong hệ thống an sinh xã hội của người cao tuổi là đòi hỏi chính đáng và cũng là mục tiêu đặt ra cho những người xây dựng chính sách người cao tuổi. Tuy nhiên, chính sách cho người cao tuổi trong bối cảnh dân số Việt Nam đang già hóa mạnh mẽ cũng cần có những căn cứ pháp lý vững chắc, tức là các nội dung, định hướng, giải pháp chính sách được Hiến định. Đây không chỉ là hình thức bộc lộ nội dung của chính sách người cao tuổi mà cốt lõi là phương thức, căn cứ, hiệu lực pháp lý vững chắc đảm bảo thực thi thành công mục tiêu, giải pháp giải quyết vấn đề già hóa dân số và các vấn đề phát sinh liên quan người cao tuổi ở nước ta. Các bản Hiến pháp nước ta đều xuyên suốt thể hiện tư duy nhất quán: người cao tuổi cần thiết phải được hỗ trợ, giúp đỡ trước hết về mặt vật chất. Hỗ trợ này có thể là chế độ trợ cấp xã hội hằng tháng, chính sách hỗ trợ chi phí mua BHXH, BHYT, cứu trợ, bảo trợ,…bằng hệ thống ngân sách nhà nước hoặc nguồn tài chính khác. Tuy nhiên, do công tác này liên quan chặt chẽ và phụ thuộc vào nguồn ngân sách, tài chính nên dẫn đến một số vấn đề phát sinh: Theo khảo sát của các cơ quan nghiên cứu phân tích chính sách, sau hơn 08 năm thực hiện Luật Người cao tuổi và 4 năm thực hiện Hiến pháp 2013, mức độ đáp ứng các quyền kinh tế (vật chất - xã hội) của người cao tuổi ở nước ta đạt từ 50 - 60%, gần 90% người cao tuổi được đảm bảo nhu cầu cơ bản về ăn, mặc, ở. Đến hết năm 2016, cả nước có khoảng 1,5 triệu người cao tuổi được hưởng chính sách bảo trợ hằng tháng, chiếm đến 77% trong tổng số đối tượng được nhận trợ cấp xã hội hằng tháng; hàng nghìn người cao tuổi được hỗ trợ xóa nhà tạm, sữa chửa nâng cấp nhà ở, tổ chức chúc thọ, mừng thọ cho hơn 1 triệu người cao tuổi, thăm hỏi, động viên ốm đau cho hơn 900.000 người cao tuổi.  Tuổi thọ dân số Việt Nam tăng lên phản ánh thành tựu kinh tế - xã hội, nhất là lĩnh vực y tế. Tuy nhiên, điều kiện sống, mức sống đa số người cao tuổi nước ta còn khá thấp, sức khỏe kém, tuổi thọ khỏe mạnh nước ta chưa cao, mỗi người cao tuổi chịu 14 năm bệnh tật, 95% người cao tuổi có bệnh và trung bình là 2,69 căn bệnh/ người…. Từ năm 2009 đến nay, các chương trình khám chữa bệnh đã tư vấn các bệnh về mắt cho hơn 2 triệu người cao tuổi, trong đó có 200.000 người được mổ tủy tinh thể miễn phí gần 400 tỉ đồng. Theo báo cáo tổng quan của ngành y tế số lượng người cao tuổi có thẻ BHYT tăng từ 24,3% năm 2004 lên 63% năm 2006, các hoạt động khám sức khỏe định kỳ cho người cao tuổi có thẻ BHYT được thực hiện hiệu quả, chất lượng phục vụ tốt hơn, nhiều địa phương có chủ trương thành lập quỹ chăm sóc sức khỏe người cao tuổi, hoạt động chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi có nhiều điểm mới: chăm sóc tại nhà, chăm sóc tại cơ sở tập trung và chăm sóc dựa vào cộng đồng… Tuy nhiên, việc đảm bảo quyền được chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi thời gian qua cũng đứng trước các thách thức lớn. Chất lượng các loại dịch vụ y tế, khám chữa bệnh có thẻ BHYT, vấn đề y đức, tiêu cực trong ngành y tế,… có tác động tiêu cực đến thực hiện quyền được đảm bảo chăm sóc sức khỏe của người cao tuổi nếu xem đây là lực lượng yếu thế trong xã hội. Tỉ lệ người cao tuổi đến khám, chữa bệnh và được lập hồ sơ quản lý sức khỏe định kỳ tại tuyến cơ sở rất thấp, nhiều bệnh viên tuyến huyện chưa thành lập được khoa lão khoa, công tác cải cách thủ tục hành chính của ngành y tế còn chậm. Ngoài việc được đảm bảo hỗ trợ, chia sẻ về vật chất, đảm bảo sức khỏe thì người cao tuổi được quyền tham gia, tiếp cận với các loại hình hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao, du lịch, nghỉ mát, các hoạt động khác bồi bổ, nâng cao đời sống tinh thần cho người cao tuổi, sự quan tâm, thăm hỏi, động viên, chúc thọ người cao tuổi.... Tính đến hết năm 2016, cả nước có 58.099 câu lạc bộ người cao tuổi, thu hút 2,6 triệu người cao tuổi tham gia, góp phần nâng cao sức khỏe, tinh thần và bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc. Tuy nhiên, hạn chế lớn nhất của các tổ chức này chính là tính hình thức hay hành chính hóa, chưa đem lại lợi ích thiết thực, ý nghĩa, thậm chí mang tính phong trào. Đánh giá việc đảm bảo quyền được chăm lo về đời sống tinh thần, chỉ có 8,6% người cao tuổi đánh giá nó được thực hiện mức độ tốt, rất tốt; 54,7% cho rằng chính sách này không được thực hiện tốt ở địa phương. Người cao tuổi được quyền được xã hội thừa nhận, tôn trọng và khẳng định vị thế, đây là quyền rất tiến bộ và rất mới của người cao tuổi được Hiến pháp năm 2013 ghi nhận. Có thể thấy, đây vừa là quyền nhưng cũng là nhu cầu tất yếu của người cao tuổi. Quyền này được hiểu chính là việc người cao tuổi với đầy đủ phẩm chất, kỹ năng, năng lực,… được xã hội coi trọng, ghi nhận và bản thân người cao tuổi sử dụng nó để góp phần tiếp tục công hiến cho xã hội. Theo kết quả khảo sát của các cơ quan nghiên cứu cho thấy, có hơn 2,5 triệu người cao tuổi vẫn đang tham gia lao động, sản xuất kinh doanh; 95.000 người cao tuổi làm trang trại, cơ sở sản xuất, kinh doanh; hơn 300.000 nghìn người cao tuổi làm kinh tế giỏi; 1,24 triệu người cao tuổi nghỉ hưu vẫn tham gia công tác trong hệ thống chính trị tại nơi cư trú. Nhằm củng cố, phát huy quyền con người, quyền công dân người cao tuổi theo Hiến pháp Việt Nam cần hoàn thiện hệ thống chính sách pháp luật về người cao tuổi theo các định hướng: Thứ nhất, nghiên cứu thấu đáo, có luận cứ khoa học hợp lí, thuyết phục để xác định rõ diện người cao tuổi hưởng trợ cấp, cân nhắc tổng thể nguồn lực và hiện trạng xã hội,… mở rộng đối tượng thụ hưởng trợ cấp xã hội so với hiện tại; tạo hành lang pháp lý khuyến khích huy động nguồn lực xã hội và các loại hình tổ chức tư nhân, phi chính phủ tham gia thực hiện chính sách người cao tuổi; hệ thống chính sách pháp luật người cao tuổi cần đảm bảo tuân thủ nguyên tắc hệ thống, đầy đủ về số lượng, có chất lượng, công bằng, minh bạch và đúng luật. Hai là, nghiên cứu và có cơ chế, chính sách nhằm khuyến khích sự tham gia của toàn xã hội, huy động nguồn lực của khu vực tư (tăng cường xã hội hóa) trong việc giải quyết các vấn đề lớn trong chính sách người cao tuổi, góp phần đảm bảo khắc phục khó khăn hiện tại ngân sách cho các khoản trợ cấp, phục vụ thiết lập Qũy người cao tuổi tại các địa phương, mở rộng diện thụ hưởng nhận hỗ trợ vật chất cho người cao tuổi... Đặc biệt, coi trọng phát triển, nhân rộng mô hình tham vấn, hỗ trợ chăm sóc người cao tuổi thông qua vai trò của cộng đồng, xã hội và các tổ chức hành nghề công tác xã hội. Ba là,đẩy mạnh cải cách hành chính nhà nước trong lĩnh vực y tế, trong đó, chú trọng đến việc cải cách thủ tục liên quan cung ứng dịch vụ y tế cho người cao tuổi, chấn chỉnh trách nhiệm công vụ, nâng cao y đức của đội ngũ y bác sĩ. Đặc biệt, cần có chiến lược quy hoạch tổng thể ngành y để thích ứng với vấn đề già hóa dân số của Việt Nam hiện nay. Trong đó, cần quan tâm xây dựng nguồn nhân lực ngành y chất lượng, có phẩm chất nhằm đảm bảo cung ứng dịch vụ y tế, hỗ trợ giải quyết các vấn đề phát sinh khi già hóa dân số. Đồng thời, nghiên cứu xây dựng hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật như Viện Lão học, viện dưỡng lão, trung tâm chăm sóc người cao tuổi,…và trang bị tri thức để công động và xã hội thích ứng với già hóa dân số một cách tích cực. Bốn là,các nhà hoạch định chính sách cần nghiên cứu, tham vấn để ban hành chiến lược về tận dụng, sử dụng nguồn nhân lực từ đội ngũ người cao tuổi đảm bảo khoa học hợp lí. Như phân tích trên, với tinh thần “tuổi cao chí càng cao”, người cao tuổi ngày càng có vai trò quan trọng, trở thành nguồn lực đắc giá trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Do vậy, các cơ quan quản lý nhà nước, các nhà hoạch định, tham vấn chính sách người cao tuổi cần đặt chính sách thu hút, sử dụng hiệu quả nguồn lực người cao tuổi trong tổng thể chính sách người cao tuổi ở nước ta. Năm là, các cơ quan chức năng, cơ quan truyền thông, và đoàn thể chính trị - xã hội thường xuyên quan tâm đến công tác tuyên truyền, phổ biến về chính sách người cao tuổi của Nhà nước đến đội ngũ người cao tuổi. Việc nhận thức đầy đủ về thách thức già hóa dân số của người dân có tác động tích cực trong việc kéo dài thời gian già hóa dân số, cân bằng cơ cấu dân số quốc gia thông qua chiến lược dân số, kế hoạch hóa gia đình, chăm sóc sức khỏe,… Bên cạnh đó, cần nhận thức rõ ràng rằng, trong hoạt động của các cơ quan này, cần xem việc chăm lo người cao tuổi cùng toàn xã hội là trách nhiệm, là hành vi đạo đức và gìn giữ truyền thống dân tộc Việt Nam bên cạnh nghĩa vụ pháp lý, trách nhiệm công vụ. Sáu là, tăng cường, mở rộng hợp tác quốc tế trong thực hiện chính sách người cao tuổi và thích ứng với vấn đề già hóa dân số ở nước ta. Việt Nam cần tranh thủ mối quan hệ hợp tác quốc tế với các quốc gia có nhiều kinh nghiệm trong ứng phó chủ động với vấn đề già hóa dân số, thực hiện tốt chính sách người cao tuổi nhằm sẻ chia kiến thức, học tập mô hình, kinh nghiệm và vận dụng sáng tạo, linh hoạt gắn với văn hóa, đặc thù tình hình kinh tế - chính trị của quốc gia. Ngoài ra, cần tăng cường và tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ trong huy động nguồn lực, kỹ thuật, thực hiện tham vấn chính sách người cao tuổi,… cho các cơ quan nhà nước nhằm kịp thời điều chỉnh, cập nhật và ứng phó với diễn biến mới của vấn đề già hóa dân số Việt Nam trong tương lai./. TÀI LIỆU THAM KHẢO: 1. Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội & UNFPA (2016), Báo cáo Đánh giá 5 năm thực hiện Luật Người cao tuổi 2010 - 2014, Hà Nội. 2. Diễn đàn các Nghị sĩ châu Á về dân số và phát triển (AFPPD) (2016), Tài liệu tham khảo dành cho các đại biểu Quốc hội. Già hóa tích cực. Bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ. Đầu tư cho thanh niên. 3. Quỹ dân số Liên Hiệp quốc tại Việt Nam (UNFPA) (2016), Thông tin tóm tắt: Già hóa dân số nhanh chóng ở Việt Nam - Thách thức và cơ hội 4. Quỹ dân số Liên Hiệp quốc tại Việt Nam (UNFPA) , Thông tin tóm tắt: Đánh giá mô hình thí điểm chăm sóc người già dựa vào cộng đồng của Qũy Dân số Liên Hiệp quốc. 5. Quỹ dân số Liên Hiệp quốc tại Việt Nam (UNFPA) & Tổng cục Thống kê (2016), Điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ 2014: Cơ cấu tuổi, giói tính và một số vấn đề kinh tế xã hội ở Việt Nam, Nxb Thông tấn. 6. Quỹ dân số Liên Hiệp quốc tại Việt Nam (UNFPA) & Tổng cục Thống kê (2016), Điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ 2014: Mức sinh ở Việt Nam: Những khác biệt, xu hướng và yếu tố tác động, Nxb Thông tấn. 7. Quỹ dân số Liên Hiệp quốc tại Việt Nam (UNFPA) & Tổng cục Thống kê (2016), Dự báo dân số Việt Nam 2014 - 2049, Nxb Thông tấn. 8. Ủy ban quốc gia về người cao tuồi (2016), Nghiên cứu đánh giá: Thực trạng người cao tuổi và tình hình già hóa dân số Việt Nam, Hà Nội. 9. Viện Khoa học xã hội Việt Nam (2010), Một số vấn đề cơ bản về người cao tuổi Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020. 10. Vũ Huy Từ, Lê Chi Mai và Võ Kim Sơn (1998), Quản lý Khu vực công, Học viện Hành chính Quốc gia, Hà Nội   GS. Nguyễn Thị Mỹ Dung ThS. Bùi Nghĩa Link bài viết: http://tapchibaohiemxahoi.gov.vn/tin-tuc/chinh-sach-nguoi-cao-tuoi-tiep-can-tu-quyen-co-ban-cua-cong-dan-trong-hien-phap-viet-nam-18136  
Tóm tắt: Theo quy định tại Điều 6 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006 xác định chính sách trợ giúp pháp lý của Đảng và Nhà nước ta như sau: Trợ giúp pháp lý là trách nhiệm của Nhà nước. Nhà nước giữ vai trò nòng cốt trong việc thực hiện, tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, hiện nay Luật Trợ giúp pháp lý đang trong quá trình nghiên cứu sửa đổi, bổ sung và đã có quan điểm cho rằng nên sửa đổi Điều 6 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006 theo hướng Nhà nước không nên giữ vai trò nòng cốt trong hoạt động trợ giúp pháp lý, nên giao cho một tổ chức nào đó ngoài Nhà nước làm nòng cốt, xã hội hóa toàn bộ công tác này như hoạt động công chứng, còn Nhà nước chỉ giữ vai trò quản lý điều phối nguồn lực bảo đảm cho các đối tượng thuộc diện được trợ giúp pháp lý được hưởng dịch vụ trợ giúp pháp lý kịp thời, có chất lượng. Bài viết nhằm mục đích tạo diễn đàn trao đổi giữa những người đang thực hiện, nghiên cứu và quan tâm đến công tác này. Bởi đây có thể nói là một vấn đề rất lớn cần phải giải quyết rõ ràng thì mới có thể thiết kế được Luật Trợ giúp pháp lý sửa đổi, bổ sung đúng, chất lượng và có tính khả thi sau khi được Quốc hội thông qua. 
Tóm tắt: Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em trước đây và Luật Trẻ em năm 2016 đều xác định trẻ em lang thang là nhóm trẻ đặc thù, nên ngoài các quyền của trẻ nói chung, các em còn có những quyền đặc thù, song cơ hội thụ hưởng quyền của các em là rất hạn chế. Hơn nữa, do đặc thù của môi trường sống, nhóm trẻ em này có nguy cơ bị xâm hại trên nhiều lĩnh vực như: là nạn nhân của việc lạm dụng trẻ em, bị bóc lột lao động, bị lợi dụng thực hiện nhiều hành vi trái pháp luật như mại dâm, trộm cắp, buôn bán ma tuý… Chính vì vậy, nếu thiếu đi các điều kiện đặc thù từ phía gia đình, xã hội và Nhà nước, trẻ em lang thang sẽ ít có cơ hội tiếp cận các quyền của mình, các em rất dễ rơi vào hoàn cảnh tồi tệ, tương lai của các em không được bảo đảm.
Trong sự nghiệp chăm sóc sức khỏe nhân dân, đối tượng là đồng bào dân tộc thiểu số luôn được Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm với những chính sách hỗ trợ cụ thể. Theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 12 Luật Bảo hiểm y tế sửa đổi, bổ sung năm 2014, có 17 trường hợp được cấp thẻ Bảo hiểm y tế miễn phí, trong đó có đối tượng là người dân tộc thiểu số đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn.
Dân chủ thường được nhìn nhận dưới góc độ chính trị là hình thức tổ chức chính trị của xã hội dựa trên sự công nhận nhân dân như là nguồn gốc của quyền lực, dựa trên các quyền của nhân dân trong việc tham gia giải quyết những vấn đề của quốc gia và trao cho công dân một loạt quyền và tự do thực sự(1). Trong thế giới hiện đại, hình thức chính thể cộng hòa dân chủ đang được nhiều quốc gia trên thế giới tuyên bố và theo đuổi. Sở dĩ dân chủ có sức hấp dẫn và lôi cuốn mạnh mẽ xuất phát từ điều quan trọng đối với mỗi người là quyền tự do và quyền tham gia vào các công việc của quốc gia. Đặc điểm quan trọng nhất, bản chất nhất của dân chủ là quyền tự do cá nhân, là sự tôn trọng cá nhân con người của các chủ thể khác trong xã hội: “Sự công nhận nhân phẩm của mọi người trên toàn thế giới và các quyền bình đẳng không thể tước đoạt của họ chính là nền tảng của tự do, công lý và hòa bình trên thế giới”(2). Như vậy, có thể đi đến nhận định quan trọng: dân chủ có thể được coi là giá trị xã hội và chính trị dưới hình thức các quyền con người. Chiếm một phần không nhỏ trong hệ thống pháp luật của các quốc gia là các quy định về quyền con người, về cách thức thực hiện các quyền đó trong các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Tại Diễn đàn pháp luật năm 2017 với chủ đề “Tăng cường tiếp cận công lý cho người nghèo và nhóm yếu thế” do Bộ Tư pháp phối hợp với Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) tổ chức ngày 15/9/2017, vấn đề bảo đảm công lý đối với nạn nhân bị bạo lực trên cơ sở giới thu hút sự quan tâm đặc biệt của các diễn giả và các đại biểu tham dự.[1] Bài viết sau đây xin giới thiệu một số vấn đề liên quan đến bảo đảm công lý đối với nạn nhân bị bạo lực về khía cạnh giới tại Tòa án nhân dân và đưa ra một số kiến nghị nhằm tăng cường công tác này trong thời gian tới.

Đặt câu hỏi

Họ tên:
Email:
Điện thoại:
Tiêu đề:
Nội dung:

Tư vấn pháp luật