Từ đầu những năm 2000, với mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN và mọi sự phát triển đều vì con người, những hoạt động về cải cách tư pháp, cải cách pháp luật và nâng cao năng lực thực hiện các công ước quốc tế - đặc biệt là các công ước về quyền con người, diễn ra rất sôi động trong cả hệ thống chính trị (các cơ quan nhà nước, các tổ chức Đảng, tổ chức chính trị - xã hội), giới truyền thông và nghiên cứu khoa học. Đến nay, một loạt các văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) đã được ban hành mới hoặc sửa đổi, bổ sung, trong đó có Hiến pháp và nhiều bộ luật, luật điều chỉnh những lĩnh vực cơ bản và quan trọng nhất đối với đời sống của mỗi cá nhân và trật tự xã hội (gồm hình sự, dân sự, hành chính, hôn nhân và gia đình, lao động....). Những văn bản mới được ban hành được xem như những thành tựu quan trọng của quá trình đổi mới và cải cách.   

Trong quá trình cải cách đó, bảo đảm quyền trẻ em là một trong những điểm nhấn quan trọng. Không chỉ có luật về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em mà các chế định liên quan đến trẻ em và người chưa thành niên, đặc biệt là vấn đề tư pháp người chưa thành niên trong các Bộ luật Hình sự (BLHS) và tố tụng hình sự (TTHS) đã được soạn thảo, sửa đổi trong một thời gian dài, qua nhiều vòng lấy ý kiến và chỉnh sửa với mục tiêu để có thể ban hành những văn kiện pháp lý quy định đầy đủ các quyền và bổn phận của trẻ em, các biện pháp bảo vệ và bảo đảm thực hiện quyền trẻ em; đáp ứng các chuẩn mực pháp lý quốc tế mà trọng tâm là Công ước của Liên hiệp quốc (LHQ) về quyền trẻ em (Công ước quyền trẻ em).

1. Định nghĩa trẻ em và việc thực hiện Công ước quyền trẻ em

Công ước quyền trẻ em (CUQTE) được Đại hội đồng LHQ thông qua tại Nghị quyết số 44/25 ngày 20/10/1989, có hiệu lực từ ngày 22/9/1990. Đến nay, với 196 quốc gia thành viên, CUQTE là công ước quốc tế về quyền con người có số lượng quốc gia thành viên đông nhất, phổ biến nhất[1]. Văn kiện này là nền tảng pháp lý cơ bản và quan trọng nhất trong lĩnh vực bảo vệ và chăm sóc trẻ em trên toàn cầu. Trong quá trình thực thi Công ước, mỗi quốc gia cần viện dẫn đến các Nghị định thư không bắt buộc bổ sung cho CUQTE[2], các bình luận chung của Ủy ban Quyền trẻ em[3]; và trong một số trường hợp cả những bộ quy tắc đã tồn tại trước khi Công ước được ban hành để có được những giải thích, hướng dẫn cụ thể và chi tiết trong từng lĩnh vực. Ví dụ, trong lĩnh vực tư pháp người chưa thành niên thì luôn phải viện dẫn đến Bộ quy tắc Tiêu chuẩn tối thiểu về quản lý tư pháp người chưa thành niên (thường gọi là Quy tắc Bắc Kinh) được ban hành bởi Đại hội đồng LHQ năm 1985[4]; Các hướng dẫn về Phòng ngừa các vi phạm pháp luật của người chưa thành niên (Quy tắc Riyadh)[5]; Bộ quy tắc về Bảo vệ trẻ em bị tước tự do (Quy tắc Havana) được Đại hội đồng LHQ ban hành năm 1990[6]; Hướng dẫn về làm việc với trẻ em trong hệ thống tư pháp hình sự, được Hội đồng Kinh tế - Xã hội của LHQ thông qua năm 1997 (Hướng dẫn Viên)[7]; và Bình luận chung số 10(2007) về Quyền của trẻ em trong lĩnh vực tư pháp người chưa thành niên của Ủy ban Quyền trẻ em ban hành năm 2007[8].

Theo quy định tại Điều 1 của Công ước, “Trẻ em là những người dưới 18 tuổi trừ khi pháp luật quốc gia quy định tuổi thành niên sớm hơn”. Như vậy, trừ khi pháp luật quốc gia quy định tuổi thành niên sớm hơn, những người dưới 18 tuổi đều là đối tượng được bảo vệ bởi CUQTE và những văn kiện bổ trợ và giải thích của Công ước.

Để chỉ định những đối tượng được bảo vệ theo CUQTE, các văn kiện pháp luật quốc tế sử dụng thuật ngữ không hoàn toàn thống nhất. Bên cạnh thuật ngữ “trẻ em” (child/ children) được sử dụng trong Công ước và ba Nghị định thư không bắt buộc của CUQTE, có các thuật ngữ khác - gồm: người chưa thành niên (juvenile), thiếu niên (adolescence), người trẻ tuổi (youth) - được sử dụng nhiều trong các Bộ quy tắc, các Hướng dẫn và Bình luận chung. Dù có sự khác biệt như vậy, nhưng các văn kiện này đều thống nhất mục tiêu chung là để bảo vệ những người dưới 18 tuổi hay những người chưa đạt đến tuổi trưởng thành - trẻ em.

Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, hiện không có sự thống nhất tương tự như các thuật ngữ của pháp luật quốc tế,  “trẻ em” và “người chưa thành niên” luôn được hiểu khác biệt. Từ rất sớm, pháp luật về dân sự đã phân biệt người trưởng thành và chưa trưởng thành bởi định nghĩa về vị thành niên hay người chưa thành niên. Điều 7 Sắc lệnh số 97-SL của Chủ tịch nước ngày 22/5/1950 quy định: “Người vị thành niên là con trai hay con gái chưa đủ 18 tuổi”. Cốt lõi của quy định này tiếp tục được duy trì trong các văn bản pháp luật dân sự được ban hành sau đó. Các Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 1995, 2005 và 2015 đều quy định: Người thành niên là người từ đủ mười tám tuổi trở lên; Người chưa đủ mười tám tuổi là người chưa thành niên[9]. “Trẻ em” được định nghĩa muộn hơn bởi các văn bản pháp luật thuộc lĩnh vực bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Định nghĩa “trẻ em” chịu ảnh hưởng đáng kể bởi việc gia nhập CUQTE. Từ khi Việt Nam trở thành thành viên của CUQTE, các nhà nghiên cứu và lập pháp Việt Nam có nhiều tranh luận về định nghĩa “trẻ em” trong mỗi lần sửa đổi các văn bản pháp luật liên quan.

Việt Nam, là quốc gia thứ nhất ở châu Á và thứ hai trên thế giới ký kết và phê chuẩn CUQTE vào ngày 26/1 và ngày 28/2/1990. Sự phê chuẩn nhanh chóng này thường được nhắc đến trong các báo cáo và nghiên cứu liên quan như một điểm ưu tiên đặc biệt của Chính phủ Việt Nam đối với quyền con người của trẻ em và công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em nói chung[10]. Nổi bật hơn, Việt Nam chấp nhận hoàn toàn công ước mà không bảo lưu bất kỳ điều khoản nào, trong khi nhiều quốc gia thành viên của CUQTE khác đã bảo lưu một số các điều khoản của Công ước khi họ ký kết hoặc gia nhập[11].

Kể từ khi chính thức trở thành thành viên của CUQTE, công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em của Việt Nam đã đạt những thành tựu đáng kể. Ngay sau khi trở thành thành viên của CUQTE, Việt Nam đã sửa đổi pháp luật và định nghĩa về trẻ em. Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 1991 được ban hành, thay thế Pháp lệnh bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 1979, định nghĩa: “Trẻ em quy định trong Luật này là công dân Việt Nam dưới mười sáu tuổi” (Điều 1). Quy định này dù chưa đáp ứng hoàn toàn mục tiêu của Công ước, nhưng tiến đến gần hơn yêu cầu của Công ước, đã mở rộng phạm vi những người được coi là trẻ em, tăng thêm một tuổi so với Pháp lệnh Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 1979. Trong Pháp lệnh này, “trẻ em” được quy định: “gồm các em từ mới sinh đến 15 tuổi”. Định nghĩa, trẻ em là những người dưới 16 tuổi tiếp tục được duy trì trong Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004.

Khi báo cáo về việc thực hiện công tác bảo vệ quyền con người theo yêu cầu của các điều ước quốc tế, trong đó có CUQTE, Chính phủ luôn cam kết mạnh mẽ rằng, Việt Nam nghiêm túc thực hiện các điều ước quốc tế, thực hiện CUQTE là một trong những ưu tiên của Việt Nam trong chiến lược bảo vệ quyền con người của quốc gia[12].

Trong Báo cáo phân tích về trẻ em Việt Nam năm 2010, Quỹ Nhi đồng LHQ (UNICEF) cũng đã ghi nhận: Tiếp theo sự nhanh chóng phê chuẩn CUQTE, Việt Nam đã thể hiện sự lãnh đạo có tầm nhìn, đạt được những thành tựu đáng kể trong một thời gian ngắn[13]. Tuy nhiên, trong báo cáo phân tích này cũng như các báo của Ủy ban Quyền trẻ em (cơ quan của LHQ chịu trách nhiệm giám sát việc thực hiện CUQTE) cũng nhấn mạnh rằng, Việt Nam cần tiếp tục cải cách pháp luật và cơ chế thực hiện quyền của trẻ em để có thể đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế được ghi nhận trong CUQTE và các văn kiện có liên quan[14].

Một điểm nổi bật được nhấn mạnh trong tất cả các báo cáo của Ủy ban Quyền trẻ em và UNCIEF cũng như nghiên cứu liên quan về vấn đề quyền trẻ em ở Việt Nam là đều khuyến nghị rằng, Việt Nam cần sửa đổi pháp luật để đảm bảo rằng định nghĩa về trẻ em trong pháp luật Việt Nam phù hợp với định của CUQTE và các văn kiện quốc tế liên quan[15].

Nhận thức rõ những yêu cầu đối với quốc gia khi thực hiện cam kết quốc tế về trẻ em, trong Báo cáo quốc gia về việc thực hiện CUQTE năm 2012, Chính phủ cam kết rằng, Việt Nam sẽ tiến hành sửa đổi pháp luật để phù hợp với quy định của CUQTE (định nghĩa trẻ em là tất cả những người chưa đủ 18 tuổi)[16].

Ngày 28/11/2013, Quốc hội đã thông qua bản Hiến pháp năm 2013[17]. Tiếp theo sau, nhiều các văn bản pháp luật quan trọng liên quan đến quyền con người, quyền trẻ em, quyền của người chưa thành niên được tiến hành sửa đổi mạnh mẽ, trong đó có: BLHS; Bộ luật TTHS; BLDS; Bộ luật TTDS; Luật Tạm giữ, tạm giam; Luật Tố tụng hành chính; và Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em (Luật Trẻ em)... Các Luật này đều đã được thông qua trong các năm 2015, 2016.

Trong tiến trình chung này, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em cũng được thảo luận sôi nổi và Quốc hội đã thông qua với tên gọi là Luật Trẻ em vào ngày 05/4/2016, có hiệu lực từ ngày 01/6/2017. Luật này được soạn thảo bởi Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội - Cơ quan chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về trẻ em và điều phối việc thực hiện quyền trẻ em. Dự thảo Luật đã được xây dựng trong một thời gian khá dài, có thảo luận với góp ý của nhiều ban, ngành liên quan và tổ chức UNICEF Việt Nam về những vấn đề mà Luật điều chỉnh, trong đó có nội dung về độ tuổi của trẻ em. Điều 1 Luật Trẻ em quy định: “Trẻ em là người dưới 16 tuổi”. Như vậy, dù Luật Trẻ em đã có những tiến bộ so với các văn bản tiền thân của nó - bổ sung một số nguyên tắc cơ bản và quyền của trẻ em theo CUQTE mà các luật trước đây chưa ghi nhận, thì đối tượng được Luật này bảo vệ vẫn chỉ bao gồm những người dưới 16 tuổi. Đặt quy định này trong bối cảnh pháp luật quốc gia, BLDS năm 2015 định nghĩa: “người thành niên là người từ đủ mười tám tuổi trở lên” (khoản 1 Điều 20), có thể nhận thấy địa vị pháp lý không rõ ràng của những người từ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi - họ không phải là trẻ em nhưng cũng không phải là người trưởng thành/ người thành niên. Nói cách khác, pháp luật Việt Nam vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của CUQTE về định nghĩa “trẻ em” ở cả hai tiêu chí, độ tuổi được khuyến nghị là 18 và địa vị pháp lý (nếu không phải trẻ em thì là người trưởng thành).

Tóm lại, mặc dù đã cam kết thực hiện CUQTE là một trong những ưu tiên trong chiến lược bảo vệ quyền con người của quốc gia và Việt Nam đang sửa đổi pháp luật để nâng độ tuổi trẻ em lên 18 nhưng đến nay, đã hơn 26 năm kể từ khi Việt Nam chấp nhận hoàn toàn CUQTE, khái niệm cơ bản và quan trọng nhất của Công ước vẫn chưa được nội luật và hài hòa trong hệ thống pháp luật quốc gia. Thời gian tới, Việt Nam phải tiếp tục nghiên cứu sửa đổi pháp luật cho phù hợp với Công ước. Khoảng thời gian đó hẳn không ngắn, bởi theo tiến độ thông thường, phải trên 10 năm thi hành, Luật Trẻ em mới được xem xét sửa đổi, bổ sung.

2. Tính thống nhất của việc sử dụng thuật ngữ “trẻ em” và “người chưa thành niên” trong hệ thống pháp luật Việt Nam

Như đã nêu trên, thời gian qua, nhiều biện pháp cải cách được thực hiện, nhiều văn bản pháp luật đã được ban hành và được coi là thành tựu quan trọng của quá trình cải cách pháp luật, cải cách tư pháp nhằm xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN. Tuy nhiên, có thể khẳng định rằng, còn một khoảng cách xa mới có thể thực sự đáp ứng yêu cầu của một hệ thống pháp luật minh bạch, thống nhất và đầy đủ như Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị đã đề ra[18]. Việc BLHS năm 2015 chưa được thi hành đã phải sửa đổi; việc Bộ luật TTHS, Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự, và Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam đã được ấn định có hiệu lực từ ngày 01/7/2016 nhưng đều bị lùi hiệu lực đến ngày Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS có hiệu lực thi hành là một minh chứng rõ ràng[19].

Như đã giới hạn nêu trên, ở đây, chúng tôi chỉ bàn về việc sử dụng các định nghĩa và thuật ngữ để diễn đạt độ tuổi và mức độ trưởng thành của con người, trong đó bao gồm “trẻ em” và “người chưa thành niên”.

Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, thuật ngữ “trẻ em” và “người chưa thành niên” được sử dụng khá phổ biến, nhiều trường hợp cùng được sử dụng trong một văn bản.

Theo các định nghĩa đã nêu, “trẻ em” là người dưới 16 tuổi; “người chưa thành niên” là người dưới 18 tuổi. Như vậy, mọi trẻ em đều là người chưa thành niên. Tuy nhiên, nghiên cứu việc sử dụng các thuật ngữ này trong các VBQPPL có thể nhận thấy những điểm đặc thù, thể hiện lĩnh vực điều chỉnh, mục tiêu và ý nghĩa tác động của mỗi văn bản.

Khảo sát sơ bộ các VBQPPL được đăng tải trên trang cơ sở dữ liệu Luatvietnam (http://luatvietnam.vn)[20] về việc sử dụng các thuật ngữ này, ta có kết quả như sau: “Trẻ em” được sử dụng trong 3.034 văn bản, trong đó có 82 luật; “Người chưa thành niên” được dùng trong 771 văn bản, trong đó có 53 luật[21].

“Trẻ em” thường được dùng trong các văn bản pháp luật quy định những vấn đề chính sách chăm sóc và bảo vệ mà trẻ em là những đối tượng dễ yếu thế, dễ bị tổn thương. Trong đó bao gồm các BLHS năm 1985 và 1999; các Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 1991, 2004 và 2016; Luật Phổ cập giáo dục tiểu học năm 1991; Luật Giáo dục năm 1998 và 2005; Luật Nuôi con nuôi năm 2010; Luật Phòng, chống mua bán người năm 2011; các Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986, 2000 và 2014...

“Người chưa thành niên” thường được dùng nhiều hơn trong các văn bản quy định về quyền, nghĩa vụ hay trách nhiệm của người chưa thành niên khi họ là một bên trong các giao dịch, hợp đồng hoặc đối tượng của các quan hệ pháp luật trong những tình huống cụ thể, ví dụ, là người vi phạm pháp luật hoặc người tham gia tố tụng. Thuật ngữ “người chưa thành niên” được sử dụng trong các văn bản như: BLHS năm 1985 và 1999; Bộ luật TTHS năm 1988 và 2003; các BLDS năm 1995, 2005 và 2015; Bộ luật TTDS năm 2004 và 2015; các Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986, 2000 và 2014; Luật Thi hành án dân sự năm 2008; Luật Thi hành án hình sự năm 2010; Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012; Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2016...

Bên cạnh đó, pháp luật về hình sự, trong đó có các BLHS năm 1985 và năm 2009 sử dụng cả hai thuật ngữ này. Trong BLHS năm 1999, “trẻ em” được sử dụng 27 lần gắn liền với các tình huống trẻ em là người bị hại, đối tượng cần được bảo vệ; và “người chưa thành niên” được dùng 50 lần với những tình huống là người vi phạm pháp luật, cần áp dụng chính sách hình sự “đặc biệt” để xử lý vì họ chưa trưởng thành đầy đủ về thể chất, tinh thần và nhận thức. Cùng với cách tiếp cận như trên, đối với những trường hợp cần cụ thể hóa hơn nữa những người ở độ tuổi nhất định nằm trong các giới hạn nhỏ hơn 16 hoặc 18 tuổi, thì các giới hạn về tuổi được gắn liền sau các thuật ngữ “trẻ em” hoặc “người chưa thành niên”. Ví dụ, “Người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự theo những quy định của Chương này,...” (Ðiều 68); “Không áp dụng hình phạt tiền đối với người chưa thành niên phạm tội ở độ tuổi từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi...” (khoản 5 Điều 69); “Người nào hiếp dâm trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, thì bị phạt...”.

Như vậy, có thể nói rằng, “trẻ em” và “người chưa thành niên” là những thuật ngữ được sử dụng từ rất lâu, đã trở nên quen thuộc; phù hợp với đặc điểm của hệ thống pháp luật và hoàn cảnh văn hóa, xã hội của nước ta.

Tuy nhiên, BLHS và Bộ luật TTHS năm 2015[22] không sử dụng hai thuật ngữ này mà sử dụng các cụm từ về độ tuổi. Những thuật ngữ mà các BLHS và Bộ luật TTHS trước đây dùng là “trẻ em” được chuyển thành “người chưa đủ 16 tuổi” hoặc “người dưới 16 tuổi”; “người chưa thành niên” được chuyển thành “người dưới 18 tuổi” hoặc “người chưa đủ 18 tuổi”; và “người thành niên” được chuyển thành “người từ đủ 18 tuổi trở lên”.

Hai bảng so sánh dưới đây đưa ra một số minh họa về việc sử dụng các thuật ngữ này trong hai bộ luật về hình sự đã được ban hành trong mối tương quan với BLHS năm 1999 được sửa đổi năm 2009 và Bộ luật TTHS.

Bảng 1

“NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN” VÀ “NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI”

TRONG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VÀ BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ

TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ

 

- BLHS năm 1999[23]

Chương X

Những quy định đối với người chưa thành niên phạm tội

Điều 68. Áp dụng BLHS đối với người chưa thành niên phạm tội

Điều 69. Nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội

1. Việc xử lý người chưa thành niên phạm tội chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội…

2. Người chưa thành niên phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự, nếu...

3. Việc truy cứu trách nhiệm hình sự người chưa thành niên phạm tội và áp dụng hình phạt đối với họ được thực hiện chỉ trong trường hợp cần thiết…

4. Khi xét xử, nếu thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội, thì …

5. Không xử phạt tù chung thân hoặc tử hình đối với người chưa thành niên phạm tội.

Khi áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội cần hạn chế áp dụng hình phạt tù. Khi xử phạt tù có thời hạn, Toà án cho người chưa thành niên phạm tội được hưởng mức án nhẹ hơn mức án áp dụng đối với người đã thành niên phạm tội tương ứng.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với người chưa thành niên phạm tội…

- BLHS năm 2015[24]

Chương XII

Những quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội

Điều 90. Áp dụng BLHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội

Điều 91. Nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội

1. Việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội phải bảo đảm lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi và chủ yếu nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội…

2. Người dưới 18 tuổi phạm tội thuộc một trong các trường hợp... thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự….

3. Việc truy cứu trách nhiệm hình sự người dưới 18 tuổi phạm tội chỉ trong trường hợp cần thiết…

4. Khi xét xử, Tòa án chỉ áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội nếu…

5. Không xử phạt tù chung thân hoặc tử hình đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.

6. Tòa án chỉ áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội khi xét thấy các hình phạt và biện pháp giáo dục khác không có tác dụng răn đe, phòng ngừa.

Khi xử phạt tù có thời hạn, Tòa án cho người dưới 18 tuổi phạm tội được hưởng mức án nhẹ hơn mức án áp dụng đối với người đủ 18 tuổi trở lên phạm tội tương ứng và với thời hạn thích hợp ngắn nhất.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với người dưới 18 tuổi phạm tội…

TRONG BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ

- Bộ luật TTHS năm 2003

Chương XXVII: Thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên

Điều 301. Phạm vi áp dụng

Thủ tục tố tụng đối với người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người chưa thành niên được áp dụng theo quy định của Chương này...

Điều 302. Điều tra, truy tố và xét xử

1. Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán tiến hành tố tụng đối với người chưa thành niên phạm tội phải là người có những hiểu biết cần thiết về tâm lý học, khoa học giáo dục cũng như về hoạt động đấu tranh phòng, chống tội phạm của người chưa thành niên.

2. Khi tiến hành điều tra, truy tố và xét xử cần phải xác định rõ:

a) Tuổi, trình độ phát triển về thể chất và tinh thần, mức độ nhận thức về hành vi phạm tội của người chưa thành niên;

b) Điều kiện sinh sống và giáo dục;

c) Có hay không có người thành niên xúi giục;

d) Nguyên nhân và điều kiện phạm tội.

Điều 304. Việc giám sát đối với người chưa thành niên phạm tội

Điều 305. Bào chữa

1. Người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người chưa thành niên có thể lựa chọn người bào chữa hoặc tự mình bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo.

2. Trong trường hợp bị can, bị cáo là người chưa thành niên hoặc người đại diện hợp pháp của họ không lựa chọn được người bào chữa thì...

- Bộ luật TTHS năm 2015

Chương XXVIII: Thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi

Ðiều 413. Phạm vi áp dụng

Thủ tục tố tụng đối với người bị buộc tội, người bị hại, người làm chứng là người dưới 18 tuổi được áp dụng theo quy định của Chương này...

Điều 414. Nguyên tắc tiến hành tố tụng

1. Bảo đảm thủ tục tố tụng thân thiện, phù hợp với tâm lý, lứa tuổi, mức độ trưởng thành, khả năng nhận thức của người dưới 18 tuổi; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người dưới 18 tuổi; bảo đảm lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi.

2. Bảo đảm giữ bí mật cá nhân của người dưới 18 tuổi.

3. Bảo đảm quyền tham gia tố tụng của người đại diện của người dưới 18 tuổi, nhà trường, Ðoàn thanh niên, người có kinh nghiệm, hiểu biết về tâm lý, xã hội, tổ chức khác nơi người dưới 18 tuổi học tập, lao động và sinh hoạt.

4. Tôn trọng quyền được tham gia, trình bày ý kiến của người dưới 18 tuổi.

5. Bảo đảm quyền bào chữa, quyền được trợ giúp pháp lý của người dưới 18 tuổi.

6. Bảo đảm các nguyên tắc xử lý của BLHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.

7. Bảo đảm giải quyết nhanh chóng, kịp thời các vụ án liên quan đến người dưới 18 tuổi.

Ðiều 415. Người tiến hành tố tụng

Người tiến hành tố tụng đối với vụ án có người dưới 18 tuổi phải là người đã được đào tạo hoặc có kinh nghiệm điều tra, truy tố, xét xử vụ án liên quan đến người dưới 18 tuổi, có hiểu biết cần thiết về tâm lý học, khoa học giáo dục đối với người dưới 18 tuổi.

Ðiều 416. Những vấn đề cần xác định khi tiến hành tố tụng đối với người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi

1. Tuổi, mức độ phát triển về thể chất và tinh thần, mức độ nhận thức về hành vi phạm tội của người dưới 18 tuổi.

2. Ðiều kiện sinh sống và giáo dục.

3. Có hay không có người đủ 18 tuổi trở lên xúi giục.

4. Nguyên nhân, điều kiện, hoàn cảnh phạm tội.

Ðiều 417. Xác định tuổi của người bị buộc tội, người bị hại là người dưới 18 tuổi

Ðiều 418. Giám sát đối với người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi

Ðiều 422. Bào chữa

1. Người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa.

2. Người đại diện của người dưới 18 tuổi bị buộc tội có quyền lựa chọn người bào chữa hoặc tự mình bào chữa cho người dưới 18 tuổi bị buộc tội.

3. Trường hợp người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi không có người bào chữa hoặc người đại diện của họ không lựa chọn người bào chữa thì…

 

Bảng 2

“TRẺ EM” VÀ “NGƯỜI DƯỚI 16 TUỔI”

TRONG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ

- BLHS năm 1999[25]

Điều 48.  Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

1. Chỉ các tình tiết sau đây mới là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

...

h) Phạm tội đối với trẻ em, phụ nữ có thai, người già...

Điều 93.  Tội giết người 

1. Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

...

c) Giết trẻ em;

Điều 112.  Tội hiếp dâm trẻ em 

Điều 113.  Tội cưỡng dâm trẻ em 

Điều 115.  Tội giao cấu với trẻ em

Điều 116.  Tội dâm ô đối với trẻ em 

Điều 120. Tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em

- BLHS năm 2015[26]

Điều 52. Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

1. Chỉ các tình tiết sau đây mới là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

i) Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ có thai…

Điều 123. Tội giết người    

1. Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:

...

b) Giết người dưới 16 tuổi;

Điều 142. Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi

Điều 144. Tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi

Điều 145. Tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi

Điều 146. Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi

Điều 147. Tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm

Điều 151. Tội mua bán người dưới 16 tuổi

Điều 153. Tội chiếm đoạt người dưới 16 tuổi

 

 

Như vậy, trong các văn bản pháp luật hiện hành của nước ta, “người chưa thành niên” và “trẻ em” được BLDS và Luật Trẻ em (Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em) định nghĩa rất rõ ràng, là “người dưới 18 tuổi” và “người dưới 16 tuổi” (hoặc “người dưới 15 tuổi”). Đây là những định nghĩa nền tảng, cơ sở được sử dụng và viện dẫn khi diễn giải, quy định hoặc làm rõ những vấn đề liên quan trong các văn bản pháp luật khác, bao gồm: Hiến pháp; các văn bản pháp luật về hình sự được ban hành trước khi có BLHS và Bộ luật TTHS năm 2015; Bộ luật TTDS; Luật Tố tụng hành chính; Luật Xử lý vi phạm hành chính; Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam; Luật Thi hành án dân sự; Luật Thi hành án hình sự; Luật Báo chí; Luật Tổ chức Tòa án nhân dân... Trong các báo cáo tổng hợp ý kiến của các đại biểu Quốc hội giải trình về việc chỉnh lý Luật sửa đổi BLHS năm 2017, các thuật ngữ “người chưa thành niên” và “trẻ em” vẫn được sử dụng khi đề cập đến các nội dung quy định liên quan đến “người dưới 18 tuổi”.

Bộ luật BLHS năm 2015 và Bộ luật TTHS năm 2015 đều có chế định dành riêng để điều chỉnh đối với người chưa thành niên đã thể hiện chính sách hình sự nhân đạo và khoa học của Đảng và Nhà nước ta đối với những người chưa trưởng thành, chưa phát triển đầy đủ cả về thể chất và tâm lý, nhận thức. Nội dung của những quy định này đã thể chế hóa khá đầy đủ các tiêu chuẩn pháp luật quốc tế về tư pháp người chưa thành niên mà trọng tâm các nguyên tắc cơ bản và các quyền của trẻ em quy định tại các Điều 2, 4, 6, 12, 38 và 40 của CUQTE; các hướng dẫn của Quy tắc Bắc Kinh và Quy tắc Havana. Tuy nhiên, việc thay thế các thuật ngữ “người chưa thành niên” và “trẻ em” bằng các cụm từ “người dưới 18 tuổi” và “người dưới 16 tuổi” không chỉ tạo nên sự “lạ lẫm” về ngôn ngữ mà còn đem đến cảm giác rời rạc, làm cho hai Bộ luật này “có vẻ” thiếu tính chính sách và đường lối của những văn bản pháp lý quan trọng, thiếu tính kế thừa và tính liên quan trong hệ thống VBQPPL nói chung. Đồng thời, điều này cũng không làm nổi bật được ý nghĩa chung của chính sách pháp luật hình sự của quốc gia đã tiếp cận và sự phù hợp với các chuẩn mực pháp lý quốc tế về tư pháp người chưa thành niên.

Thực tế, trong quá trình soạn thảo đến khi trình ra Quốc hội, các dự thảo của BLHS và Bộ luật TTHS năm 2015 đều sử dụng các thuật ngữ “trẻ em” và “người chưa thành niên” như trong các văn bản trước của nó. Tuy nhiên, vào thời điểm hai Bộ luật này chuẩn bị được ban hành thì dự thảo Luật Trẻ em được đưa ra lấy ý kiến với định nghĩa “trẻ em là những người dưới 18 tuổi”. Có lẽ, e ngại những “rắc rối” có thể xảy ra trong trường hợp Luật Trẻ em được thông qua với định nghĩa về trẻ em như vậy, hai bộ luật về hình sự và TTHS đã “nhanh chóng” được chỉnh sửa bằng việc thay thế tất cả các thuật ngữ “trẻ em” và “người chưa thành niên” bằng các cụm từ “người dưới 18 tuổi” và “người dưới 16 tuổi”. Việc thay thế này không làm sai lệch nội dung chi tiết của mỗi quy định, điều luật cụ thể nhưng lại làm cho văn bản thiếu tính hệ thống và kế thừa, thiếu mối liên hệ với BLDS và Luật Trẻ em, không làm nổi bật được ý nghĩa của chính sách pháp luật hình sự mà Đảng và Nhà nước Việt Nam ưu tiên áp dụng để bảo vệ trẻ em và người chưa thành niên - những người chưa trưởng thành. Trong quá trình thảo luận dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015, nhiều ý kiến của đại biểu Quốc hội đã đề nghị không sử dụng các cụm từ “người dưới 18 tuổi” và “người dưới 16 tuổi” mà sử dụng các thuật ngữ “trẻ em” và “người chưa thành niên”; đồng thời kiến nghị sửa lại tên một số điều luật liên quan đến trẻ em như trong các bộ luật trước đây, xem xét lại việc quy định trách nhiệm hình sự của những người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi đối với các tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng tại các góp ý và báo cáo chỉnh lý tiếp thu đối với dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015 - là một ví dụ minh họa cho thấy sự thiếu phù hợp của các cụm từ thay thế so với các thuật ngữ được sử dụng trong các bộ luật trước đây[27].

Tóm lại, thời gian vừa qua, Việt Nam đã nỗ lực cải cách hệ thống pháp luật và hướng đến một hệ thống pháp luật đầy đủ và hoàn thiện; đồng bộ và hài hòa với các quy định của pháp luật quốc tế, trong đó có CUQTE. Hệ thống pháp luật quốc gia đã có nhiều thay đổi trong thời gian vừa qua, trong đó có việc ban hành Luật Trẻ em năm 2016, các bộ luật về hình sự và TTHS năm 2015... Tuy nhiên, vẫn còn một khoảng cách đáng kể để có thể đến gần mục tiêu đề ra. Chỉ trong phạm vi định nghĩa về trẻ em và tư pháp người chưa thành niên đã cho thấy nhiều vấn đề cần phải cải thiện. Trong hệ thống pháp luật hiện hành của Việt Nam, vẫn tồn tại những người không phải là trẻ em nhưng cũng không là người trưởng thành. Việt Nam vẫn chưa thực hiện được cam kết dưới góc độ là quốc gia thành viên của CUQTE; chưa đáp ứng các chuẩn mực pháp lý quốc tế về tư pháp người chưa thành niên. Việc BLHS và Bộ luật TTHS năm 2015 thay thế các thuật ngữ “người chưa thành niên” và “trẻ em” bằng các cụm từ “người dưới 18 tuổi” và “người dưới 16 tuổi” thể hiện sự thiếu liên hệ, thiếu tính chính sách và đường lối của những văn bản pháp lý quan trọng; thiếu tính kế thừa, tính liên quan và tính đồng bộ trong hệ thống VBQPPL quốc gia./.

 ________________________________________

[1] Xem United Nations, “Status of Treaties: Convention on the Rights of the Child” United Nations Treaty Collection, trên https://treaties.un.org/Pages/ViewDetails.aspx?src=TREATY&mtdsg_no=IV-11&chapter=4& lang=en>; truy cập ngày 24/5/2017.

[2] Đến nay, CUQTE có ba Nghị định thư không bắt buộc bổ sung Công ước trong các lĩnh vực: i) Sử dụng trẻ em trong xung đột vũ trang; ii) Buôn bán trẻ em, mại dâm trẻ em và văn hóa phẩm khiêu dâm trẻ em ; iii) Thủ tục khiếu nại. (Xem chi tiết các Nghị định thư: 1. Optional Protocol to the Convention on the Rights of the Child on the involvement of children in armed conflict; 2 Optional Protocol to the Convention on the Rights of the Child on the sale of children, child prostitution and child pornography; 3 Optional Protocol to the Convention on the Rights of the Child on a communications procedure, trên https://treaties.un.org, truy cập ngày 24/5/2017).

[3] Đến nay, Ủy ban Quyền trẻ em đã ban hành 20 Bình luận chung về các lĩnh vực khác nhau của quyền trẻ em. Xem trên United Nations Human Rights: Office of the High Commissioner; trên http://tbinternet.ohchr.org/ layouts/treatybodyexternal/TBSearch.aspx?Lang=en& TreatyID=5&DocTypeID=11>, truy cập ngày 24/5/2017.

[4] United Nations (1985), Standard Minimum Rules for Administration of Juvenile Justice (the Beijing Rules).

[5] United Nations (1990a), United Nations Guidelines for the Prevention of Juvenile Delinquency (The Riyadh Guidelines).

[6] United Nations (1990b), Rules for the Protection of Juveniles Deprived of their Liberty.

[7] UN Economic and Social Council (1997), Guidelines for Action on Children in the Criminal Justice System.

[8] General Comment No 10 (2007): Children’s Rights in Juvenile Justice.

[9] Xem Điều 20 BLDS năm 1995; Điều 18 BLDS năm 2005; Điều 21 BLDS năm 2015.

[10] Viet Nam (2009), Báo cáo quốc gia kiểm điểm định kỳ việc thực hiện quyền con người ở Việt Nam; UNICEF (2011), Báo cáo phân tích tình hình trẻ em tại Việt Nam 2010, tr. 50; Lê Hữu Thể (2012), “Sự cần thiết và những vấn đề đặt ra về thành lập Tòa án người chưa thành niên trước yêu cầu cải cách tư pháp”  trong Báo cáo tổng quan về cơ sở lý luận và thực tiễn của sự cần thiết thành lập Tòa án chuyên trách đối với người chưa thành niên ở Việt Nam, Hà Nội, Nxb. Thanh niên, tr. 145-151.

[11] Các điều khoản bảo lưu thể hiện quốc gia thành viên chưa thể thực hiện được do các điều kiện về chính trị, kinh tế và xã hội hoặc do đặc thù khác biệt về văn hóa, truyền thống.  Danh sách các quốc gia thành viên và điều khoản bảo lưu, xem “Status of Treaties: Convention on the Rights of the Child”, tại United Nations Treaty Collection, trên https://treaties.un.org/Pages/ViewDetails.aspx?src=TREATY&mtdsg_no=IV-11&chapter=4&lang=en>; truy cập ngày 15/5/2017.

[12] Viet Nam (2009), Báo cáo quốc gia kiểm điểm định kỳ việc thực hiện quyền con người ở Việt Nam.

[13] UNICEF (2011), Báo cáo phân tích tình hình trẻ em tại Việt Nam 2010, tr. 50.

[14] Xem UNICEF (2011), Báo cáo phân tích tình hình trẻ em tại Việt Nam 2010, tr. 50 - 51; CRC Committee (2012), “Consideration of the Reports submitted by States Parties under the Article 44 of the Convention - Concluding Observations: Vietnam”.

[15] Xem, UNICEF (2011), Báo cáo phân tích tình hình trẻ em tại Việt Nam 2010, tr. 50; CRC Committee (1993),  “Consideration of Reports Submitted by States Parties under Article 44 of the Convention - Concluding Observations of the Committee on the Rights of the Child: Vietnam; CRC Committee (2003). Consideration of Reports Submitted by States Parties under Article 44 of the Convention - Concluding Observations: Vietnam; CRC Committee (2012), “Consideration of the Reports submitted by States Parties under the Article 44 of the Convention - Concluding Observations: Vietnam”.

[16] Vietnam (2012), “Updating period 2008 – 2011 for the 3rd and the 4th National Reports on Vietnam’s Implementation of the Convention on the Rights of the Child and Responses to the Questions of the Committee on the Rights of the Child”.

[17] Hiến pháp có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2014 .

[18] Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2010.

[19] Các Luật này đã được ấn định có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2016 nhưng sau đó đã bị lùi thời hiệu thi hành. Xem Quốc hội (2016), Nghị quyết số 144/2016/QH13 về việc lùi hiệu lực thi hành của BLHS số 100/2015/QH13, Bộ luật TTHS số 101/2015/QH13, Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự số 99/2015/QH13, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam số 94/2015/QH13 và bổ sung dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS số 100/2015/QH13 vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2016.

[20] Đây là trang Cơ sở dữ liệu về pháp luật lớn nhất ở Luật Việt Nam, chứa đựng các văn bản từ năm 1945.

[21] Khảo sát được thực hiện vào ngày 07/5/2017.

[22] Hai Bộ luật này cùng được Quốc hội thông qua vào ngày 27/11/2015 và quy định có hiệu lực từ ngày 01/7/2016.

[23] Được sửa đổi, bổ sung năm 2009.

[24] Được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[25] Được sửa đổi năm 2009.

[26] Được sửa đổi năm 2017.

[27] Xem: Tổng thư ký Quốc hội khóa XIV (2017), Báo cáo số 625/BC-TTKQH ngày 18/5/2017 tổng hợp ý kiến các Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội tại Hội nghị đại biểu Quốc hội chuyên trách về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS số 100/2015/QH13, tr. 18, 20, 27, 28, 47; Ủy ban thường vụ Quốc hội (2017), Báo cáo số 117/BC-UBTVQH14 ngày 20/5/2017 về giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS số 100/2015/QH13, tr. 8, 20, 29.

Phạm Thị Thanh Nga, TS. Tòa án nhân dân tối cao;

Nguyễn Xuân Tĩnh, ThS. Tòa án nhân dân tối cao.

 

Link bài viết:

http://www.nclp.org.vn/nha_nuoc_va_phap_luat/tre-em-va-nguoi-chua-thanh-nien-trong-phap-luat-viet-nam-nhin-tu-nghia-vu-thuc-hien-cong-uoc-cua-lhq-ve-quyen-tre-em-va-tinh-thong-nhat-cua-he-thong-phap-luat

 

Tin liên quan : Phân tích - Bình luận

Bảo hiểm y tế góp phần hỗ trợ khám chữa bệnh cho đồng bào các dân tộc thiểu số 07 12 2017

Hội và Quyền tự do lập Hội 07 12 2017

Bảo đảm công lý đối với nạn nhân bị bạo lực trên cơ sở giới tại TAND và một số kiến nghị 07 12 2017

Những khoảng trống trong chính sách pháp luật về phụ nữ - đề xuất giải pháp 05 12 2017

Đào tạo nghề cho lao động nông thôn - Thực trạng và giải pháp 04 12 2017

Đặt câu hỏi

Họ tên:
Email:
Điện thoại:
Tiêu đề:
Nội dung:

Tư vấn pháp luật