1. Khái niệm trẻ em trong Công ước quốc tế về Quyền trẻ em và bối cảnh của Việt Nam

Về cơ bản, các quốc gia có thể tự xác định một mức tuổi pháp lý để định nghĩa trẻ em. Điều 1 Công ước quốc tế về Quyền trẻ em năm 1990 (CRC) đưa ra một định nghĩa chung về trẻ em, theo đó trẻ em (child) là người dưới 18 tuổi - trừ khi quốc gia có quy định người có tuổi thành niên sớm hơn. Định nghĩa này đã được các cơ quan nhân quyền quốc tế ủng hộ và khuyến khích các quốc gia thành viên tiếp nhận[1], nhưng người chưa thành niên (juvenile) thì lại không được CRC định nghĩa.

            Ở Việt Nam, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 quy định trẻ em là người dưới 16 tuổi[2]. Vào thời điểm sửa Luật này, một số cơ quan tổ chức quốc tế như Quỹ Nhi đồng Liên hiệp quốc (UNICEF) tại Việt Nam đã cố gắng vận động để nâng khung tuổi trẻ em lên 18 - phù hợp với Công ước quốc tế về Quyền trẻ em năm 1990, nhưng cuối cùng, Luật Trẻ em năm 2016 cũng vẫn giữ nguyên cách xác định này[3].

            Trong khi đó, người chưa thành niên trong pháp luật Việt Nam được hiểu là người chưa đủ 18 tuổi[4]. Như vậy, có thể hiểu người chưa thành niên trong pháp luật Việt Nam cũng chính là trẻ em theo định nghĩa của CRC. Tuy nhiên, việc sử dụng hai thuật ngữ này trong văn bản pháp luật của Việt Nam lại có sự khác biệt: “trẻ em” thường được sử dụng để nhấn mạnh tính dễ tổn thương và quyền của đối tượng này; trong khi đó, “người chưa thành niên” không chỉ có quyền mà còn có cả nghĩa vụ và trách nhiệm đối với người khác.

2. Nguyên tắc vì lợi ích tốt nhất của trẻ em trong Công ước quốc tế về Quyền trẻ em  

Đây là nguyên tắc mang tính định hướng hết sức quan trọng cho việc ghi nhận và thực thi quyền trẻ em[5]. Theo đó, tất cả những hành động liên quan đến trẻ em, dù do các cơ quan phúc lợi xã hội công cộng hay tư nhân, toà án, các nhà chức trách hành chính hay các cơ quan lập pháp tiến hành thì lợi ích tốt nhất của trẻ em phải là một quan tâm hàng đầu[6].

Theo học giả Philip Alston, nguyên tắc vì lợi ích tốt nhất của trẻ em cần được hiểu và vận dụng ở ba khía cạnh sau: thứ nhất, trong vụ việc có nhiều lợi ích xung đột, thì lợi ích tốt nhất của trẻ em phải được ưu tiên cân nhắc[7]; thứ hai, khi một quy định của pháp luật thiếu rõ ràng và để mở nhiều khả năng giải thích, thì cách giải thích có lợi nhất cho trẻ em phải được áp dụng; thứ ba, trong tất cả các vấn đề mà CRC không đề cập, nguyên tắc lợi ích tốt nhất của trẻ em sẽ là thước đo để đánh giá pháp luật và thực tiễn của quốc gia thành viên[8].

            Liên quan đến tội phạm vị thành niên, CRC khuyến cáo các quốc gia sử dụng nguyên tắc lợi ích tốt nhất của trẻ em định hướng cho việc đề ra phương hướng, mục tiêu của hệ thống hình sự của quốc gia khi xử lý người chưa thành niên phạm tội[9]. Chẳng hạn như, khi giải quyết tội phạm vị thành niên, nên thay thế mục tiêu cơ bản của pháp luật hình sự là để trừng phạt bằng công lý phục hồi[10]; xem xét độ tuổi tối thiểu chịu trách nhiệm hình sự (TNHS); khi đánh giá khung hình phạt, các biện pháp thay thế, và thủ tục tố tụng hình sự áp dụng đối với tội phạm vị thành niên...

            2.1 Độ tuổi tối thiểu chịu TNHS    

Khái niệm độ tuổi tối thiểu chịu TNHS để chỉ mức tuổi thấp nhất mà ở đó một người có thể phải chịu trách nhiệm do vi phạm pháp luật hình sự. Vấn đề là làm sao cân bằng giữa duy trì trật tự công cộng và bảo vệ quyền trẻ em. Về cơ bản, việc xác định tuổi tối thiểu chịu TNHS mang tính chủ quan và tuỳ thuộc vào mỗi quốc gia, vì vậy không có một công thức nào chung nhất[11]. Tuổi tối thiểu chịu TNHS được quy định tại các quốc gia tương đối khác biệt và dao động “từ mức rất thấp, khoảng 7 hay 8 tuổi tới mức tương đối cao là khoảng 14 hoặc 16 tuổi”[12].

            Điều 40.3 CRC buộc quốc gia phải đưa ra tuổi tối thiểu chịu TNHS xác định, mà dưới mức này thì chủ thể sẽ được cho là không có khả năng xâm phạm pháp luật hình sự. Nhìn chung, quốc gia vẫn có thẩm quyền rất lớn trong vấn đề này. Quy tắc 4 trong Nguyên tắc Bắc Kinh khuyến nghị rằng tuổi tối thiểu chịu TNHS không nên quá thấp và nhà chức trách cần phải cân nhắc yếu tố non nớt về thể chất và tinh thần của trẻ em. Uỷ ban CRC đã bổ sung và cho rằng, tuổi tối thiểu chịu TNHS mà dưới 12 tuổi là không thể chấp nhận, vì trái với nguyên tắc vì lợi ích tốt nhất của trẻ em[13].

            2.2 Các biện pháp thay thế và chuyển hướng

Sự cần thiết của các biện pháp thay thế xuất phát từ lập luận rằng, trẻ em vốn thiếu sự chín chắn, tâm lý chưa ổn định, dễ bị tổn thương nên việc tiếp xúc với các cơ quan công quyền, đặc biệt là trong hệ thống hình sự có thể gây tác động xấu và lâu dài tới tâm lý của các em. Mục tiêu của các biện pháp thay thế và chuyển hướng là để hạn chế sự tiếp xúc với hệ thống hình sự, nhưng vẫn đảm bảo người chưa thành niên phạm tội nhận được sự giáo dục và giúp đỡ cần thiết để khắc phục sai lầm của mình.

Trường hợp nhận thấy không cần thiết phải xét xử hình sự, các quốc gia được khuyến khích nên thiết lập các biện pháp khác ngoài toà án để xử lý tội phạm chưa thành niên[14]. Các biện pháp này bao gồm chăm sóc, hướng dẫn, giám sát, thử thách, giáo dưỡng tại các cơ sở tập trung. Trường hợp bắt buộc phải tiến hành tố tụng hình sự (TTHS), thì hệ thống hình sự của quốc gia cần sử dụng kết hợp các biện pháp giáo dục và xã hội, đặc biệt là hạn chế việc tước đoạt tự do của người chưa thành niên.

3. Nguyên tắc vì lợi ích tốt nhất của trẻ em trong pháp luật hình sự Việt Nam

Bộ luật Hình sự (BLHS) Việt Nam năm 2015 đưa ra những nguyên tắc chung khi xử lý tội phạm vị thành niên. Nhìn chung, việc xử lý hình sự đối với các đối tượng này phải dựa trên độ tuổi, sự chín chắn và hiểu biết cũng như mức độ nghiêm trọng trong hành vi phạm tội của họ. Việc xử lý hình sự chủ yếu nhằm giúp đỡ những người này mang tính khắc phục thiệt hại, sửa chữa và tránh những sai lầm sau này[15]. Quy định mới trong pháp luật hình sự còn nâng mục tiêu này lên thành nguyên tắc cơ bản; theo đó, lần đầu tiên pháp luật hình sự thừa nhận nguyên tắc “vì lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi”[16]. Điều này cho thấy, các nhà làm luật Việt Nam đang nỗ lực đảm bảo pháp luật Việt Nam tương thích với pháp luật quốc tế.

Tuy nhiên, ở một góc độ khác, quy định này có phần khó hiểu. Nguyên tắc “lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi” có nghĩa là gì?

Theo pháp luật hình sự Việt Nam, người từ đủ 14 tuổi tới 18 tuổi là những người phải chịu TNHS. Trong khi đó, chỉ những người từ 14 đến 16 tuổi mới được coi là trẻ em. Như vậy, liệu có phải nguyên tắc này chỉ áp dụng đối với đối tượng trẻ em đó, mà không mở rộng đối với người từ 16 đến 18 tuổi? Cách lập luận này không thuyết phục bởi: thứ nhất, nếu chỉ áp dụng cho một nhóm đối tượng cụ thể thì pháp luật phải quy định chi tiết, rõ ràng chứ không thể gói gọn chung chung vào một cụm từ “người dưới 18 tuổi”; thứ hai, BLHS và Bộ luật TTHS đều thừa nhận tính thiếu chín chắn, hiểu biết và dễ bị tổn thương là đặc tính chung của nhóm người dưới 18 tuổi. Vì vậy, nguyên tắc nêu trên cần được áp dụng chung cho nhóm đối tượng này.

Tới đây lại nảy sinh một câu hỏi: liệu nguyên tắc “lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi” là nguyên tắc mới do nhà làm luật Việt Nam sáng tạo ra? Bởi trong CRC chỉ tồn tại duy nhất nguyên tắc vì “lợi ích tốt nhất của trẻ em”. Sở dĩ có nguyên tắc này là do đây là đối tượng yếu thế, thiếu sự chín chắn và dễ bị tổn thương, do đó cần sự chăm sóc, quan tâm đặc biệt từ những người xung quanh. Chúng tôi cho rằng, các nhà làm luật Việt Nam đang nhắc đến nguyên tắc vì lợi ích tốt nhất của trẻ em trong CRC nhưng có sự sửa đổi kỹ thuật cho phù hợp thực tế của Việt Nam. Việc bổ sung nguyên tắc này vào trong BLHS có ý nghĩa quan trọng, nâng cao nhận thức của các cơ quan tiến hành tố tụng khi xử lý các vấn đề liên quan tới người chưa thành niên phạm tội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng nguyên tắc này sẽ đặt câu hỏi ngược lại với định nghĩa trẻ em trong Luật Trẻ em năm 2016. Có thể, chúng ta sẽ phải sửa lại định nghĩa “trẻ em” để đảm bảo tính tương đồng giữa pháp luật trong nước và quốc tế cũng như các nguyên tắc liên quan.

3.1 Tuổi tối thiểu chịu TNHS trong pháp luật hình sự Việt Nam

Theo BLHS năm 2009, người từ đủ 16 trở lên sẽ phải chịu trách nhiệm đối với tất cả tội phạm mà mình thực hiện. Những người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu TNHS nếu phạm tội rất nghiêm trọng một cách cố ý hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng. Quy định mức tuổi tối thiểu chịu TNHS của Việt Nam về cơ bản là tương thích với tiêu chuẩn quốc tế đặt ra.

            Trong quá trình sửa đổi BLHS và Bộ luật TTHS, một số ý kiến cho rằng, Điều 12 BLHS năm 2009 liên quan tới TNHS của người từ 14 đến 16 tuổi là quá rộng và thiếu rõ ràng[17]. Nhìn chung, những đối tượng này vẫn phải chịu trách nhiệm cho hầu hết tất cả các loại tội phạm. Quy định như vậy không thể hiện được chính sách nhân đạo của Nhà nước đối với nhóm người này.

Cuối cùng, BLHS năm 2015 đã được sửa đổi theo hướng: mức tuổi tối thiểu chịu TNHS vẫn giữ nguyên là từ 14 tuổi nhưng làm rõ hơn những tội mà những người từ 14 đến 16 tuổi phải chịu TNHS, bao gồm hai nhóm[18]: thứ nhất, tội giết người, tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, tội hiếp dâm, tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi, tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, tội cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản; thứ hai, tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một số điều cụ thể trong BLHS[19]. Người từ đủ 16 tuổi tới 18 tuổi thì vẫn phải chịu TNHS đối với tất cả các tội phạm.

Các quy định trong BLHS năm 2009 và 2015 đều áp dụng tại thời điểm phạm tội. Nói cách khác, thủ tục TTHS cũng như hình phạt được áp dụng với cả người đã thành niên nếu như tại thời điểm phạm tội họ chưa đủ 18 tuổi. Toà án nhân dân tối cao đã ban hành văn bản hướng dẫn xác định tuổi của người phạm tội trong trường hợp họ không có đầy đủ giấy tờ nhân thân[20]. Trong thực tế, Toà phúc thẩm tại thành phố Hồ Chí Minh đã từng bác kháng cáo tăng án tử hình với lý do bị cáo chưa đủ 18 tuổi khi phạm tội[21]. Bộ luật TTHS năm 2015 đã quy định thống nhất theo hướng bổ sung điều khoản về phương thức xác định tuổi của người phạm tội và nạn nhân là người chưa thành niên[22]. Những quy định này là hoàn toàn phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

3.2 Các biện pháp thay thế và chuyển hướng

Như đã trình bày ở trên, nguyên tắc vì lợi ích tốt nhất của trẻ em đòi hỏi toà án và các cơ quan tố tụng hình sự khác cân nhắc rất kỹ trước khi tiến hành xử lý hình sự người chưa thành niên phạm tội.

            Khoản 4 Điều 69 BLHS năm 2009 quy định: “Khi xét xử, nếu thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội, thì Toà án áp dụng một trong các biện pháp tư pháp được quy định tại Điều 70 của Bộ luật này.” Nói khác đi, Toà án sẽ cân nhắc hình phạt trước, và nếu thấy không cần thiết thì mới xem xét tới các biện pháp tư pháp khác. Quy định này rõ ràng không phù hợp với lợi ích tốt nhất của trẻ em, vốn đòi hỏi nhiều bao dung và hạn chế tiếp xúc với cơ quan công quyền. Đồng thời, Uỷ ban CRC cũng khẳng định rằng, việc tước đoạt tự do của trẻ em chỉ nên được coi là biện pháp cuối cùng khi không còn biện pháp nào khác thay thế[23]. Quy định tương tự cũng có thể tìm thấy tại khoản 2 Điều 307 Bộ luật TTHS năm 2003.

            BLHS năm 2015 đã sửa đổi quy định này, theo đó Toà án sẽ chỉ áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội nếu xét thấy việc miễn TNHS và áp dụng các biện pháp giám sát, giáo dục tại Mục 2 và 3 Chương XII của Bộ luật này không đảm bảo hiệu quả giáo dục, phòng ngừa[24]. Quy định như vậy thể hiện sự đổi mới trong tư duy của nhà làm luật, đề cao lợi ích của trẻ em và là kim chỉ nam cho các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự khi xử lý người chưa thành niên phạm tội.

Tuy nhiên, vẫn có sự lạc nhịp giữa BLHS và Bộ luật TTHS mới. Khoản 6 Điều 423 Bộ luật TTHS năm 2015 vẫn giữ lại quy định cũ: “Khi xét xử, nếu thấy không cần thiết phải quyết định hình phạt đối với bị cáo thì Hội đồng xét xử áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng”. Quy định như trên lại tiếp tục bước theo hướng truyền thống của hệ thống pháp luật hình sự, đó là trừng phạt và trả đũa, thay vì hướng người phạm tội nhận thức và khắc phục sai lầm.

Sự mâu thuẫn giữa hai bộ luật này có thể gây ra khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng trên thực tế, đòi hỏi phải có phương hướng giải quyết. Chúng tôi khuyến nghị rằng, việc áp dụng nguyên tắc vì lợi ích tốt nhất của người chưa đủ 18 tuổi (nếu các quy định của pháp luật đưa đến nhiều cách hiểu khác nhau thì cách hiểu nào có lợi nhất cho trẻ em cần được ưu tiên) sẽ giải quyết được vấn đề này. Cụ thể, trong trường hợp nêu trên, các biện pháp giám sát và giáo dục được ưu tiên xem xét trước. Tuy nhiên, về dài hạn, Việt Nam cần xem xét sửa đổi quy định này sao cho đảm bảo tính thống nhất giữa hai bộ luật.

            Khoản 2 Điều 69 BLHS năm 2009 quy định: “Người chưa thành niên phạm tội có thể được miễn TNHS nếu phạm tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng gây hại không lớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ”. Quy định này không loại trừ những người từ 14 đến 16 tuổi chịu TNHS đối với những tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng. Như vậy, theo quy định của  BLHS năm 2009, người chưa thành niên phạm tội vẫn phải trải qua quá trình TTHS nặng nề và đôi khi là phiền hà dù cho tội phạm thực hiện không quá nghiêm trọng.

            BLHS năm 2015 đã khắc phục những vấn đề này. 

Thứ nhất, khoản 2 Điều 91 Bộ luật quy định cụ thể một số trường hợp mà người dưới 18 tuổi sẽ được miễn TNHS, trong đó các đối tượng bao gồm cả người từ 14 đến 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý[25].

Thứ hai, BLHS bổ sung một mục mới quy định các biện pháp giám sát, giáo dục trong trường hợp được miễn TNHS, trong đó có thêm phương thức khiển trách, hoà giải tại cộng đồng; đồng thời tách riêng phương thức giáo dục tại trường giáo dưỡng. Cũng cần phải nói thêm, phương thức giáo dục tập trung tại trường giáo dưỡng là một hình thức tước đoạt tự do của người chưa thành niên phạm tội. Trước đây, pháp luật hành chính cho phép Chủ tịch Uỷ ban nhân dân được quyết định vấn đề này, nhưng quy định này đã được sửa. Theo đó, chỉ có Toà án mới có quyền ra quyết định tước đoạt tự do của cá nhân. Đây là sự sửa đổi hoàn toàn phù hợp với pháp luật quốc tế, đặc biệt là với CRC ở khía cạnh vì lợi ích của trẻ em.

            Thứ ba, BLHS mới mở rộng các chủ thể có thẩm quyền được áp dụng các biện pháp tư pháp; theo đó, không chỉ có Toà án mà Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát cũng có thẩm quyền này. Đây là sự sửa đổi rất tiến bộ nhằm tạo điều kiện cho những người chưa thành niên phạm tội có thể nhận ra sai lầm của mình và sớm trở về với cộng đồng.

            Trường hợp bắt buộc phải tiến hành việc xét xử đầy đủ thì Bộ luật TTHS cũ và mới đều quy định các biện pháp ngăn chặn áp dụng với người chưa thành niên phạm tội, gồm: cấm đi khỏi nơi cư trú; bảo lãnh; đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm. Về cơ bản, các biện pháp này đã được sử dụng tương đối hiệu quả. Một số nghiên cứu gần đây cho thấy, biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú và bảo lãnh thường xuyên được áp dụng nhiều hơn trong trường hợp người chưa thành niên phạm tội[26]./.

________________________________________

[1] CRC Committee, General Comment No. 14 on the Rights of the Child to Have His or Her Best Interests Taken as a Primary Consideration, CRC/C/GC/14 (2013); General Comment No. 4 on Adolescent Health and Development in the Context of the Convention on the Rights of the Child, CRC/C/GC/4 (2003).

[2] Điều 1 Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004.

[3] Điều 1 Luật Trẻ em năm 2016.

[4] Điều 21 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[5]Javaid Rehman, International Human Rights Law 2nd ed. (Pearson, 2010) p. 564-565; Michael Freeman, A Commentary on the UN Convention on the Rights of the Child, Article 3 The Best Interest of The Child (Martinus Nijhoff Publishers, 2007); Trong một vài án lệ, đây còn được thừa nhận là một nguyên tắc tập quán quốc tế, Xem thêm Beharry v. Reno, 181 F. Supp 2d 584, 603-5 (E.D.N.Y. 2002) discussed in Aleinikoff and Chetail, Migration and International Legal Norms (Asser Press, 2003) 101.

[6] Điều 3 CRC.

[7] H. Reece, The Paramountcy Principle: Consensus or Construct? (Current Legal Problems 49, 1996) p. 16.

[8] Philip Alston, The Best Interests Principle: Towards a Reconciliation of Culture and Human Rights, in Michael D.A. Freeman (ed), Children’s Rights vol 2 (Ashgate/Dartmouth, 2004) pp. 183-197.

[9] CRC Committee, General Comment No. 10 (2007) (Sau đây viết tắt là GC No. 10) đoạn 10.

[10] Mục tiêu truyền thống của pháp luật hình sự là sự trừng phạt, trả đũa (retributive justice). Trong khi đó, cách tiếp cận công lý phục hồi (restorative justice) đưa thủ phạm và nạn nhân vào làm trọng tâm, nếu thủ phạm đã ý thức được sai lầm, hối cải, và mong muốn sửa đổi, đền bù cho nạn nhân thì hình phạt nên giảm nhẹ. Xem thêm Ellen Lemley, Designing Restorative Justice Policy: An Analytical Perspective (Criminal Justice Policy Review 12(1), 2001) p. 43; Kathleen Daly, Restorative Justice: A Real Story (Punishment and Society 4(1), 2002) p. 55; Galaway and Hudson (eds), Restorative Justice: International Perspective (Criminal Justice Press, 1996) pp. 17-36.

[11] Katarina Tomasevski (eds.), Children In Adult Prisons: An International Perspective (Frances Pinter Publishers, 1986) p. 5, 57.

[12] GC No. 10 đoạn 30.

[13] GC No. 10 đoạn 32-33.

[14] GC No. 10, đoạn 22-29; UN Guidelines 1997, đoạn 15; Điều 11 Nguyên tắc Bắc Kinh.

[15] Khoản 1 Điều 69 BLHS năm 2009.

[16] Khoản 1 Điều 91 BLHS năm 2015 và khoản 1 Điều 414 Bộ luật TTHS năm 2015.

[17] UNICEF Việt Nam, Báo cáo Kiến nghị sửa đổi BLHS và Bộ luật TTHS (2015), tr. 1-3.

[18] Điều 12 BLHS năm 2015.

[19] Bao gồm: a) Điều 143 (tội cưỡng dâm); Điều 150 (tội mua bán người); Điều 151 (tội mua bán người dưới 16 tuổi); b) Điều 170 (tội cưỡng đoạt tài sản); Điều 171 (tội cướp giật tài sản); Điều 173 (tội trộm cắp tài sản); Điều 178 (tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản); c) Điều 248 (tội sản xuất trái phép chất ma túy); Điều 249 (tội tàng trữ trái phép chất ma túy); Điều 250 (tội vận chuyển trái phép chất ma túy); Điều 251 (tội mua bán trái phép chất ma túy); Điều 252 (tội chiếm đoạt chất ma túy); d) Điều 265 (tội tổ chức đua xe trái phép); Điều 266 (tội đua xe trái phép); đ) Điều 285 (tội sản xuất, mua bán, trao đổi hoặc tặng cho công cụ, thiết bị, phần mềm để sử dụng vào mục đích trái pháp luật); Điều 286 (tội phát tán chương trình tin học gây hại cho hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử); Điều 287 (tội cản trở hoặc gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử); Điều 289 (tội xâm nhập trái phép vào mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử của người khác); Điều 290 (tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản); e) Điều 299 (tội khủng bố); Điều 303 (tội phá hủy công trình, cơ sở, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia); Điều 304 (tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự).

[20] Xem thêm Công văn số 81/2002/TANDTC, Thông tư liên tịch số 01/2011/TTLT-VKSTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH.

[21] Thoát án tử sau hai lần bị tuyên tử hình, http://laodong.com.vn/phap-luat/thoat-an-tu-sau-hai-lan-bi-tuyen-tu-hinh-169700.bld, truy cập ngày 04/03/2017.

[22] Điều 471 Bộ luật TTHS năm 2015.

[23] Điều 37 CRC; GC No. 10, đoạn 78-89; Xem thêm Human Rights Committee, General Comment No. 8 (1982).

[24] Khoản 4 Điều 91 BLHS năm 2015.

[25] Cụ thể: a) Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng, trừ trường hợp quy định tại Điều 134 (tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác); Điều 141 (tội hiếp dâm); Điều 171 (tội cướp giật tài sản); Điều 248 (tội sản xuất trái phép chất ma túy); Điều 249 (tội tàng trữ trái phép chất ma túy); Điều 250 (tội vận chuyển trái phép chất ma túy); Điều 251 (tội mua bán trái phép chất ma túy); Điều 252 (tội chiếm đoạt chất ma túy) của Bộ luật này; b) Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý quy định tại khoản 2 Điều 12 của Bộ luật này, trừ trường hợp quy định tại Điều 123 (tội giết người); Điều 134, các khoản 4, 5 và khoản 6 (tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác); Điều 141 (tội hiếp dâm), Điều 142 (tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi); Điều 144 (tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi); Điều 150 (tội mua bán người); Điều 151 (tội mua bán người dưới 16 tuổi); Điều 168 (tội cướp tài sản); Điều 171 (tội cướp giật tài sản); Điều 248 (tội sản xuất trái phép chất ma túy); Điều 249 (tội tàng trữ trái phép chất ma túy); Điều 250 (tội vận chuyển trái phép chất ma túy); Điều 251 (tội mua bán trái phép chất ma túy); Điều 252 (tội chiếm đoạt chất ma túy) của Bộ luật này; c) Người dưới 18 tuổi là người đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể trong vụ án.

[26] Phạm Thị Thanh Nga, The Rights of the Child in Judicial Sector in Vietnam: Compliance with International Legal Standards, University of Wollongong, http://ro.uow.edu.au/theses/4524, (2015) p. 194.

Nguyễn Tiến Đức 

ThS. Viện Nhà nước và Pháp luật – Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam.

Link bài viết:

http://www.nclp.org.vn/nha_nuoc_va_phap_luat/nguyen-tac-vi-loi-ich-tot-nhat-cua-tre-em-trong-phap-luat-hinh-su-viet-nam

 

Tin liên quan : Phân tích - Bình luận

Bảo hiểm y tế góp phần hỗ trợ khám chữa bệnh cho đồng bào các dân tộc thiểu số 07 12 2017

Hội và Quyền tự do lập Hội 07 12 2017

Bảo đảm công lý đối với nạn nhân bị bạo lực trên cơ sở giới tại TAND và một số kiến nghị 07 12 2017

Những khoảng trống trong chính sách pháp luật về phụ nữ - đề xuất giải pháp 05 12 2017

Đào tạo nghề cho lao động nông thôn - Thực trạng và giải pháp 04 12 2017

Đặt câu hỏi

Họ tên:
Email:
Điện thoại:
Tiêu đề:
Nội dung:

Tư vấn pháp luật