Khái niệm hợp đồng tặng cho tài sản

Bộ luật dân sự năm 2015 định nghĩa hợp đồng là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự (Điều 385). Nghĩa vụ là việc mà theo đó, một hoặc nhiều chủ thể (sau đây gọi chung là bên có nghĩa vụ) phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc hoặc không thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác nhau (sau đây gọi chung là bên có quyền). Sau khi kí kết hợp đồng, các bên sẽ phát sinh quyền và nghĩa vụ tương ứng. 

Hợp đồng tặng cho tài sản được Bộ luật dân sự 2015 định nghĩa là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên tặng cho giao tài sản của mình và chuyển quyền sở hữu cho bên được tặng cho mà không yêu cầu đền bù, bên được tặng cho đồng ý nhận (Điều 475). Nói cách khác, hợp đồng tặng cho khi các bên đã thoả thuận với nhau về việc một bên đồng ý cho tài sản và bên còn lại đồng ý nhận tài sản đó. Tài sản trong hợp đồng tặng cho bao gồm động sản và bất động sản. Hợp đồng tặng cho tài sản thuộc loại hợp đồng đơn vụ, là loại hợp đồng chỉ có một bên tặng cho tài sản có nghĩa vụ thực hiện, bên còn lại là bên có quyền. Chính vì vậy, hợp đồng này có những đặc điểm khá riêng biệt:

Là hợp đồng không đền bù: Hợp đồng tặng cho tài sản là một hợp đồng nằm ngoài quy luật trao đổi ngang giá. Trong hợp đồng tặng cho, một bên (bên tặng cho) trao cho bên kia (bên được tặng cho) một khoản lợi ích vật chất (tài sản tặng cho) mà không yêu cầu bên kia phải trao lại cho mình một lợi ích vật chất khác. Người nhận tài sản được tặng cho không phải trả cho bên đã tặng cho một khoản tiền hay một lợi ích vật chất nào.

Là hợp đồng thực tế: Trong hợp đồng tặng cho tài sản, dù hai bên đã có sự thoả thuận cụ thể về đối tượng tặng cho (động sản hoặc bất động sản), điều kiện và thời hạn giao tài sản tặng cho nhưng nếu bên tặng cho chưa giao tài sản cho người được tặng cho, thì hợp đồng tặng cho tài sản chưa được coi là xác lập. Các bên trong hợp đồng không có quyền yêu cầu đối với nhau trong việc thực hiện hợp đồng. Việc hứa tặng cho không làm phát sinh hiệu lực của hợp đồng tặng cho tài sản. Bên được tặng cho không có quyền yêu cầu bên tặng cho phải giao tài sản đã hứa tặng cho1.

Hiệu lực của hợp đồng tặng cho tài sản

Pháp luật dân sự quy định hiệu lực của hợp đồng được tính từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc luật liên quan có quy định khác. Tuy nhiên, do tính chất đặc biệt của hợp đồng không mang tính đền bù tương đương nên ngoài các quy định về hiệu lực chung của hợp đồng, thì pháp luật cũng có những quy định riêng về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng và thời điểm này phụ thuộc vào đối tượng của hợp đồng. 

Quy định về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng

Bộ luật dân sự 2015 quy định những điều kiện bắt buộc cho tất cả hợp đồng dân sự mà nếu vi phạm, các bên hoàn toàn có quyền yêu cầu Toà án tuyên hợp đồng vô hiệu. Các điều kiện của hợp đồng có hiệu lực bao gồm:

Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với hợp đồng dân sự được xác lập. Khi hợp đồng do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện thì theo yêu cầu của người đại diện của người đó, Tòa án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu nếu theo quy định của pháp luật giao dịch này phải do người đại diện của họ xác lập, thực hiện hoặc đồng ý. Hợp đồng của những người này không bị vô hiệu trong trường hợp hợp đồng nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu hàng ngày của người đó; hợp đồng chỉ làm phát sinh quyền hoặc chỉ miễn trừ nghĩa vụ với người đã xác lập, thực hiện giao dịch với họ; hợp đồng được người xác lập giao dịch thừa nhận hiệu lực sau khi đã thành niên hoặc sau khi khôi phục năng lực hành vi dân sự. Trong hợp đồng tặng cho tài sản, nếu người được tặng cho là người không có đủ năng lực pháp luật, hành vi dân sự thì hợp đồng vẫn có hiệu lực nếu người tặng cho có đủ năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự. Ví dụ, anh A là người mất năng lực hành vi dân sự, bố anh A tặng cho anh A một căn nhà và sang tên cho anh A. Như vậy, hợp đồng tặng cho giữa anh A và bố anh A vẫn có hiệu lực pháp luật vì nó chỉ phát sinh quyền đối với anh A.

Chủ thể tham gia hợp đồng hoàn toàn tự nguyện. Tất cả các hợp đồng do giả tạo, nhầm lẫn, lừa dối, đe doạ, cưỡng ép hoặc do tại thời điểm xác lập giao dịch họ không nhận thức, làm chủ được hành vi của mình thì hợp đồng này vô hiệu.

Mục đích và nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm của luật, không trái với đạo đức xã hội. Điều cấm của luật là những quy định của luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định. Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng.

Hình thức của hợp đồng là điều kiện bắt buộc nếu pháp luật có quy định. Trong hợp đồng tặng cho tài sản, nếu tài sản được tặng cho là bất động sản thì hợp đồng phải được lập bằng văn bản, nếu hợp đồng được lập bằng miệng thì hợp đồng đó vô hiệu.

Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng tặng cho tài sản

Thứ nhất, đối tượng tặng cho là động sản

Hợp đồng tặng cho động sản có hiệu lực kể từ thời điểm bên được tặng cho nhận tài sản, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác. Đối với động sản mà pháp luật có quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì hợp đồng tặng cho có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký. 

Như vậy, nếu trong hợp đồng tặng cho không quy định về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng thì hiệu lực của hợp đồng tặng cho không bắt đầu kể từ thời điểm hai bên cùng ký vào hợp đồng giống như các loại hợp đồng khác. Thời điểm được xác định hợp đồng có hiệu lực là khi bên tặng cho tài sản chuyển giao tài sản cho bên nhận. Các bên trong hợp đồng không có quyền yêu cầu đối với nhau trong việc thực hiện hợp đồng. 

Thứ hai, đối tượng tặng cho là bất động sản

Tặng cho bất động sản phải được lập thành văn bản có công chứng, chứng thực hoặc phải đăng ký, nếu bất động sản phải đăng ký quyền sở hữu theo quy định của pháp luật. Hợp đồng tặng cho bất động sản có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký, nếu bất động sản không phải đăng ký quyền sở hữu thì hợp đồng tặng cho có hiệu lực kể từ thời điểm bàn giao bất động sản. 

Đối với hợp đồng tặng cho là bất động sản, điều kiện để hợp đồng có hiệu lực bao gồm: Hợp đồng phải được lập bằng văn bản, có công chứng, chứng thực hoặc phải đăng ký. Như vậy, nếu hợp đồng tặng cho bất động sản là hợp đồng miệng (lời hứa) hoặc hợp đồng đã được viết bằng văn bản nhưng không được công chứng, chứng thực thì hợp đồng đó không được coi là hợp đồng đã xác lập.

Đối với bất động sản là tài sản phải đăng ký quyền sở hữu, thì hợp đồng chỉ được coi là có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký sang tên chủ sở hữu, trước khi đăng ký sở hữu, hợp đồng sẽ không được coi là có hiệu lực.

Thứ ba, hợp đồng tặng cho có điều kiện

Bên tặng cho có thể yêu cầu bên được tặng cho thực hiện một hoặc nhiều nghĩa vụ trước hoặc sau khi tặng cho. Điều kiện tặng cho không được vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ trước khi tặng cho, nếu bên được tặng cho đã hoàn thành nghĩa vụ mà bên tặng cho không giao tài sản thì bên tặng cho phải thanh toán nghĩa vụ mà bên được tặng cho đã thực hiện. Trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ sau khi tặng cho mà bên được tặng cho không thực hiện thì bên tặng cho có quyền đòi lại tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại. Ví dụ: A kí hợp đồng tặng cho B chiếc xe máy với điều kiện B phải chăm sóc nhà cửa ruộng vườn cho A trong vòng 1 năm khi A đi vắng, chiếc xe cũng đã được A sang tên cho B. Tuy nhiên, sau khi A đi vắng, B không hoàn thành việc trông nom nhà cửa, ruộng vườn khiến cho nhà cửa bẩn thỉu, bừa bãi. A đã đòi lại B chiếc xe máy và yêu cầu B bồi thường phần hao hụt của chiếc xe trong 01 năm B sử dụng.

Như vậy hợp đồng tặng cho là hợp đồng không có tính đền bù nên quyết định, cân nhắc cuối cùng luôn thuộc về bên tặng cho tài sản. Do đó, cho dù đã cam kết về việc tặng cho, thậm chí kể cả đặt bút kí hợp đồng hay hợp đồng đã công chứng nhưng bên tặng cho vẫn có quyền thay đổi, từ bỏ ý định tặng cho tài sản đó. Chỉ khi nào bên tặng cho đã chuyển giao tài sản và bên được tặng cho đã nhận tài sản thì hợp đồng tặng cho mới phát sinh hiệu lực và cũng là thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng. Bên tặng cho chỉ phải chịu trách nhiệm sau khi chuyển giao tài sản tặng cho khi tặng cho tài sản của người khác mà không nêu khuyết tật của tài sản tặng cho2.

ThS. Ngô Thị Thu Hằng

-----------------------------------

1 http://tongdaituvanluat.vn/quy-dinh-ve-hop-dong-tang-cho-tai-san-theo-bo-luat-dan-su-2015/ 

2 ThS. Vũ Thị Hồng Yến, Thời điểm phát sinh hiệu lực pháp luật của hợp đồng vay tài sản và hợp đồng tặng cho tài sản theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2005, Tạp chí Luật học số 4/2010, tr46 

 

Tin liên quan : Phân tích - Bình luận

Vay vốn ưu đãi giải quyết việc làm cho người lao động là người khuyết tật - dễ hay khó? 27 08 2018

Tình tiết tăng nặng liên quan đến nạn nhân là người khuyết tật: Điểm mới trong bộ luật hình sự 2015 26 04 2018

Một số vướng mắc trong chính sách lao động việc làm dành cho người khuyết tật và kiến nghị 26 03 2018

Chính sách phát triển nhà ở xã hội ở Việt Nam hiện nay và những vấn đề thực tiễn đặt ra 02 02 2018

Nội quy lao động - một số vấn đề pháp lý và thực tiễn 01 02 2018

Đặt câu hỏi

Họ tên:
Email:
Điện thoại:
Tiêu đề:
Nội dung:

Tư vấn pháp luật