Quyền có đủ điều kiện sống bao gồm các khía cạnh về ăn, mặc, ở, các điều kiện cần thiết để bảo vệ sức khỏe nhằm bảo đảm quyền tồn tại về phương diện sinh học của con người; là cơ sở tự nhiên tất yếu cho sự tồn tại, phát triển các quyền của con người trong đời sống xã hội, từ quyền kinh tế, xã hội, văn hóa đến các quyền dân sự, chính trị.
1. Trong quan hệ giữa vợ và chồng   Với tư cách là vợ chồng, người cao tuổi (NCT) có toàn bộ quyền và nghĩa vụ về nhân thân và tài sản giữa vợ và chồng theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Trong đó, có một số vấn đề cần bàn như:
Li hôn là mặt trái của quan hệ hôn nhân nhưng là mặt không thể thiếu được khi hôn nhân tan vỡ. Trên quan điểm tự do hôn nhân, pháp luật dân sự và pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam quy định quyền li hôn của vợ, chồng. Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: “Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu toà án giải quyết việc li hôn”.[1] Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu li hôn và quy định hạn chế quyền yêu cầu li hôn của người chồng trong trường hợp nhất định. Ngoài ra, Luật cũng quy định cha, mẹ, người thân thích khác của một bên vợ, chồng cũng có quyền yêu cầu li hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khoẻ, tinh thần của họ. Có thể nhận thấy Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về quyền yêu cầu li hôn có một số điểm mới so với các Luật trước đó. Việc làm sáng tỏ về lí luận và thực tiễn của quy định quyền yêu cầu li hôn là cần thiết. 1. Quyền yêu cầu li hôn của vợ, chồng: Kết hôn và li hôn là quyền nhân thân và là quyền dân sự cơ bản của con người. Pháp luật công nhận cho nam, nữ quyền quyết định việc kết hôn để xác lập quan hệ vợ chồng thì cũng quy định cho vợ, chồng quyền yêu cầu li hôn để chấm dứt quan hệ hôn nhân. Đồng thời, giải quyết li hôn phải dựa vào thực chất của quan hệ vợ chồng mà chính vợ, chồng là người xác định một cách chính xác nhất thực chất mối quan hệ giữa họ. C. Mác đã khẳng định: “Li hôn chỉ là việc xác nhận một sự kiện: Cuộc hôn nhân này là cuộc hôn nhân đã chết, sự tồn tại của nó chỉ là bề ngoài và lừa dối. Đương nhiên, không phải sự tuỳ tiện của nhà lập pháp, cũng không phải sự tuỳ tiện của những cá nhân, mà chỉ bản chất của sự kiện mới quyết định được là cuộc hôn nhân đã chết hoặc chưa chết, bởi vì, như mọi người đều biết, việc xác nhận sự kiện chết tuỳ thuộc vào thực chất của vấn đề, chứ không phải vào nguyện vọng của những bên hữu quan”.[2] Như vậy, khi vợ, chồng nhận thức một cách rõ ràng về tình trạng quan hệ hôn nhân của họ đã trầm trọng, về việc họ không thể tiếp tục cuộc sống chung thì họ có quyền yêu cầu toà án giải quyết li hôn. Pháp luật không buộc những người yêu nhau phải kết hôn với nhau thì cũng không buộc những người không còn yêu nhau phải tồn tại quan hệ vợ chồng. Do vậy, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, cũng như các luật trước đó đều quy định vợ, chồng có quyền yêu cầu li hôn. Tuy nhiên, nếu quan hệ vợ chồng đã không phản ánh đúng bản chất của nó nhưng vợ chồng vẫn không muốn li hôn thì không ai có quyền buộc họ phải li hôn. Hôn nhân tự nguyện không chỉ thể hiện trong việc kết hôn mà còn thể hiện cả trong việc tồn tại hôn nhân. Thực tế cho thấy, nhiều cặp vợ, chồng nhận thấy cuộc sống chung của họ đã mất ý nghĩa, không những không đem lại hạnh phúc cho mỗi bên mà còn mang lại sự khổ đau nhưng vì con, vì gia đình… mà họ không li hôn. Trong trường hợp này, không ai buộc họ phải li hôn. Vì vậy, quyền yêu cầu li hôn thuộc về vợ, chồng là phù hợp cả về lí luận và thực tế. 2. Hạn chế quyền yêu cầu li hôn của người chồng: Xuất phát từ nguyên tắc bảo vệ bà mẹ và trẻ em, từ tính nhân đạo của pháp luật, luật hôn nhân và gia đình của Nhà nước ta quy định hạn chế quyền yêu cầu li hôn của người chồng trong một số trường hợp. Từ khi Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời cho đến này, đã có 4 luật về hôn nhân và gia đình được ban hành đó là Luật hôn nhân và gia đình năm 1959, Luật hôn nhân và gia đình năm 1986, Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 và Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Các luật đều quy định quyền yêu cầu li hôn chỉ thuộc về vợ, chồng. Tuy nhiên, quy định về trường hợp người chồng bị hạn chế quyền yêu cầu li hôn có sự khác nhau. Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 và Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 quy định: Trong trường hợp người vợ có thai, chồng chỉ có thể xin li hôn sau khi vợ đã sinh đẻ được một năm.[3] Theo đó, quyền yêu cầu li hôn của người chồng bị hạn chế dựa vào hai yếu tố: 1) Người vợ đang có thai và 2) Người vợ sinh con chưa được một năm. Trong đó yếu tố thứ hai chỉ dựa trên sự kiện sinh của người vợ. Nếu người vợ “có sinh mà không có dưỡng” thì người chồng vẫn bị hạn chế quyền yêu cầu li hôn. Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định, khi người vợ có thai hoặc đang nuôi con dưới mười hai tháng tuổi thì chồng không có quyền yêu cầu li hôn.[4] Như vậy, theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 thì hạn chế quyền yêu cầu li hôn của người chồng căn cứ vào hai yếu tố: 1) Người vợ đang có thai và 2) Người vợ đang nuôi con dưới mười hai tháng tuổi. Phân tích yếu tố thứ hai có thể nhận thấy nhà làm luật dường như không chú ý đến sự kiện sinh mà chỉ quan tâm đến việc người vợ đang nuôi con. Như vậy đối với trường hợp “có sinh mà không có dưỡng” thì người chồng vẫn có quyền yêu cầu li hôn. Điều này chưa thực sự phù hợp với nguyên tắc bảo vệ bà mẹ, trẻ em. Khắc phục khiếm khuyết đó, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định chồng không có quyền yêu cầu li hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.[5] Có thể nhận thấy, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 đã kế thừa quy định của cả ba luật trước đó về vấn đề hạn chế quyền yêu cầu li hôn của người chồng. Theo đó, việc xác định quyền yêu cầu li hôn của người chồng dựa vào trạng thái có thai, nuôi con và sự kiện sinh con của người vợ. - Về trạng thái có thai của người vợ: Việc xác định trạng thái có thai của người vợ dựa trên cơ sở sinh học thông qua quá trình thụ thai và phát triển của trứng để thành thai nhi. Thụ thai là sự thụ tinh và làm tổ của trứng. Thụ tinh là sự kết hợp giữa một giao tử đực là tinh trùng và một giao tử cái là noãn để hình thành một tế bào mới gọi là trứng. Trứng di chuyển vào buồng tử cung để làm tổ. Sau khi làm tổ, trứng phát triển qua hai thời kì. Thời kì thứ nhất bắt đầu từ khi thụ tinh cho đến hết 8 tuần lễ đầu (thời kì sắp xếp tổ chức). Đây là thời kì hình thành bào thai. Thời kì thứ hai từ tháng thứ 3 đến khi đủ tháng (thời kì hoàn chỉnh tổ chức). Đây là thời kì phát triển của thai. Thai nhi đã được hình thành đầy đủ các bộ phận và tiếp tục lớn lên, phát triển và hoàn chỉnh các tổ chức của thai.[6] Như vậy, có thể nói người vợ có thai được tính từ khi trứng hoàn thành quá trình làm tổ trong buồng tử cung cho đến khi thai nhi được sinh ra. Hiện nay, do sự phát triển vượt bậc của y học nên con người đã can thiệp vào quá trình thụ tinh. Sự thụ tinh có thể diễn ra trong cơ thể người phụ nữ hoặc có thể diễn ra trong phòng thí nghiệm (gọi là thụ tinh trong ống nghiệm). Tuy nhiên, quá trình phát triển của trứng để thành thai nhi nhất định phải diễn ra trong cơ thể người phụ nữ. Do vậy, đối với các trường hợp thông thường, người vợ có khả năng mang thai thì dù sự thụ tinh diễn ra trong cơ thể của họ hay trong ống nghiệm rồi được cấy vào tử cung của họ (thành công) thì họ đều được xác định là đang có thai. Khi đó, việc xác định chồng của họ không có quyền yêu cầu li hôn là hoàn toàn có cơ sở. Nhưng đối với những trường hợp vì lí do nào đó mà người vợ không thể mang thai nên đã nhờ người khác mang thai hộ (vì mục đích nhân đạo) thì việc xác định hạn chế quyền yêu cầu li hôn của người chồng của cả bên nhờ mang thai hộ và bên mang thai hộ còn có những ý kiến khác nhau. Về vấn đề này, tác giả có một số ý kiến như sau: - Đối với bên mang thai hộ: Nếu người vợ đang mang thai hộ thì chồng của họ không có quyền yêu cầu li hôn. Bởi vì, về mặt sinh học rõ ràng người vợ đang mang thai. - Đối với bên nhờ mang thai hộ: Có ý kiến cho rằng người chồng trong cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ bị hạn chế quyền yêu cầu li hôn ngay cả trong thời gian nhờ mang thai hộ.[7] Tuy nhiên, xét về mặt sinh học của việc mang thai, có thể nhận thấy người chồng trong cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ không bị hạn chế quyền yêu cầu li hôn. Bởi lẽ, trong trường hợp này người vợ trong cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ không “có thai” mà là người phụ nữ mang thai hộ “có thai”. - Về việc người vợ đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi: Việc xác định người vợ đang nuôi con dưới 12 tháng dựa trên sự thực là người vợ đang chăm sóc, trông nom, nuôi dưỡng con dưới 12 tháng. Người con này có thể là con đẻ, có thể là con nuôi (của người vợ hoặc của cả hai vợ chồng). Trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo, pháp luật quy định người mang thai hộ, chồng của người mang thai hộ có quyền, nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng con cho đến thời điểm giao đứa trẻ cho bên nhờ mang thai hộ.[8] Do vậy, nếu người vợ mang thai hộ sau khi sinh mà đang chăm sóc, nuôi dưỡng đứa trẻ thì cũng được coi là người vợ đang nuôi con và người chồng không có quyền yêu cầu li hôn.[9] - Về việc người vợ sinh con: Sinh con được diễn ra trong quá trình gọi là chuyển dạ, bắt đầu khi tử cung mở, tiếp theo là sổ thai và cuối cùng là sổ rau. Về hạn chế quyền yêu cầu li hôn của người chồng khi vợ sinh con còn có ý kiến khác nhau. Ý kiến thứ nhất cho rằng người chồng không có quyền yêu cầu li hôn trong thời gian vợ sinh con, có nghĩa là người chồng bị hạn chế quyền yêu cầu li hôn chỉ trong thời gian diễn ra quá trình sinh con. Ý kiến này dựa trên sự phân tích câu chữ trong điều luật cho rằng: Cụm từ “dưới 12 tháng tuổi” không bổ nghĩa cho cụm từ “sinh con” mà chỉ bổ nghĩa cho cụm từ “nuôi con”.[10] Ý kiến thứ hai cho rằng người chồng bị hạn chế quyền yêu cầu li hôn khi vợ sinh con mà tính từ thời điểm sinh là chưa được 12 tháng. Tức là người chồng chỉ có quyền yêu cầu li hôn sau khi vợ sinh con được 12 tháng. Căn cứ vào bản chất, ý nghĩa của quy định hạn chế quyền yêu cầu li hôn của người chồng, cũng như phân tích câu chữ trong điều luật có thể nhận thấy rằng ý kiến thứ hai là phù hợp. Xét trên khía cạnh bảo vệ bà mẹ và trẻ em, nếu người chồng chỉ bị hạn chế quyền yêu cầu li hôn trong quá trình sinh con là không hợp lí. Quá trình sinh con chỉ xảy ra trong một khoảng thời gian. Theo y học thì quá trình này diễn ra trong thời gian tối đa là khoảng 10 giờ.[11] Nếu pháp luật hạn chế quyền yêu cầu li hôn của người chồng chỉ trong thời gian đó thì không có ý nghĩa trong việc bảo vệ bà mẹ, trẻ em. Sự kiện sinh con của người phụ nữ ảnh hưởng rất lớn đến sức khoẻ thể chất và tinh thần của họ. Vì vậy, hạn chế quyền yêu cầu li hôn của người chồng phải được kéo dài trong khoảng thời gian sau khi vợ sinh con. Hơn nữa, quy định này nhằm hạn chế quyền li hôn của người chồng cả trong trường hợp người vợ sinh con mà không được nuôi con (do con chết, do mang thai hộ…). Xét về mặt câu chữ của điều luật thì giữa cụm từ “sinh con” và “nuôi con” có từ “hoặc”, do đó cụm từ “dưới 12 tháng tuổi” bổ nghĩa cho cả cụm từ “sinh con” và “nuôi con”. Như vậy, sự kiện sinh con của người vợ được coi là một trường hợp hạn chế quyền yêu cầu li hôn của người chồng nhưng không chỉ vào thời điểm người vợ sinh con mà kéo dài cho đến khi được 12 tháng. 3. Quyền yêu cầu li hôn của cha mẹ, người thân thích khác của một bên vợ, chồng Trong quan hệ hôn nhân và gia đình, quyền nhân thân luôn gắn với mỗi cá nhân mà không thể chuyển giao cho người khác. Do vậy, về nguyên tắc, quyền yêu cầu li hôn chỉ thuộc về vợ, chồng. Lịch sử lập pháp của Việt Nam chỉ ghi nhận quyền yêu cầu li hôn của vợ, chồng. Pháp luật thời kì Pháp thuộc quy định chỉ có vợ, chồng mới có thể người nọ xin li dị người kia hoặc vợ, chồng cùng xin li dị nhau.[12] Từ khi Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời (nay là Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam) cho đến trước khi ban hành Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, cả ba luật về hôn nhân và gia đình (ban hành năm 1959, năm 1986 và năm 2000) đều chỉ quy định quyền yêu cầu li hôn thuộc về vợ, chồng.[13] Tuy nhiên, nếu chỉ công nhận cho vợ, chồng có quyền yêu cầu li hôn thì sẽ không giải quyết được những trường hợp đặc biệt khi một bên vợ hoặc chồng bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình lại bị ngược đãi, hành hạ… Thực tế đã có không ít trường hợp một bên vợ hoặc chồng bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, bên kia không những không quan tâm, chăm sóc theo đúng nghĩa vụ mà còn hành hạ, ngược đãi hoặc có các hành vi khác đe dọa đến sức khoẻ, tính mạng của họ... Đối với trường hợp này, để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bên vợ hoặc chồng bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định cha, mẹ, người thân thích khác của một bên vợ, chồng có quyền yêu cầu toà án giải quyết li hôn.[14] Đây là quy định có tính ngoại lệ về quyền yêu cầu li hôn. Tuy nhiên, không phải tất cả các trường hợp vợ, chồng bị tâm thần hoặc mắc bệnh khác không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì cha, mẹ, người thân thích đều có quyền yêu cầu li hôn. Chỉ những trường hợp người vợ hoặc chồng đó đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khoẻ, tinh thần của họ thì cha, mẹ, người thân thích khác của vợ, chồng mới có quyền yêu cầu li hôn. Như vậy, có thể nhận thấy rằng cha, mẹ, người thân thích khác của một bên vợ, chồng có quyền yêu cầu toà án giải quyết li hôn khi có đủ ba yếu tố: Một là một bên vợ hoặc chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình; hai là bên vợ hoặc chồng đó là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng hoặc vợ của họ gây ra; ba là tính mạng, sức khoẻ, tinh thần của nạn nhân bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Nếu thiếu một trong ba yếu tố đó thì cha, mẹ, người thân thích khác của vợ, chồng không có quyền yêu cầu li hôn. Có thể thấy, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định cha, mẹ, người thân thích khác của vợ, chồng có quyền yêu cầu li hôn trong trường hợp đặc biệt là xuất phát từ tính nhân đạo và phù hợp với thực tế. Mặc dù vậy, việc áp dụng quy định này trên thực tế có một số khó khăn, vướng mắc sau: Thứ nhất, khó khăn trong việc cung cấp chứng cứ Theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004, người khởi kiện phải cung cấp chứng cứ.[15] Như vậy, khi cha, mẹ, người thân thích yêu cầu li hôn thì họ phải đưa ra các chứng cứ sau: 1) Người vợ hoặc chồng bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình; 2) Bên vợ hoặc chồng đó là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng hoặc vợ của họ gây ra; 3) Hành vi bạo lực đó đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khoẻ, tinh thần của họ. Về chứng cứ thứ nhất, người khởi kiện phải cung cấp kết luận giám định pháp y tâm thần của hội đồng giám định được thành lập theo quy định của Luật giám định tư pháp. Người khởi kiện không thể cung cấp sổ khám, chữa bệnh hay bệnh án của bên vợ hoặc chồng để làm chứng cứ chứng minh rằng người này bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình. Bởi vì, “kết luận trong giám định pháp y tâm thần không hoàn toàn giống kết luận chẩn đoán bệnh của bệnh viện tâm thần. Kết luận của bệnh viện tâm thần chỉ phục vụ việc chữa bệnh không bao gồm việc đánh giá năng lực chịu trách nhiệm hành vi của đối tượng”.[16] Việc đánh giá năng lực chịu trách nhiệm hành vi của người bệnh tâm thần phải dựa vào 2 tiêu chuẩn: Tiêu chuẩn y học và tiêu chẩn pháp luật. Tiêu chuẩn y học là kết luận chẩn đoán bệnh. Tiêu chuẩn pháp luật là khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.[17] Do đó, khi đã có kết luận chuẩn đoán bệnh thì phải đánh giá mức độ nặng nhẹ của bệnh, mức độ nhận thức và làm chủ hành vi. Vì vậy, người khởi kiện phải cung cấp kết luận giám định pháp y tâm thần để chứng minh họ có quyền yêu cầu li hôn. Tuy nhiên, để có được kết luận này, cơ quan giám định phải tuân theo quy trình kĩ thuật chung về giám định pháp y tâm thần và theo quy định của Luật giám định tư pháp năm 2012. Do đó, người khởi kiện phải mất thời gian (đi lại, chờ đợi), công sức, tiền bạc để có được bản kết luận. Đây thực sự là khó khăn đối với người khởi kiện. Về chứng cứ thứ hai, bên vợ hoặc chồng bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình phải là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng hoặc vợ của họ gây ra. Có nghĩa là phải có hành vi bạo lực gia đình mà nạn nhân là người vợ hoặc chồng bị tâm thần và người có hành vi bạo lực gia đình là chồng hoặc vợ họ. Việc đưa ra căn cứ để chứng minh có thể bằng nhân chứng hoặc các văn bản xác nhận có hành vi bạo lực gia đình (như biên bản xử lí hành chính đối với người có hành vi bạo lực…). Về chứng cứ thứ ba, phải có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi bạo lực gia đình của một bên vợ hoặc chồng với tình trạng tính mạng, sức khoẻ, tinh thần của nạn nhân bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Về tình trạng tính mạng, sức khoẻ của nạn nhân bị ảnh hưởng nghiêm trọng thì thiết nghĩ phải dựa trên kết luận về giám định pháp y thương tích. Các giám định viên phải kết luận rằng những thương tích của nạn nhân là kết quả của hành vi bạo lực (do chồng hoặc vợ họ) gây ra và vì những thương tích đó mà tính mạng, sức khoẻ của nạn nhân bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Như vậy, có thể nhận thấy cha, mẹ, người thân thích khác của một bên vợ, chồng yêu cầu li hôn khi một bên vợ hoặc chồng bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc cung cấp chứng cứ. Do đó, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn rất nhiều trở ngại. Thứ hai, thiếu sự tương thích với một số quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về quyền khởi kiện. Theo Điều 161 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 thì cá nhân có quyền khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác (với tư cách là người đại diện).[18] Trong trường hợp này, cha, mẹ, người thân thích khác khởi kiện vụ án li hôn không phải để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chính họ mà là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của một bên vợ hoặc chồng. Cha, mẹ, người thân thích khác cũng không phải là người đại diện của một bên vợ hoặc chồng. Bởi vì, nếu một bên vợ hoặc chồng cần được đại diện thì bên kia là chồng hoặc vợ họ đại diện cho họ (với tư cách là người giám hộ). Hơn nữa, người khởi kiện không nhất thiết phải là cha, mẹ, người thân thích khác của bên vợ hoặc chồng bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình. Đồng thời, theo Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 thì cha, mẹ, người thân thích khác của một bên vợ hoặc chồng không thuộc trường hợp có quyền khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.[19] Như vậy, quy định này thiếu sự tương thích với Điều 161 và Điều 162 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004./. Ngô Thị Hường   (Tiến sĩ luật học, giảng viên chính Trường Đại học Luật Hà Nội) Nguồn: Tạp chí Luật học số 12/2015 (trang 40-46)       [1] Xem: Điều 42 Bộ luật dân sự năm 2005; khoản 1 Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. [2] Xem: C. Mác, “Bản dự luật về li hôn”, C. Mác - Ph. Ăngghen toàn tập, Tập 1, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1978, tr. 220. [3] Xem: Điều 27 Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 và Điều 41 Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 [4] Xem: Khoản 2 Điều 85 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 [5] Xem: Khoản 3 Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. [6] Xem: Bài giảng về sự thụ thai, làm tổ và phát triển của trứng, nguồn: http://www.dieutri.vn/bgsan phukhoa/ 31-10-2012/S2923/Bai-giang-su-thu-thai-lam-to-vaphat-trien-cua-trung.htm, truy cập ngày 15/11/2015. [7] Xem: Nguyễn Thị Lan, “Mang thai hộ và những vấn đề phát sinh”, Tạp chí luật học, số 4/2015, tr. 20. [8] Xem: Khoản 1 Điều 97 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. [9] Về trường hợp này còn có thể áp dụng quy định hạn chế quyền yêu cầu li hôn của người chồng khi vợ sinh con. [10] Xem: Khoản 3 Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 [11] Xem: Bài giảng các yếu tố tiên lượng cuộc đẻ, nguồn: http://www.dieutri.vn/bgsanphukhoa/1-11-2012/ S2947/Bai-giang-cac-yeu-to-tien-luong-cuoc-de.htm, truy cập ngày 15/11/2015. [12] Xem: Điều 116 Hoàng Việt hộ luật, Nxb. Hồng Đức, 2015; Điều 117 Bộ dân luật Bắc kỳ năm 1931. [13] Xem: Điều 25 và Điều 26 Luật hôn nhân và gia đình năm 1959; Điều 40 Luật hôn nhân và gia đình năm 1986; khoản 1 Điều 85 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000. [14] Xem: Khoản 2 Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. [15] Xem: Khoản 1 Điều 6 và Điều 165 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004. [16] Xem: Cục bổ trợ tư pháp, Viện pháp y quốc gia - Viện pháp y tâm thần trung ương, “Một số vấn đề pháp lí và kĩ năng thực hiện giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần”, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2013, tr. 190. [17] Xem: Cục bổ trợ tư pháp, Viện pháp y quốc gia - Viện pháp y tâm thần trung ương, sđd, tr. 192 [18] Xem: Điều 161 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 [19] Xem: Điều 162 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004
Trong những năm qua, chính sách trợ giúp xã hội ngày càng được hoàn thiện, mức trợ cấp xã hội liên tục tăng, đối tượng trợ giúp xã hội được mở rộng, đời sống của họ từng bước được ổn định và cải thiện hơn so với trước đây. Tuy nhiên, hệ thống trợ giúp xã hội còn nhiều hạn chế, bất cập, nhất là thiếu tính hệ thống, nguồn lực đầu tư eo hẹp, các mức trợ cấp chưa dựa trên cơ sở mức sống tối thiểu và độ bao phủ cũng còn thấp. Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước đã chủ trương tiếp tục hoàn thiện hệ thống trợ giúp xã hội trong điều kiện mới của một nước đang phát triển có thu nhập trung bình, đẩy mạnh xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.
Bài viết cho Hội thảo: “Chương trình lập pháp của Quốc hội khóa XIV và việc triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013”; hội thảo được tổ chức tại Cửa Lò, Nghệ An, ngày 01/7/2016. 1. Luật Ban hành văn bản Quy phạm pháp luật năm 2015 (Luật Ban hành VBQPPL 2015) đã được Quốc hội khóa XIII thông qua tại kỳ họp thứ 9, và có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2016. Một trong những điểm mới đáng chú ý liên quan đến quy trình chính sách là quy định về yêu cầu xây dựng nội dung chính sách (Điều 34), và báo cáo đánh giá tác động chính sách của dự án luật, pháp lệnh (Điều 35). Lần đầu tiên, giai đoạn xây dựng chính sách chính thức được đưa vào quy trình xây dựng luật, pháp lệnh, và sẽ tác động trực tiếp đến chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội khóa XIV. Tuy nhiên, vẫn còn một số vấn đề cần làm rõ về thẩm quyền “thông qua chính sách” của các chủ thể trong quá trình hoạch định chính sách, pháp luật. 2. Trước hết, theo quy định của Hiến pháp năm 2013 (Điều 70) và Luật Ban hành VBQPPL 2015 (Điều 15, Điều 31 và Điều 32), chính sách vừa là cơ sở ban hành, lại vừa là nội dung quan trọng của dự luật. Quốc hội có vai trò thông qua luật và quyết định các chính sách cơ bản, quan trọng của đất nước. Mặc dù Chính phủ cũng có thể ban hành chính sách trong phạm vi quyền hạn theo luật định, nhưng Quốc hội đóng vai trò rất quan trọng trong việc quyết định chính sách, bởi vì Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân cả nước. Việc Quốc hội thảo luận, quyết định chính sách cơ bản còn đảm bảo tính dân chủ trong quá trình xây dựng, ban hành và thực thi chính sách. 3. Theo Điều 32 Luật 2015, Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước, Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và cơ quan trung ương của tổ chức thành viên của Mặt trận có quyền trình dự án luật trước Quốc hội, trình dự án pháp lệnh trước Ủy ban thường vụ Quốc hội. Điều 32, Điều 33 thì quy định Đại biểu quốc hội có quyền kiến nghị và đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh. Trong thực tế hoạt động xây dựng chính sách, pháp luật ở nước ta hiện nay, Chính phủ và các bộ ngành thường là cơ quan tham gia trình phần lớn các đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, do đặc thù là cơ quan thực thi chính sách, pháp luật với rất nhiều kinh nghiệm, cũng như nguồn lực để làm tốt công việc này. 4. Tuy nhiên, vấn đề cần cân nhắc là, theo Điều 41, khi xem xét thông qua đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh do Chính phủ trình, thì Chính phủ cũng đã “biểu quyếtthông qua chính sách trong từng đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh”. Đồng thời ghi rõ, “Chính phủ ra Nghị quyết về đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh với các chính sách đã được thông qua”. Mặc dù việc Luật Ban hành VBQPPL 2015 lồng ghép các bước xây dựng chính sách và đánh giá tác động của chính sách vào trong quy trình xây dựng luật, pháp lệnh là một bước tiến quan trọng, nhưng những quy định nói trên, vô hình trung, đã trao cho Chính phủ thẩm quyền “thông qua chính sách” trong các dự án luật, pháp lệnh do chính các cơ quan thuộc Chính phủ đề xuất, thường với số lượng lớn, ngay cả khi dự án luật, pháp lệnh chưa được Quốc hội thảo luận thông qua. Việc chính sách của dự án luật, pháp lệnh được Chính phủ thông qua trước khi dự luật, pháp lệnh được quyết định đưa vào nghị trình sẽ làm giảm rất nhiều vai trò của Quốc hội. Bởi vì, chính sách chính là cơ sở xây dựng, và cũng là nội dung quan trọng của các dự án luật, pháp lệnh. Nếu vấn đề này không được Quốc hội làm rõ, thì ít nhất, về mặt pháp lý, khi Luật Ban hành VBQPPL 2015 có hiệu lực, Chính phủ mới là cơ quan có ảnh hưởng nhất đến việc quyết định chính sách ở nước ta. 5. Cùng với đó, theo Điều 45, khi xem xét thông qua đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh không do Chính phủ trình, thì Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và cơ quan trung ương của tổ chức thành viên của Mặt trận thảo luận và “biểu quyết thông qua chính sách” trong đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh. Đối với Chủ tịch nước, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng kiểm toán nhà nước khi xem xét thông qua đề nghị xây dựng luật pháp lệnh thì không thấy có quy định về thẩm quyền “thông qua chính sách”. Tương tự, khi Đại biểu Quốc hội quyết định trình đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh thì cũng không có quy định gì về việc “thông qua chính sách”  trong hồ sơ đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh. Như vậy, thay vì việc Quốc hội là cơ quan quyết định các chính sách cơ bản, quan trọng của đất nước, mà phần nhiều được thể hiện trong các đạo luật, thì theo Luật Ban hành VBQPPL 2015, từ 01/07/2016, Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và cơ quan trung ương của tổ chức thành viên của Mặt trận lại được trao cho thẩm quyền “thông qua chính sách” của những dự luật, pháp lệnh do các cơ quan này trình. Căn cứ vào các quy định nêu trên (Điều 41, Điều 45), có thể hiểu Quốc hội không chỉ “ủy quyền” cho Chính phủ, các cơ quan của Quốc hội, mà còn “ủy quyền” cho Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và cơ quan trung ương của tổ chức thành viên của Mặt trận quyền được quyết định thông qua chính sách công, một thẩm quyền cần phải nghiên cứu xem xét lại. 6. Thêm nữa, tại khoản 5, Điều 5 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 – quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành VBQPPL 2015 – có yêu cầu “xác định thẩm quyền ban hành chính sách”. Tuy nhiên, quy định này lại được hiểu là việc cân nhắc, lựa chọn thẩm quyền/giải pháp ban hành luật, hoặc pháp lệnh, hoặc các giải pháp chính sách khác; và quy định này vẫn thống nhất chứ không làm thay đổi tinh thần nội dung quy định tại Luật Ban hành VBQPPL 2015. Theo Điều 55 Luật Ban hành VBQPPL 2015, và Điều 31 Nghị định số 34, thì trong quá trình soạn thảo, thẩm định, thẩm tra, dự thảo luật, pháp lệnh, nếu có chính sách mới được đề xuất thì đối với văn bản do Chính phủ trình, cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm báo cáo Chính phủ; đối với văn bản không do Chính phủ trình, Bộ Tư pháp có trách nhiệm phối hợp với cơ quan thẩm tra để kịp thời báo cáo Chính phủ. Điều này thể hiện tính nhất quán của quy định về thẩm quyền “thông qua chính sách”  như đã nói trên, trong đó đã nhấn mạnh vai trò của Chính phủ trong công đoạn làm chính sách của dự án luật, pháp lệnh. Nói cách khác, giai đoạn xây dựng chính sách mới được đưa vào quy trình xây dựng luật, pháp lệnh theo Luật Ban hành VBQPPL 2015 chủ yếu đề cao vai trò thông qua chính sách của Chính phủ và một số cơ quan khác đã nêu trên. Những quan điểm ủng hộ quy định này dựa trên thực tế Chính phủ có nhiều kinh nghiệm thực tiễn trong điều hành, thực thi chính sách pháp luật, nên các đề xuất chính sách từ chính phủ có tính khả thi cao, từ đó cho rằng Chính phủ có vai trò, thẩm quyền thông qua chính sách. Hệ lụy từ quy định mới này, là Quốc hội sẽ chỉ tập trung vào công đoạn soạn thảo, làm luật mà không phải cơ quan thông qua chính sách trong các dự án luật, pháp lệnh; Chính phủ thông qua chính sách, còn Quốc hội thông qua luật. Như vậy, sẽ khó đạt được mục tiêu hoàn thiện quy trình hoạch định chính sách và xây dựng luật, pháp lệnh nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của Quốc hội theo Luật Ban hành VBQPPL hiện hành. 7. Một trong những giải pháp cho vấn đề này, là Quốc hội khóa XIV nên sớm giải thích, hoặc đưa vào chương trình xây dựng luật, pháp lệnh lộ trình sửa đổi, bổ sung một số quy định trong Luật Ban hành VBQPPL 2015 đã cho phép Chính phủ và các cơ quan nói trên quyền “thông qua chính sách”. Trên thực tế, chỉ nên hiểu đây là các “đề xuất chính sách” mà phía các cơ quan trình đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh thấy cần ưu tiên lựa chọn. Do đó, không nên quy định Chính phủ và các cơ quan trên có thẩm quyền “thông qua chính sách” trong các dự án luật, pháp lệnh, mà chỉ là thông qua (hay chọn lựa) các “đề xuất chính sách”. Việc quyết định lựa chọn biện pháp chính sách và thẩm quyền thông qua chính sách trong các dự án luật cần phải thuộc về Quốc hội, được thực hiện đồng thời với việc thông qua dự án luật tại phiên họp toàn thể, để đảm bảo Quốc hội là cơ quan quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước. 8. Việc sửa đổi nhỏ này sẽ có tác động lớn, vì làm thay đổi tính chất, vai trò của các chủ thể tham gia vào quá trình hoạch định chính sách nói chung và quy trình xây dựng luật, pháp lệnh nói riêng. Khi Chính phủ chỉ lựa chọn và đề xuất một số giải pháp chính sách mà chưa phải quyết định chính thức, thì các nhà soạn thảo luật, các cơ quan thẩm tra của Quốc hội và đại biểu Quốc hội có thể tiếp tục thảo luận, sửa đổi, bổ sung và góp phần làm cho quá trình hoạch định chính sách đảm bảo chất lượng tốt hơn, tránh nguy cơ “vừa đá bóng, vừa thổi còi” trong xây dựng và thực thi chính sách ở nước ta, theo Luật Ban hành VBQPPL 2015. Xa hơn nữa, cần xây dựng lộ trình để diễn đàn Quốc hội là nơi thảo luận chính sách của dự án luật, mà không quá tập trung vào những vấn đề thuộc về kỹ thuật lập pháp hay “làm văn tập thể”. Nguyễn Anh Phương Tài liệu tham khảo: 1.   Hiến pháp năm 2013. 2.   Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014. 3.   Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015. 4.   Nghị định số 34/2016/NĐ-CP, ngày 14/5/2016 Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành VBQPPL 2015. 5.   Nguyễn Anh Phương (2016), “Quy trình chính sách và phân tích chính sách trong hoạt động lập pháp ở Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 02+03 (306+307), tr. 80-90.    
Dụng cụ chỉnh hình – phục hồi chức năng (CH-PHCN) có vai trò rất quan trọng đối với người khuyết tật vận động. Bởi vì các dụng cụ này hỗ trợ người khuyết tật có thể đi lại dễ dàng hơn, cải thiện các chức năng của cơ thể bị mất hoặc suy giảm, giảm thiểu những biến dạng của cơ thể sau các vấn đề về bệnh lý hoặc tai nạn.
Bình đẳng giới là một trong những chủ đề ưu tiên trong chính sách phát triển, đặc biệt đối với các nước đang phát triển. Mục tiêu thứ ba trong Các mục tiêu thiên niên kỷ chính là thúc đẩy bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ.
Chế độ tài sản (CĐTS) thỏa thuận đã từng tồn tại trong lịch sử lập pháp của Việt Nam thời cận đại với tên gọi “Hợp đồng hôn nhân” hay “khế ước hôn nhân”- hôn khế[1]. Thuật ngữ này không còn xuất hiện trong các Luật Hôn nhân và gia đình (Luật HN&GĐ) Việt Nam năm 1959, 1986, 2000. Luật HN&GĐ năm 2014 ghi nhận sự trở lại của CĐTS này với một số quy định. Mặc dù chỉ dừng lại ở một số lượng khiêm tốn, song các nhà làm luật Việt Nam đã bắt đầu quan tâm đến việc áp dụng CĐTS thỏa thuận trong việc giải quyết hậu quả pháp lý của việc chấm dứt quan hệ tài sản (QHTS) của vợ chồng. Bài viết trả lời hai câu hỏi: Thứ nhất, thế nào là CĐTS thỏa thuận giữa vợ và chồng? và thứ hai, vấn đề áp dụng CĐTS thỏa thuận trong giải quyết hậu quả pháp lý của việc chấm dứt QHTS giữa vợ và chồng như thế nào? 1. Chế độ tài sản thỏa thuận giữa vợ và chồng theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 CĐTS giữa vợ chồng là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh về (sở hữu) tài sản của vợ chồng, bao gồm các quy định về căn cứ xác lập quyền sở hữu tài sản, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng, các trường hợp và nguyên tắc chia tài sản giữa vợ và chồng[2]… CĐTS pháp định (CĐTS theo luật định) là CĐTS duy nhất được pháp luật Việt Nam thừa nhận cả trong Luật HN&GĐ Việt Nam năm 1959, 1987 và Luật năm 2000; vợ chồng không thể thỏa thuận để xác lập một CĐTS trong hôn nhân khác với CĐTS pháp định. Luật HN&GĐ năm 2014 với hàng loạt những thay đổi quan trọng, mà sự thay đổi có thể nói mang tính cách mạng nhất là sự ghi nhận CĐTS thỏa thuận. CĐTS thỏa thuận (hay còn gọi là CĐTS ước định), là tập hợp các quy tắc do chính vợ, chồng xây dựng nên một cách hệ thống trên cơ sở sự cho phép của pháp luật để thay thế cho CĐTS luật định nhằm điều chỉnh QHTS của vợ chồng. Các quy định về CĐTS thỏa thuận của vợ chồng hiện nay khá khiêm tốn, chỉ gói gọn trong các Điều 47, 48, 49, 50 và 59 Luật HN&GĐ năm 2014. Ngoài ra, CĐTS này cũng được hướng dẫn bởi 4 điều (Điều 15, 16, 17, 18) của Nghị định số 126/CP của Chính phủ ban hành ngày 31/12/2014 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật HN&GĐ năm 2014 và một số hướng dẫn cụ thể trong Thông tư liên tịch số 01/TTLT- TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật HN&GĐ năm 2014. Các quy định này đề cập đến các khía cạnh của CĐTS thỏa thuận (như: việc xác lập CĐTS, sửa đổi CĐTS, tuyên bố vô hiệu và chấm dứt CĐTS). 2. Áp dụng chế độ tài sản thỏa thuận trong giải quyết hậu quả pháp lý của việc chấm dứt quan hệ tài sản giữa vợ và chồng 2.1. Tuyên bố vô hiệu chế độ tài sản thỏa thuận 2.1.1. Các trường hợp bị tuyên bố vô hiệu Thỏa thuận giữa vợ và chồng về CĐTS, dù hiện nay pháp luật chưa quy định chính thức là một hợp đồng, nhưng về nguyên tắc là một loại giao dịch. Và với tư cách là một loại giao dịch, các thỏa thuận này phải tuân thủ những điều kiện nhất định để phát sinh hiệu lực. Theo quy định tại Điều 50 Luật HN&GĐ năm 2014: “1. Thỏa thuận về CĐTS của vợ chồng bị Tòa án tuyên bố vô hiệu khi thuộc một trong các trường hợp sau đây: a) Không tuân thủ điều kiện có hiệu lực của giao dịch được quy định tại Bộ luật Dân sự (BLDS) và các luật khác có liên quan; b) Vi phạm một trong các quy định tại các Điều 29, 30, 31 và 32 của Luật này; c) Nội dung của thỏa thuận vi phạm nghiêm trọng quyền được cấp dưỡng, quyền được thừa kế và quyền, lợi ích hợp pháp khác của cha, mẹ, con và thành viên khác của gia đình. 2. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn khoản 1 Điều này”. Như vậy, với quy định này có thể thấy có ba lý do để Tòa án có thể tuyên bố vô hiệu đối với một thỏa thuận về CĐTS giữa vợ và chồng. Về lý do thứ nhất, không tuân thủ điều kiện có hiệu lực của giao dịch được quy định tại BLDS và các luật khác có liên quan. Theo quy định tại Điều 122 BLDS năm 2005[3] thì:  Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây: a) Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự; b) Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội; c) Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện. 2. Hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp pháp luật có quy định. Áp dụng quy định trên có thể hình dung khả năng một thỏa thuận về CĐTS giữa vợ và chồng sẽ bị tuyên bố vô hiệu trong các trường hợp: Thứ nhất, nếu một trong hai bên vợ chồng chưa đủ tuổi kết hôn ở thời điểm xác lập thỏa thuận hoặc bị mất năng lực hành vi dân sự ở thời điểm thỏa thuận thì thỏa thuận sẽ bị tuyên bố vô hiệu. Trường hợp này được dẫn trên cơ sở có sự kết hợp giữa các quy định của BLDS và Luật HN&GĐ về điều kiện kết hôn. Luật HN&GĐ không yêu cầu cụ thể về điều kiện năng lực hành vi của các bên tham gia thỏa thuận về CĐTS, nên chúng tôi cho rằng, một cách hợp lý, người được xem là đáp ứng yêu cầu về năng lực hành vi để kết hôn thì có quyền xác lập thỏa thuận về CĐTS. Mà theo các quy định về điều kiện kết hôn tại khoản 1 Điều 8 Luật HN&GĐ thì: “1. Nam, nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây: a) Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên; b) Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định; c) Không bị mất năng lực hành vi dân sự; d) Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 của Luật này”. Thứ hai, cũng theo quy định trên, thỏa thuận về CĐTS giữa vợ chồng sẽ bị tuyên bố vô hiệu nếu tại thời điểm xác lập, một hoặc hai bên ở trong tình trạng không có sự tự nguyện (bị đe dọa, lừa dối, nhầm lẫn). Vấn đề về sự lừa dối, nhầm lẫn hay đe dọa được xác định theo quy định của Bộ luật Dân sự. Như vậy, trên cơ sở quy định trên, nếu việc kết hôn bị tuyên bố hủy do vi phạm điều kiện về độ tuổi, hay điều kiện về sự tự nguyện thì thỏa thuận về CĐTS giữa vợ và chồng cũng bị tuyên bố vô hiệu theo. Thứ ba, về hình thức, theo quy định tại khoản 2 Điều 122 nêu trên thì khi có vi phạm điều kiện về hình thức, Tòa án chỉ tuyên bố vô hiệu giao dịch nếu pháp luật có quy định “hình thức của giao dịch là điều kiện có hiệu lực của giao dịch”. Mặc dù Điều 47 Luật HN&GĐ có quy định rằng: “Trong trường hợp hai bên kết hôn lựa chọn CĐTS theo thỏa thuận thì thỏa thuận này phải được lập trước khi kết hôn, bằng hình thức văn bản có công chứng hoặc chứng thực”. Tuy nhiên, quy định này không nói rằng việc lập thành văn bản có công chứng, chứng thực là điều kiện có hiệu lực của thỏa thuận về CĐTS giữa vợ và chồng. Cho nên, áp dụng các quy định hiện hành này, nếu vi phạm quy định về hình thức thì Tòa án không thể tuyên bố vô hiệu thỏa thuận về CĐTS giữa và vợ chồng. Theo chúng tôi, cần quy định rõ rằng các yêu cầu về hình thức đối với CĐTS thỏa thuận (về việc công chứng thỏa thuận, thời điểm xác lập) là một điều kiện có hiệu lực của thỏa thuận về CĐTS giữa vợ và chồng vì hơn bất kỳ một loại giao dịch dân sự nào, CĐTS thỏa thuận đóng vai trò quan trọng không những đối với các bên vợ, chồng mà còn đối với người thứ ba. Do vậy, các yêu cầu nghiêm ngặt về hình thức là thật sự cần thiết[4]. Lý do thứ hai, thỏa thuận về CĐTS của vợ chồng vi phạm một trong các quy định tại các Điều 29, 30, 31 và 32 của Luật HN&GĐ năm 2014. Các quy định tại Điều 29, 30, 31, 32 Luật HN&GĐ năm 2014 tạo thành một CĐTS cơ sở mà dù là CĐTS thỏa thuận hay CĐTS theo luật định cũng phải tuân thủ. Vi phạm một trong các nguyên tắc này thì thỏa thuận về CĐTS sẽ bị tuyên bố vô hiệu. Có thể lấy ví dụ nguyên tắc “vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ thực hiện giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình. Trong trường hợp vợ chồng không có tài sản chung hoặc tài sản chung không đủ để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình thì vợ, chồng có nghĩa vụ đóng góp tài sản riêng theo khả năng kinh tế của mỗi bên”. Nguyên tắc này rất quan trọng trong việc đảm bảo duy trì các điều kiện hỗ trợ cho sự tồn tại của gia đình. Theo đó, nếu trong thỏa thuận về CĐTS giữa vợ và chồng có quy định cho rằng “trong thời kỳ hôn nhân chỉ có người chồng có nghĩa vụ đóng góp thu nhập duy trì đời sống chung của gia đình” thì thỏa thuận đó sẽ vô hiệu. Lý do thứ ba, nội dung của thỏa thuận vi phạm nghiêm trọng quyền được cấp dưỡng, quyền được thừa kế và quyền, lợi ích hợp pháp khác của cha, mẹ, con và thành viên khác của gia đình. Lý do này giúp bảo vệ các chủ thể có liên quan khỏi các thỏa thuận giữa vợ và chồng trong trường hợp các thỏa thuận này tác động theo hướng bất lợi đối với họ. Chúng tôi cho rằng, trên thực tế các thỏa thuận giữa vợ và chồng về CĐTS có thể tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến quyền lợi của các chủ thể có liên quan trong cấp dưỡng hoặc thừa kế[5]... Và theo chúng tôi, dù tác động trực tiếp hay gián tiếp, nếu có những thỏa thuận giữa vợ và chồng vi phạm nghiêm trọng quyền được cấp dưỡng hay quyền được thừa kế... của cha, mẹ, con và các thành viên khác của gia đình, thì thỏa thuận đó phải bị vô hiệu. Theo hướng dẫn tại khoản 2 Điều 6 Thông tư liên tịch số 01/TTLT- TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 thì: “Nội dung của thỏa thuận về CĐTS của vợ chồng bị vô hiệu do vi phạm nghiêm trọng quyền được cấp dưỡng, quyền được thừa kế và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của cha, mẹ, con và các thành viên khác của gia đình quy định tại điểm c khoản 1 Điều 50 của Luật HN&GĐ là trường hợp thỏa thuận đó nhằm trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng quy định từ Điều 110 đến Điều 115 của Luật HN&GĐ hoặc để tước bỏ quyền thừa kế của những người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc theo quy định của BLDS hoặc vi phạm các quyền, lợi ích hợp pháp của cha, mẹ, con và các thành viên khác của gia đình đã được Luật HN&GĐ và pháp luật khác có liên quan quy định”. 2.1.2. Hiệu lực của tuyên bố vô hiệu đối với thỏa thuận về chế độ tài sản giữa vợ và chồng        Về thẩm quyền tuyên bố vô hiệu, hiện tại trong Luật HN&GĐ năm 2014 không có quy định cụ thể về thẩm quyền tuyên bố vô hiệu. Tuy nhiên, theo chúng tôi, với tư cách là một giao dịch dân sự, thì chỉ Tòa án mới có thẩm quyền tuyên bố vô hiệu đối với thỏa thuận này của vợ chồng. Hướng dẫn của Thông tư liên tịch số 01 nêu trên cũng đã khẳng định suy luận này[6].        Về hậu quả pháp lý của việc tuyên bố vô hiệu, theo quy định tại khoản 2 Điều 50 Luật HN&GĐ năm 2014: “Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn khoản 1 Điều này”. Và Thông tư liên tịch số 01 đã có hướng dẫn: “Thỏa thuận về CĐTS của vợ chồng có thể bị Tòa án tuyên bố vô hiệu toàn bộ hoặc vô hiệu một phần. a) Trường hợp thỏa thuận về CĐTS của vợ chồng bị Tòa án tuyên bố vô hiệu toàn bộ thì CĐTS của vợ chồng theo luật định được áp dụng. b) Trường hợp thỏa thuận về CĐTS của vợ chồng bị tuyên bố vô hiệu một phần thì các nội dung không bị vô hiệu vẫn được áp dụng; đối với phần nội dung bị vô hiệu thì các quy định tương ứng về CĐTS của vợ chồng theo luật định được áp dụng”. Trên cơ sở các quy định này về CĐTS thỏa thuận và vấn đề tuyên bố vô hiệu đối với thỏa thuận giữa vợ và chồng về CĐTS này, chúng tôi cho rằng, việc tuyên bố vô hiệu cũng như các hậu quả pháp lý của tuyên bố vô hiệu được xây dựng trên cơ sở các quy tắc của luBộ luật Dân sự. Cụ thể, theo quy định tại Điều 131 BLDS năm 2015: “1. Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập. 2. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả....”. Như vậy, một khi thỏa thuận về CĐTS giữa vợ và chồng bị tuyên bố vô hiệu thì thỏa thuận này không phát sinh hiệu lực ngay từ thời điểm xác lập. Điều này dẫn đến kết quả là phải lựa chọn một trong hai giải pháp, thứ nhất QHTS giữa vợ vàchồng không được điều chỉnh bởi bất kỳ quy tắc nào, thứ hai vì CĐTS thỏa thuận không tồn tại ngay từ thời điểm xác lập quan hệ hôn nhân (QHHN) nên CĐTS theo luật định được áp dụng. Chúng tôi cho rằng, giải pháp thứ hai đã được đề cập trong Thông tư liên tịch số 01 đã nêu là hợp lý, bởi vì không thể có tình trạng không tồn tại quan hệ pháp luật giữa vợ và chồng về QHTS. Hơn thế nữa, trong trường hợp thỏa thuận giữa vợ chồng về CĐTS bị tuyên bố vô hiệu, các bên cũng không thể thỏa thuận lại một CĐTS thỏa thuận khác vì: “Trong trường hợp hai bên kết hôn lựa chọn CĐTS theo thỏa thuận thì thỏa thuận này phải được lập trước khi kết hôn, bằng hình thức văn bản có công chứng hoặc chứng thực. CĐTS của vợ chồng theo thỏa thuận được xác lập kể từ ngày đăng ký kết hôn” (Điều 47 Luật HN&GĐ năm 2014). 2.2. Chấm dứt chế độ tài sản thỏa thuận khi hủy hôn nhân trái pháp luật QHHN sẽ chấm dứt khi rơi vào một trong ba trường hợp sau, vợ (chồng) chết, ly hôn hay hủy hôn nhân trái pháp luật. Trong số ba trường hợp này thì hủy hôn nhân trái pháp luật là trường hợp chấm dứt QHHN bị động và khác biệt về nguyên nhân cũng như ý chí so với hai trường hợp còn lại. Theo quy định tại khoản 6 Điều 3 Luật HN&GĐ năm 2014 thì: “Kết hôn trái pháp luật là việc nam, nữ đã đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng một bên hoặc cả hai bên vi phạm điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 của Luật này”. Và hậu quả pháp lý về QHTS giữa vợ và chồng của việc Tòa án tuyên bố hủy kết hôn trái pháp luật cũng giống như trường hợp quan hệ chung sống như vợ chồng bị Tòa án tuyên bố không công nhận là: “1. QHTS, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn được giải quyết theo thỏa thuận giữa các bên; trong trường hợp không có thỏa thuận thì giải quyết theo quy định của BLDS và các quy định khác của pháp luật có liên quan. 2. Việc giải quyết QHTS phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con; công việc nội trợ và công việc khác có liên quan để duy trì đời sống chung được coi như lao động có thu nhập” (Điều 16 Luật HN&GĐ năm 2014).        Có thể thấy pháp luật không quy định đặc biệt gì liên quan đến việc giải quyết QHTS giữa vợ và chồng trong trường hợp hủy hôn nhân trái pháp luật khi giữa họ tồn tại thỏa thuận về CĐTS giữa vợ và chồng. Đương nhiên là thỏa thuận về CĐTS không thể tiếp tục tồn tại sau khi QHHN giữa vợ và chồng đã bị Tòa án tuyên bố hủy, bởi vì QHTS giữa vợ và  chồng chỉ tồn tại khi tồn tại QHHN - quan hệ vợ chồng. Do đó, câu hỏi đặt ra là liệu các thỏa thuận về QHTS giữa vợ và chồng trong CĐTS thỏa thuận giữa họ có phát sinh hiệu lực khi giải quyết việc chấm dứt QHHN giữa họ? Hay một khi QHHN bị hủy do trái pháp luật thì QHTS giữa vợ và chồng phải được giải quyết theo quy định tại Điều 16 Luật HN&GĐ nêu trên?        Theo chúng tôi, câu trả lời chỉ có thể đến trên cơ sở phân tích và nhận định. Thứ nhất, việc tuyên bố hủy hôn nhân trái pháp luật được Tòa án tiến hành trên cơ sở yêu cầu của một số chủ thể nhất định được chỉ định bởi pháp luật. Việc tuyên bố hủy được tiến hành trên cơ sở quy định của pháp luật, bất chấp ý chí của các bên trong QHHN. Do đó, nó mang ý nghĩa chế tài nhiều hơn là một sự kết thúc QHHN thông thường. Và một khi việc hủy hôn nhân này với ý nghĩa chế tài như vậy, thì việc áp dụng CĐTS thỏa thuận để giải quyết QHTS giữa vợ và chồng là không hợp lý. Thứ hai, các quy định về hủy QHHN trái pháp luật tại Điều 10, 11, 12 Luật H&GĐ năm 2014 về nguyên tắc là áp dụng chung cho những trường hợp hủy hôn nhân trái pháp luật, do đó, nếu không có quy định riêng của pháp luật về việc xử lý QHTS giữa vợ và chồng như thế nào khi hủy QHHN trái pháp luật mà giữa vợ và chồng có CĐTS thỏa thuận, thì một cách hợp lý, theo chúng tôi là sẽ phải áp dụng các quy định chung này.        Tóm lại, dù giữa vợ và chồng có tồn tại CĐTS thỏa thuận, thì khi hủy hôn nhân trái pháp luật, việc xử lý QHTS giữa họ với nhau và trong quan hệ giữa họ với người thứ ba vẫn phải tuân thủ các quy định như hủy QHHN trái pháp luật trong các trường hợp thông thường khác. 2.3. Chấm dứt chế độ tài sản thỏa thuận khi vợ, chồng chết        Theo pháp luật dân sự Cộng hòa Pháp, vợ và chồng luôn là người thừa kế hàng đầu của nhau trong trường hợp một trong hai bên chết. Quyền thừa kế này được xác định tùy thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như có hay không có di chúc, người chết có con hay không, và đặc biệt là vợ, chồng chết trong tình trạng giữa vợ và chồng có thỏa thuận đặc biệt trong việc chia tài sản hay không (thỏa thuận này nằm trong khuôn khổ của hợp đồng hôn nhân đã giao kết giữa họ với nhau).        Khác với luật của Cộng hòa Pháp, ở Việt Nam, việc thừa kế giữa vợ chồng được quy định bởi BLDS, không xem là một phần trong Luật HN&GĐ mặc dù có quan hệ mật thiết với Luật HN&GĐ.        BLDS của Việt Nam được ban hành năm 2005, trong khi CĐTS thỏa thuận được quy định trong Luật HN&GĐ ban hành năm 2014. Vấn đề xử lý việc chấm dứt QHTS giữa vợ và chồng khi một trong hai bên vợ, chồng chết trong tình trạng có tồn tại CĐTS thỏa thuận chắc chắn không được quy định trong BLDS năm 2005, và thật tiếc là BLDS năm 2015 cũng không đề cập đến vấn đề này. Trong khi đó, theo quy định tại Điều 48 Luật HN&GĐ năm 2014: “1. Nội dung cơ bản của thỏa thuận về CĐTS bao gồm: a) Tài sản được xác định là tài sản chung, tài sản riêng của vợ, chồng; b) Quyền, nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng và giao dịch có liên quan; tài sản để bảo đảm nhu cầu thiết yếu của gia đình; c) Điều kiện, thủ tục và nguyên tắc phân chia tài sản khi chấm dứt CĐTS; d) Nội dung khác có liên quan. 2. Khi thực hiện CĐTS theo thỏa thuận mà phát sinh những vấn đề chưa được vợ chồng thỏa thuận hoặc thỏa thuận không rõ ràng thì áp dụng quy định tại các Điều 29, 30, 31 và 32 của Luật này và quy định tương ứng của CĐTS theo luật định”. Và theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 50 thì thỏa thuận giữa vợ chồng về CĐTS sẽ bị tuyên bố vô hiệu khi: “Nội dung của thỏa thuận vi phạm nghiêm trọng quyền được cấp dưỡng, quyền được thừa kế và quyền, lợi ích hợp pháp khác của cha, mẹ, con và thành viên khác của gia đình”. Hai quy định vừa trích dẫn dường như có sự mâu thuẫn nhau. Cụ thể, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 48 cho phép các bên vợ chồng có quyền thỏa thuận và ghi nhận vào CĐTS thỏa thuận các “Điều kiện, thủ tục và nguyên tắc phân chia tài sản khi chấm dứt CĐTS”, mà các trường hợp chấm dứt QHTS bao gồm cả trường hợp một trong hai bên vợ, chồng chết. Trong khi đó Điều 50 lại không cho phép những thỏa thuận “vi phạm quyền thừa kế”, tức quyền thừa kế được ghi nhận bởi BLDS. Ngoài ra, khoản 2 Điều 66 Luật HN&GĐ năm 2014 có quy định rằng: “2. Khi có yêu cầu về chia di sản thì tài sản chung của vợ chồng được chia đôi, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận về CĐTS. Phần tài sản của vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết được chia theo quy định của pháp luật về thừa kế”.Trên cơ sở các  quy định nêu trên, có thể thấy giới hạn của CĐTS thỏa thuận liên quan đến việc giải quyết QHTS giữa vợ và chồng khi một trong hai bên chết. Cụ thể và đơn giản, có thể nói rằng việc phân chia di sản thừa kế trong trường hợp một bên vợ, chồng chết mà giữa họ có tồn tại CĐTS thỏa thuận vẫn phải tuân thủ các quy định mang tính bắt buộc của pháp luật dân sự về chia di sản thừa kế, cụ thể là phải tôn trọng quyền thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc của những chủ thể được bảo vệ theo quy định tại Điều 6 Thông tư liên tịch số 01 đã dẫn trên. Tóm lại, đối với CĐTS thỏa thuận giữa vợ và chồng, các bên có thể thỏa thuận về việc quản lý, phân chia tài sản cũng như các điều kiện phân chia tài sản khi chấm dứt QHHN. Tuy nhiên, riêng các thỏa thuận về phân chia di sản thừa kế làm ảnh hưởng đến quyền thừa kế của những người thừa kế thì thỏa thuận này không được phép. Đây cũng chính là giới hạn cho CĐTS thỏa thuận giữa vợ và chồng. Câu hỏi đặt ra là chỉ riêng các thỏa thuận về thừa kế là không được phép hay tất cả các thỏa thuận làm ảnh hưởng đến quyền thừa kế của các chủ thể có liên quan khi một trong hai bên vợ, chồng chết sẽ bị cấm? Hãy hình dung giả thuyết, trong thỏa thuận về CĐTS, vợ chồng đã thỏa thuận với nhau rằng, khi một trong hai bên vợ, chồng chết thì người còn sống sẽ được nhận hai phần ba (2/3) tổng số tài sản chung, một phần ba còn lại là của người chết và sẽ đem chia thừa kế. Rõ ràng thỏa thuận này không tác động trực tiếp đến quyền thừa kế của những người thừa kế, mà nó chỉ là thỏa thuận về việc phân chia tài sản chung của vợ chồng, nhưng thỏa thuận này đã tác động một cách gián tiếp đến quyền được thừa kế của những người thừa kế khác. Cụ thể là nó làm cho khối di sản của những người này ít đi hơn so với bình thường (nếu như không có CĐTS thỏa thuận). Câu trả lời - theo chúng tôi - đến từ lý do cho sự xuất hiện của quy định tại điểm c khoản 1 Điều 50 nêu trên. Nhà làm luật khi xây dựng quy định tại Điều 50 này đã nghĩ đến nguyên tắc bảo vệ người thứ ba, theo nguyên tắc đó, vợ chồng có quyền xây dựng một CĐTS thỏa thuận cho riêng họ, nhưng các thỏa thuận này không được ảnh hưởng theo hướng tiêu cực đến quyền lợi của người thứ ba, đặc biệt là quyền thừa kế và cụ thể là quyền thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc. Và mặc dù thỏa thuận của vợ chồng không phải là di chúc nhưng nó cũng đã tác động tiêu cực đến quyền thừa kế của các chủ thể được pháp luật bảo vệ. Do đó, có thể thấy thỏa thuận của vợ chồng trong giả thuyết đã đề cập là không được chấp nhận nếu thỏa thuận phân chia này làm cho quyền thừa kế của các chủ thể đặc biệt (vợ, chồng, cha, mẹ, con chưa thành niên... của người chết) không được đảm bảo theo quy định của luật dân sự. 2.4. Chấm dứt chế độ tài sản thỏa thuận khi vợ chồng ly hôn Ly hôn là trường hợp chấm dứt QHHN không được lường trước bởi khi vợ chồng xác lập QHHN là trong điều kiện bình thường. Tuy nhiên, đây lại là trường hợp thường được dự kiến bởi các thỏa thuận về CĐTS giữa vợ và chồng, khi ly hôn sẽ chia tài sản như thế nào là vấn đề mà các bên thường quan tâm khi xây dựng thỏa thuận về CĐTS giữa vợ và chồng. Các thỏa thuận này cũng là những thỏa thuận được phép xây dựng trong khuôn khổ quy định tại điểm c khoản 1 Điều 48 nêu trên. Đồng thời, theo quy định tại khoản 1 Điều 59 Luật HN&GĐ năm 2014 về giải quyết QHTS giữa vợ và chồng khi ly hôn thì: “1. Trong trường hợp CĐTS của vợ và chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các Điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này. Trong trường hợp CĐTS của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các Điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết”. Như vậy, quy định này đã thể hiện rất rõ ràng tinh thần tôn trọng các thỏa thuận của vợ chồng trong CĐTS thỏa thuận liên quan đến việc phân chia tài sản khi ly hôn. Ngược lại, nếu vợ chồng có xây dựng CĐTS thỏa thuận nhưng trong nội dung thỏa thuận không nói gì về cách thức cũng như điều kiện phân chia tài sản khi ly hôn thì Tòa án sẽ áp dụng cách phân chia theo CĐTS luật định để giải quyết. Vấn đề cần lưu ý còn lại liên quan tới việc chấm dứt QHTS giữa vợ chồng khi ly hôn trong tình trạng có CĐTS thỏa thuận là các thỏa thuận phân chia tài sản cần phải tuân thủ các nguyên tắc được quy định tại Điều 29, 30, 31, 32 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và đảm bảo không “vi phạm nghiêm trọng quyền được cấp dưỡng, quyền được thừa kế và quyền, lợi ích hợp pháp khác của cha, mẹ, con và thành viên khác của gia đình”, đặc biệt là quyền được cấp dưỡng sau khi ly hôn. Điều đó cũng có nghĩa là, nếu có những thỏa thuận vi phạm các nguyên tắc này mà vẫn chưa bị tuyên bố vô hiệu thì sẽ xử lý giống như trường hợp “Nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều 59 và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết”. Tóm lại, việc giải quyết QHTS giữa vợ và chồng như thế nào khi chấm dứt QHHN là một trong những nội dung quan trọng mà các bên vợ chồng thường quan tâm thỏa thuận khi xác lập CĐTS thỏa thuận cho riêng mình. Và trong số các trường hợp chấm dứt QHTS thì chấm dứt QHTS do ly hôn có thể nói là trường hợp mà sự tự do trong thỏa thuận về phân chia tài sản được cho phép nhiều nhất./.       [1] Dân luật 1972 Sài Gòn. [2] Khái niệm này, theo tác giả Nguyễn Mạnh Bách “Chế độ hôn sản gồm một số các nguyên tắc quy định quyền hạn của hai vợ chồng trên các tài sản chung, sự đóng góp tiền bạc của hai vợ chồng trong thời gian hôn nhân, các quyền lợi của người thứ ba giao dịch với họ và những quyền lợi của mỗi người vợ chồng khi hôn thú chấm dứt”, Tìm hiểu Luật Dân sự Việt Nam (chế độ hôn sản, thừa kế), Nxb. Đồng Nai, 1992, tr 9. [3] Quy định này vẫn được giữ lại tại Điều 117 BLDS năm 2015. [4] Thông tư liên tịch số 01/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP vẫn chưa có quy định gì về vấn đề này. [5] Ví dụ, thỏa thuận của vợ chồng rằng “khi một trong hai bên chết thì người còn lại được thừa kế trọn di sản”, thỏa thuận này đã, một cách gián tiếp, hạn chế, thậm chí tước đi quyền thừa kế của các thành viên khác trong gia đình của người chết (cụ thể là quyền thừa kế của những người cùng hàng với vợ, chồng) [6] Theo quy định tại Điều 5 Thông tư liên tịch số 01/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP (2016) thì Tòa án có thẩm quyền này.     Đoàn Thị Phương Diệp, TS. Khoa Luật, Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh.
Sự thay đổi của hệ thống tài chính và vai trò của các tổ chức bảo hiểm tiền gửi trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế đã đặt ra yêu cầu phải cập nhật Bộ các nguyên tắc cơ bản theo hướng đảm bảo sự độc lập của tổ chức bảo hiểm tiền gửi trong quá trình hoạt động, cung cấp thêm các công cụ cần thiết để tổ chức bảo hiểm tiền gửi thực hiện tốt hơn nhiệm vụ của mình, đồng thời thể hiện vai trò tích cực hơn trong mạng an toàn tài chính quốc gia. Những thay đổi cơ bản Bộ các nguyên tắc cơ bản đã được Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) và Ngân hàng thế giới (WB) sử dụng trong phạm vi Chương trình đánh giá khu vực tài chính (FSAP) với mục tiêu đánh giá tính hiệu quả của hệ thống bảo hiểm tiền gửi tại các quốc gia. Đối với Việt Nam, trong quá trình thực hiện chương trình FSAP tại Việt Nam, IMF và WB cũng đã áp dụng Bộ các nguyên tắc cơ bản như một tài liệu tham khảo để đưa ra một số khuyến nghị đối với hệ thống bảo hiểm tiền gửi. Năm 2012, Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam cũng đã tiến hành tự đánh giá hệ thống bảo hiểm tiền gửi qua đề tài nghiên cứu ứng dụng “Đánh giá mức độ tuân thủ của hệ thống bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam so với Bộ nguyên tắc cơ bản phát triển hệ thống BHTG hiệu quả” từ đó đưa ra những đề xuất cải tiến hệ thống BHTG. Bộ nguyên tắc cơ bản cũng đã được các cơ quan Chính phủ và Quốc hội tham khảo trong quá trình xây dựng Luật bảo hiểm tiền gửi của Việt Nam.   Bộ tài liệu mới đã được cơ cấu lại một cách hợp lý hơn trên cơ sở thực hiện những thay đổi cơ bản sau: Thứ nhất: Củng cố một số nguyên tắc liên quan tới quản trị, trả tiền bảo hiểm, hạn mức BHTG, cấp vốn và tăng cường đảm bảo an toàn sử dụng vốn, trả tiền bảo hiểm, nhận thức của công chúng, hạn mức, rủi ro đạo đức, các vấn đề xuyên quốc gia...   Thứ hai: Cập nhật các nguyên tắc liên quan tới can thiệp và xử lý đổ vỡ nhằm phản ánh thực tế vai trò ngày càng lớn hơn của các tổ chức bảo hiểm tiền gửi trong việc xử lý đổ vỡ, đồng thời để đảm bảo sự phù hợp với các tiêu chuẩn của FSB. Thứ ba: Bổ sung thêm nguyên tắc về việc lập kế hoạch dự phòng khủng hoảng và xử lý khủng hoảng. Thứ tư: Tích hợp những nội dung đặc biệt về hệ thống bảo hiểm tiền gửi Hồi giáo, phổ biến kiến thức tài chính, nhiều hệ thống bảo hiểm tiền gửi trong cùng quốc gia, và về ưu tiên đối với người gửi tiền. Thứ 5: Đề cập tới rủi ro đạo đức trong tất cả các nguyên tắc có liên quan, thay vì chỉ giới hạn vấn đề rủi ro đạo đức trong một nguyên tắc duy nhất. Thứ 6: Nâng cấp một số tiêu chuẩn bổ sung trở thành tiêu chuẩn cơ bản dùng để đánh giá. Sau khi sửa đổi, Bộ nguyên tắc mới có 16 nguyên tắc cơ bản thay vì 18 nguyên tắc trong Bộ cũ), bao gồm tất cả 96 tiêu chuẩn đánh giá chi tiết. Một số điểm mới từ bộ các nguyên tắc cơ bản của Bảo hiểm tiền gửi Mối quan hệ với các thành viên mạng an toàn tài chính Nguyên tắc này tiếp tục đề cập đến tầm quan trọng của việc chia sẻ thông tin (thường xuyên và đột xuất) và phối hợp hành động giữa các cơ quan có vai trò giữ vững ổn định tài chính. Đặc biệt, Bộ nguyên tắc sửa đổi nhấn mạnh việc các cơ quan cần có những quy định chính thức về việc phối hợp hành động và đảm bảo bí mật thông tin được chia sẻ giữa các bên. Nguyên tắc mới cũng bổ sung trường hợp có nhiều tổ chức bảo hiểm tiền gửi cùng hoạt động trong một lãnh thổ quốc gia, khi đó cần phải có các cơ chế phối hợp và chia sẻ hiệu quả. Vai trò của tổ chức bảo hiểm tiền gửi trong việc lập kế hoạch dự phòng và xử lý khủng hoảng Đây là nguyên tắc hoàn toàn mới trên cơ sở những kinh nghiệm rút ra từ khủng hoảng tài chính toàn cầu. Cụ thể nguyên tắc này khuyến cáo tổ chức bảo hiểm tiền gửi phải có sẵn các kế hoạch đối phó với khủng hoảng (trước khủng hoảng) cũng như những biện pháp xử lý tình huống khủng hoảng (trong khủng hoảng), trên nguyên tắc hành động phối hợp với các cơ quan khác trong mạng an toàn tài chính. Các cuộc mô phỏng tập dượt xử lý khủng hoảng sẽ có tác dụng giúp tổ chức bảo hiểm tiền gửi cũng như các cơ quan khác có kỹ năng ứng phó tốt hơn với khủng hoảng. Nguyên tắc này cũng nhấn mạnh vai trò của truyền thông trước và sau khủng hoảng nhằm duy trì nhận thức đầy đủ và ổn định của công chúng về hệ thống tài chính. Nguyên tắc về nhận thức của công chúng Nguyên tắc này đề cập toàn diện hơn về hoạt động truyền thông công chúng trên hai cơ sở: mang tính định kỳ và mang tính sự kiện (đổ vỡ, khủng hoảng). Tổ chức bảo hiểm tiền gửi cũng cần đặt ra chiến lược dài hạn về truyền thông, tổ chức đánh giá mức độ nhận thức của công chúng qua thời gian. Nguyên tắc này cũng đặt tình huống truyền thông khi có vấn đề xuyên quốc gia, những thông tin cần chia sẻ và cơ chế chia sẻ thông tin. Những kiến nghị để phát triển Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam thời gian tới Trên cơ sở những thay đổi quan trọng của Bộ các nguyên tắc cơ bản phát triển hệ thống bảo hiểm tiền gửi hiệu quả của IADI, tác giả xin có một số kiến nghị đối với Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam như sau: Một là: Tiến hành đánh giá lại hệ thống bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam theo Bộ nguyên tắc cơ bản được cập nhật. Việc đánh giá toàn hệ thống đã được thực hiện trong phạm vi một đề tài nghiên cứu trong năm 2012, tuy nhiên đó là thời điểm giao thoa giữa cơ sở pháp lý cũ và mới (Luật bảo hiểm tiền gửi có hiệu lực từ 1/1/2013). Thời điểm hiện nay là cơ hội tốt để đánh giá lại hệ thống bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam trên cơ sở là hơn 2 năm thực thi Luật BHTG, cùng với Bộ các nguyên tắc cơ bản cập nhật vừa được ban hành. Kết quả đánh giá sẽ là nguồn thông tin hữu ích cho nhiệm vụ xây dựng Chiến lược phát triển dài hạn Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam dự kiến thực hiện trong năm 2015. Hai là: Xây dựng Chiến lược phát triển Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam trong đó phản ánh các nguyên tắc trong Bộ nguyên tắc cơ bản phát triển hệ thống bảo hiểm tiền gửi hiệu quả của IADI. Ba là: Một số đề xuất về nghiệp vụ: (i) Kiến nghị với các cơ quan có thẩm quyền lập kế hoạch dự phòng và xử lý khủng hoảng trong đó xác định rõ cơ chế phối hợp giữa các cơ quan trong đó có tổ chức bảo hiểm tiền gửi trong việc đối phó với khủng hoảng tài chính, ngân hàng. (ii) Xây dựng tỷ lệ quỹ mục tiêu và kiến nghị với các cơ quan cho phép áp dụng hệ thống phí trên cơ sở rủi ro nhằm đạt được quỹ mục tiêu đã đề ra. (iii) Hoàn thiện Chiến lược truyền thông nhằm tổ chức một cách bài bản hoạt động truyền thông trong giai đoạn kinh tế phát triển thông thường và đặc biệt có kế hoạch truyền thông khi xảy ra khủng hoảng. (iv) Xây dựng kế hoạch cải tiến phương pháp chi trả bảo hiểm tiền gửi nhằm rút ngắn thời gian chi trả xuống gần với mục tiêu 7 ngày được đặt ra trong Bộ nguyên tắc cập nhật. LÊ HOÀNG
Cho đến nay, pháp luật nước ta vẫn chưa có quy định rõ ràng về “bí mật đời tư” là gì, phạm vi của “bí mật đời tư” như thế nào, mà chỉ có một số quy định về vấn đề này trong Hiến pháp năm 2013; Bộ luật Dân sự năm 2005 (BLDS); Luật Giao dịch điện tử năm 2005 (Luật GDĐT); Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009 - BLHS). Mà theo đó:- Điều 21 Hiến pháp năm 2013 có quy định: “1. Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình; có quyền bảo vệ danh dự, uy tín của mình. Thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình được pháp luật bảo đảm an toàn 2. Mọi người có quyền bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác. Không ai được bóc mở, kiểm soát, thu giữ trái luật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư của người khác”- Tại Điều 38 BLDS hiện hành, có quyền bí mật đời tư, như sau:“1. Quyền bí mật đời tư của cá nhân được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.2. Việc thu thập, công bố thông tin, tư liệu về đời tư của cá nhân phải được người đó đồng ý; trong trường hợp người đó đã chết, mất năng lực hành vi dân sự, chưa đủ mười lăm tuổi thì phải được cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên hoặc người đại diện của người đó đồng ý, trừ trường hợp thu thập, công bố thông tin, tư liệu theo quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.3. Thư tín, điện thoại, điện tín, các hình thức thông tin điện tử khác của cá nhân được bảo đảm an toàn và bí mật. Việc kiểm soát thư tín, điện thoại, điện tín, các hình thức thông tin điện tử khác của cá nhân được thực hiện trong trường hợp pháp luật có quy định và phải có quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.”Khoản 2 Điều 46 Luật GDĐT quy định:“Cơ quan, tổ chức, cá nhân không được sử dụng, cung cấp hoặc tiết lộ thông tin về bí mật đời tư hoặc thông tin của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác mà mình tiếp cận hoặc kiểm soát được trong giao dịch điện tử nếu không được sự đồng ý của họ, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.” - Điều 25 Luật bảo vệ sức khỏe nhân dân năm 1989 có quy địnhvề trách nhiệm của thầy thuốc “… phải giữ bí mật về những điều có liên quan đến bệnh tật hoặc đời tư mà mình được biết về người bệnh”.- Điều 125 BLHS có quy định Tội xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín của người khác, như sau:“1. Người nào chiếm đoạt thư, điện báo, telex, fax hoặc các văn bản khác được truyền đưa bằng phương tiện viễn thông và máy tính hoặc có hành vi trái pháp luật xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín của người khác đã bị  xử lý kỷ luật hoặc xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ một triệu đồng đến năm triệu đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến một năm. 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ từ một năm đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm:a) Có tổ chức;b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;c)  Phạm tội nhiều lần;d) Gây hậu quả nghiêm trọng;đ) Tái phạm.3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ hai triệu đồng đến hai mươi triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến năm năm.”Do luật và các văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành chưa có hướng dẫn cụ thể và cũng không quy định chi tiết thế nào là “bí mật đời tư”, nên đây cũng là vấn đề pháp lý gây tranh cãi nhiều nhất. Ý kiến chung nhất của các chuyên gia thì cho rằng “bí mật” là thông tin cần được che giấu, không công khai, chỉ một số ít người liên quan được biết. Ví dụ, nếu một đám cưới diễn ra công khai, nhiều người biết đến, tất nhiên sẽ không là chuyện “bí mật”. Còn vì sao có lễ cưới đó, có thể riêng tư vì một lý do tế nhị nào đó. Tuy nhiên nếu lý do này được nêu công khai từ một bên gia đình cô dâu hay gia đình chú rể của lễ cưới ấy, có lẽ mọi chuyện cũng khó thể gọi là “bí mật đời tư”. “Bí mật đời tư” là một cụm từ Hán - Việt, có nguồn gốc từ chữ Hán và được Việt hóa. Do đó, có thể hiểu “bí mật”  là những chuyện kín đáo, chuyện muốn che giấu, không muốn ai biết. “Tư” ở đây có nghĩa là riêng, việc riêng, của riêng. Như vậy, “bí mật đời tư” là chuyện thầm kín của một cá nhân nào đó. Bởi pháp luật hiện hành tuy có quy định nhưng không rõ ràng, thiếu cụ thể , nên đã gây khó khăn cho người dân khi muốn tiếp cận những thông tin cần thiết, mà theo họ, là “chứng cứ” cần thiết và quan trọng của vụ kiện dân sự, chính vì lẽ đó, trong nhiều trường hợp cơ quan chức năng đã vô tình đẩy người đi kiện vào “ngõ cụt” chỉ vì thiếu thống nhất chung về nhận thức thế nào là “quyền bí mật đời tư”. Dưới đây là trường hợp cụ thể, tác giả xin được dẫn chứng để minh họa cho nhận định trên.Theo đơn khởi kiện ngày 13/02/2014 của bà Nguyễn Thị L. (trú tại ấpT, xã  T.H, huyện C, tỉnh T), trình bày: Ngày 12/5/1991 cha của bà là cụ Nguyễn H. có nhận sang nhượng của cụ Phạm Văn V. (cùng ngụ tại địa chỉ trên) một thửa đất có diện tích 187m2 (chiều rộng 7,5m x chiều dài 25m) với số tiền là 1.500.000 đồng, nội dung giao dịch này được thể hiện trên giấy viết tay có chữ ký của bên sang nhượng, bên nhận sang nhượng cùng hai người làm chứng là ông Dương Văn Nh., Phạm Văn S. và  được lãnh đạo UBND xã T.H ký xác nhận vào ngày 12/10/1991. Sau khi lập hồ sơ thủ tục theo quy định, ngày 11/10/1999 bà L được UBND huyện C cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) với diện tích 187m2 loại đất thổ quả, thuộc thửa 2760, tờ bản đố số 01, tọa lạc tại ấp T, xã T.H, huyện C, tỉnh T. Cũng theo hồ sơ kê khai xin cấp GCNQSDĐ của bà L. thể hiện: Chiều rộng hai cạnh của thửa đất tiếp giáp với Quốc lộ IA và tiếp giáp với mí gò đất đều là 7,5m, nhưng qua đo đạc thực tế sau khi phát sinh tranh chấp cho thấy, chiều rộng tiếp giáp với Quốc lộ IA là 7,38m; chiều rộng tiếp giáp mí gò đất chỉ còn là 6,72m. Sở dĩ có sự khác biệt về số liệu đo đạc trên thực tế với số liệu trích lục bản đồ vị trí thể hiện trên GCNQSDĐ, là do bà Đoàn Thị N. năm 2004 khi làm nhà ở cạnh thửa đất của bà L. đã lấn chiếm, cụ thể chiều rộng thửa đất tiếp giáp Quốc lộ IA, bị bà N. lấn qua 0,11m với chiều dài 8,8m; chiều rộng tiếp giáp mí gò bị bà N. lấn qua 0,78m với chiều dài 6,95m. Bà L. đề nghị TAND huyện C tuyên buộc cụ V. và bà N. có trách nhiệm giao trả toàn bộ phần diện tích đất đã lấn chiếm gần 7m2.Phía bị đơn là cụ Phạm Văn V. và bà Đoàn Thị N. trình bày: Việc cụ V. sang nhượng cho cụ H. tại thời điểm khoảng tháng 5/1991 một thửa đất với giá 1.500.000 đồng là đúng sự thật, nhưng diện tích sang nhượng chỉ là 120m2 (chiều rộng 6,0m; chiều dài 20,0m), chứ không phải diện tích 187m2 như trong Đơn xin sang nhượng đất, mà phía bà L. cung cấp. Hơn nữa, hồ sơ xin cấp GCNQSDĐ cho bà L. có dấu hiệu giả chữ ký, vì bản thân cụ V. và bà N. cũng như những thành viên khác trong gia đình, không ai ký tên xác nhận “tứ cận” (giáp ranh với phần đất của người kế bên) vào hồ sơ kê khai xin cấp GCNQSDĐ của bà L., điều đó dẫn đến việc gia đình bà không hề hay biết việc phía bà L. làm thủ tục đề nghị UBND huyện C cấp GCNQSDĐ, mà cha của bà đã sang nhượng lên đến 187m2.Để có chứng cứ giao nộp cho Tòa án để bảo vệ quan điểm của mình, bà Đoàn Thị N. làm đơn gửi đến Văn phòng đăng ký đất đai thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T, yêu cầu trích lục hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất và hồ sơ cấp GCNQSDĐ đối với bà Nguyễn Thị L. vào năm 1999. Ngày 17/12/2015, Văn phòng đăng ký đất đai thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T, ban hành Công văn số 4314/TL-VPĐK trả lời yêu cầu của bà Đoàn Thị N., mà theo đó, tại điểm 2 của Công văn này có viết: “ …Căn cứ vào Điều 38 của Bộ luật Dân sự ngày 14/6/2005 quy định như sau:“việc thu thập, công bố thông tin, tư liệu về đời tư của cá nhân phải được người đó đồng ý; trong trường hợp người đó đã chết, mất năng lực hành vi dân sự, chưa đủ mười lăm tuổi thì phải được cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên hoặc người đại diện của người đó đồng ý, trừ trường hợp thu thập, công bố thông tin, tư liệu theo quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền. Do đó, Văn phòng Đăng ký đất đai không thể trích lục hồ sơ của bà Nguyễn Thị L. theo yêu cầu của bà được.””Vấn đề đặt ra, việc Văn phòng Đăng ký đất đai thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T, viện dẫn Điều 38 BLDS và cho rằng nếu thực hiện nội dung yêu cầu trích lục hồ sơ xin cấp GCNQSDĐ đối với bà Nguyễn Thị L. là xâm phạm đến quyền bí mật đời tư của đương sự, nên đã từ chối yêu cầu của bà N. có phù hợp với quy định của pháp luật không? Xoay quanh vấn đề này, hiện có các loại quan điểm sau:- Quan điểm thứ nhất: Bí mật đời tư của cá nhân được hiểu là những gì gắn với nhân thân con người, bao gồm những thông tin, tài liệu, hình ảnh về cá nhân, việc làm, tình yêu, gia đình, các mối quan hệ… gắn liền với một cá nhân mà người này giữ kín, không muốn để “lộ ra” cho người khác biết. Nói cách khác, bí mật đời tư có thể hiểu là chuyện riêng của người này mà không muốn cho người khác biết. Những bí mật đời tư này chỉ có bản thân người đó biết hoặc những người thân thích, người có mối liên hệ với người đó biết và họ chưa từng công bố ra ngoài cho bất kỳ ai. “Bí mật đời tư” có thể hiểu là “chuyện trong nhà” của cá nhân nào đó. Ví dụ: con ngoài giá thú, di chúc, hình ảnh cá nhân, tình trạng sức khỏe, bệnh tật, các loại thư tín, điện thoại, điện tín…”. Vì thế nên, bất cứ ai thu thập, công bố thông tin, tư liệu về đời tư cá nhân người khác, không phân biệt những thông tin, tư liệu ấy đang được cá nhân đó giữ bí mật hay đã được cá nhân đó để lộ ra mà không được sự đồng ý của cá nhân đó đều là xâm phạm bí mật đời tư. Hồ sơ xin cấp GCNQSDĐ đối với bà Nguyễn Thị L. là vấn đề thuộc về quyền riêng tư cá nhân, nên việc Văn phòng Đăng ký đất đai từ chối đáp ứng yêu cầu của bà N. tại Công văn số 4314/TL-VPĐK là có căn cứ.- Quan điểm thứ hai: Bí mật đời tư là những thông tin, tư liệu (gọi chung là thông tin) về tinh thần, vật chất, quan hệ xã hội hoặc những thông tin khác liên quan đến cá nhân trong quá khứ cũng như trong hiện tại, được pháp luật bảo vệ và những thông tin đó được bảo mật bằng những biện pháp mà pháp luật thừa nhận. Mặc dù Điều 38 BLDS không đưa ra khái niệm bí mật đời tư, nhưng theo lẽ thông thường có thể hiểu bí mật đời tư là những thông tin, tư liệu liên quan đến cá nhân mà cá nhân đó không muốn cho người khác biết. Trong hoàn cảnh pháp luật hiện chưa có quy định rõ ràng về khái niệm và phạm vi “bí mật đời tư ” thì xét ở góc độ nghĩa của từ ngữ theo từ điển tiếng Việt, bí mật đời tư của cá nhân được hiểu là những gì thuộc về đời sống riêng tư của cá nhân (thông tin, tư liệu…) được giữ kín, không công khai, không tiết lộ ra. Còn nếu các thông tin, tư liệu cá nhân đã được công khai, lộ ra thì không còn là bí mật đời tư nữa. Do đó, cần hiểu bí mật đời tư của cá nhân là những thông tin, tư liệu mà chỉ mỗi cá nhân đó biết và quyết giữ bí mật.Từ cách tiếp cận vấn đề như vậy, những người ủng hộ quan điểm này cho rằng: Sở dĩ, bà N. yêu cầu được cấp trích hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất và hồ sơ cấp GCNQSDĐ đối với bà Nguyễn Thị L., là do giữa đôi bên có tranh chấp về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất trước đó và hiện tại phía bà L. đã được UNND huyện C cấp GCNQSD diện tích đất được sang nhượng. Nhưng theo bà N., hồ sơ xin xác lập chủ quyền diện tích đất được sang nhượng  đã có sự giả mạo chữ ký của cụ V. (người sang nhượng), hơn nữa, diện tích đất sang nhượng thực tế là 120 m2, nhưng thực tế khi bà L. được cấp GCNQSDĐ lên đến 187 m2, trong khi theo quy định của pháp luật, là người sử dụng đất giáp ranh với đất của bà L., cụ V. hay bà N. phải ký tên xác nhận “tứ cận” – đất không có tranh chấp là mới đúng. Hồ sơ và quy trình, thủ tục cấp GCNQSDĐ theo quy định của của pháp luật là công khai. Cụ thể, Quyết định số 93/2007/QĐ-TTg ngày 22/6/2007 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương; Thông tư liên tịch số 14/2008/TTLT/BTC-BTNMT ngày 31/01/2008 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ tái định cư và trình tự thủ tục thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất; Thông tư số 17/2009/TT-BTNMT ngày 21/10/2009 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; Thông tư số 20/2010/TT-BTNMT ngày 22/10/2010 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định bổ sung về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất;Thông tư số 16/2010/TT-BTNMT ngày 20/5/2010 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định sửa đổi, bổ sung một số nội dung liên quan đến thủ tục hành chính về lĩnh vực đất đai;… mà theo đó, với thủ tục cấp GCNQSĐ cho cá nhân trong mọi trường hợp đều được công chức địa chính và UBND cấp xã công bố công khai kết quả kiểm tra về nguồn gốc đất, thời điểm sử dụng đất, tình trạng tranh chấp quyền sử dụng đất, sự phù hợp với quy hoạch,…tại trụ sở UBND cấp xã. Một khi tất cả các thông tin có liên quan về hồ sơ xin cấp GCNQSDĐ được công bố công khai thì tại trụ sở UBND cấp xã thì rõ ràng không còn là bí mật đời tư của cá nhân đó. Nếu hiểu thu nhập và tài sản hợp pháp của cá nhân có được là “bí mật đời tư”, theo tác giả là hoàn toàn sai lầm, bởi đã là thu nhập hợp pháp thì cớ gì phải giấu giếm, phải che đậy không muốn người khác biết. Mỗi người được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp GCNQSD bao nhiêu thửa đất, loại đất; diện tích sử dụng nhà ở bao nhiêu m2, loại nhà ở,… hoàn toàn không thuộc về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật của gia đình người đó. Hơn nữa, Điều 26a Luật Phòng chống tham nhũng năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2012) có quy định về công khai bản kê khai tài sản, mà theo đó, việc công khai bản kê khai tài sản của người có nghĩa vụ kê khai được công khai trong cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi người đó thường xuyên làm việc, như vậy, với đối tượng bắt buộc phải có nghĩa vụ kê khai tài sản theo luật quy định, thì Nhà nước đã xâm phạm “quyền bí mật đời tư” của tất cả họ sao? Cho dù, bà L. không là đối tượng thuộc diện người có nghĩa vụ kê khai tài sản theo Điều 7 Nghị định 78/2013/NĐ-CP ngày 17/7/2013 của Chính phủ, về minh bạch tài sản thu nhập, nhưng tài sản là quyền sử dụng 187 m2 đất bà L. đang là đối tượng của vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất, mà TAND huyện C đang thụ lý và cũng theo bị đơn hồ sơ thể hiện việc sang nhượng diện tích đất mà bà L. cung cấp cho cơ quan chức năng là giả mạo, thì lẽ ra cơ quan có chức năng phải tạo điều kiện hơn nữa để bà N. bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình là mới đúng. Do đó, việc Văn phòng Đăng ký đất đai từ chối yêu cầu của bà N. bằng việc vận dụng Điều 38 BLDS là thiếu cơ sở pháp lý và không thuyết phục, nếu không muốn nói đó là sự thờ ơ, thiếu trách nhiệm, là sự quan liêu của người có thẩm quyền.Tác giả đồng ý với quan điểm này. “Quyền bí mật đời tư” là quyền nhân thân bất khả xâm phạm của cá nhân. Về cơ bản có thể hiểu rằng quyền bí mật đời tư của cá nhân là quyền được bảo vệ về bí mật đời tư, nói cách khác không ai được quyền xâm phạm đến bí mật đời tư của cá nhân khi chưa được phép. Như vậy, có thể thấy rằng “quyền bí mật đời tư” được xây dựng trên khái niệm “bí mật đời tư”. Muốn xác định được phạm vi của “quyền bí mật đời tư” đòi hỏi chúng ta phải xác định khái niệm về “bí mật đời tư” là gì.Quy định về “quyền bí mật đời tư” đã được đề cập tới ngay trong bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta. Theo đó, Hiến pháp 1946 có quy định: “Tư pháp chưa quyết định thì không được bắt bớ và giam cầm công dân Việt Nam. Nhà ở và thư tín của công dân Việt Nam không ai được xâm phạm một cách trái pháp luật”. Điều này đã cho thấy rằng, từ khi mới thành lập, Nhà nước ta đã quan tâm và bảo vệ cho quyền riêng tư của công dân. Trải qua các thời kỳ phát triển khác nhau, các bản Hiến pháp của nước ta vẫn giữ quy định về việc bảo đảm quyền riêng tư của cá nhân với phạm vi bảo vệ ngày càng mở rộng hơn. Tuy nhiên, có thể thấy rằng các bản Hiến pháp này chỉ quy định việc bảo vệ bí mật đời tư của công dân đối với thư tín, điện thoại, điện tín mà thôi, tức là phạm vi quyền bí mật đời tư còn tương đối hẹp. Đến Hiến pháp năm 2013, quyền bí mật đời tư của cá nhân đã được tiếp cận theo cách khác, mà theo đó, như Điều 21 Hiến pháp năm 2013 mà tác giả đã trích dẫn ở phần trên. Hiến pháp 2013 đã mở rộng hơn rất nhiều đối với quyền bí mật đời tư, theo đó không chỉ bao gồm thư tín, điện thoại, điện tín mà tất cả các vấn đề về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình đều được pháp luật bảo vệ.Tiếp thu quan điểm tiến bộ này, Bộ luật Dân sự năm 2015 (sẽ có hiệu lực từ ngày 01/01/2017), mà theo đó, Điều 38 có quy định về quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, như sau:“1. Đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ.2. Việc thu thập, lưu giữ, sử dụng, công khai thông tin liên quan đến đời sống riêng tư, bí mật cá nhân phải được người đó đồng ý, việc thu thập, lưu giữ, sử dụng, công khai thông tin liên quan đến bí mật gia đình phải được các thành viên gia đình đồng ý, trừ trường hợp luật có quy định khác.3. Thư tín, điện thoại, điện tín, cơ sở dữ liệu điện tử và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của cá nhân được bảo đảm an toàn và bí mật.Việc bóc mở, kiểm soát, thu giữ thư tín, điện thoại, điện tín, cơ sở dữ liệu điện tử và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác chỉ được thực hiện trong trường hợp luật quy định.4. Các bên trong hợp đồng không được tiết lộ thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình của nhau mà mình đã biết được trong quá trình xác lập, thực hiện hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.”Tham khảo, quy định của pháp luật một số quốc gia trên thế giới, có thể thấy rằng “quyền bí mật đời tư” được hầu hết các nước thừa nhận với tên gọi và phạm vi khác nhau. Chẳng hạn:BLDS Pháp ghi nhận mọi người đều có quyền được tôn trọng đời tư của mình và quyền riêng tư này được pháp luật bảo vệ bằng nhiều hình thức khác nhau. Tuy nhiên, giống như BLDS Việt Nam, BLDS Pháp không có quy định hướng dẫn cụ thể về khái niệm cũng như phạm vi những quyền riêng tư này như thế nào. Ngày 13/4/1988, Tòa án tối cao Pháp đã có phán quyết giải thích về phạm vi của quyền riêng tư, theo đó thì đời sống riêng tư của một người bao gồm: Đời sống tình cảm, bạn bè, gia đình, sinh hoạt hằng ngày, quan điểm chính trị, công việc làm ăn hay tư tưởng tôn giáo và tình trạng sức khỏe. Hiểu một cách chung nhất quyền riêng tư cho phép mọi người không phân biệt giai cấp, độ tuổi hay tài chính chống lại hành vi xâm phạm mà không được sự cho phép của họ. Như vậy, có thể thấy rằng theo BLDS Pháp thì quyền riêng tư của mọi cá nhân là như nhau. Đồng thời phạm vi bảo vệ quyền riêng tư của cá nhân là rất rộng, bao gồm các thông tin được đưa ra cả tại nơi công cộng lẫn nơi riêng tư của cá nhân. Tuy nhiên, nếu như cá nhân chủ động công bố những thông tin đó thì sẽ không được coi là bí mật đời tư nữa.Hiến pháp Nhật tại Điều 13 ghi nhận rằng công dân có quyền sống, tự do và theo đuổi hạnh phúc và được tôn trọng với tư cách là một công dân. Đây là quy định làm nền tảng cho những quy định của pháp luật chuyên ngành về quyền bí mật đời tư như: Công dân không được phép xây nhà có thể nhìn vào nhà của người khác, nghiêm cấm nhìn ngó nơi cư ngụ của người khác hay đọc thư cá nhân của người khác. Năm 2003, Nhật Bản ban hành Luật Bảo vệ những thông tin cá nhân, trong đó quy định những thông tin về cá nhân sẽ được bảo vệ nếu thỏa mãn:a) Liên quan đến đời sống của cá nhân;b) Có thể dùng để xác định, phân biệt một công dân.Tòa án Nhật Bản đã giải thích quyền về bí mật đời tư của cá nhân, bao gồm: i) Quyền không bị công bố thông tin cá nhân nếu không có lý do chính đáng; ii) Quyền quyết định đối với thông tin cá nhân. Cũng theo Tòa án Nhật Bản, để xác định có sự vi phạm về quyền bí mật đời tư hay không phải đảm bảo các yêu cầu sau: i). Có liên quan đến đời sống riêng tư của cá nhân. ii). Cá nhân đó có mong muốn giữ bí mật. iii). Không phải là thông tin, hiểu biết công cộng. iv). Gây ảnh hưởng nặng nề đối với cá nhân nếu bị xâm phạm.Hội đồng Calcutt ở Vương quốc Anh cho rằng: “không nơi nào chúng ta có thể tìm thấy một định nghĩa hoàn toàn thỏa đáng về quyền riêng tư”. Nhưng Hội đồng này đã hài lòng với định nghĩa sau: Quyền riêng tư là các quyền của cá nhân được bảo vệ để chống lại sự xâm nhập vào đời sống cá nhân hay công việc của mình (hoặc những người trong gia đình) bằng các phương tiện vật lý trực tiếp hoặc bằng cách công bố thông tin.Như vậy, nhìn chung có thể thấy rằng pháp luật các quốc gia trên thế giới cũng nhìn nhận “quyền bí mật đời tư” dưới góc độ bảo vệ cho những thông tin liên quan đến đời sống riêng tư của cá nhân mà người đó có mong muốn được giữ bí mật. Trong trường hợp người đó chủ động công bố thông tin thì sẽ không được coi là bí mật đời tư và sẽ không được pháp luật bảo vệ nếu như những thông tin này được người khác sử dụng[1].Kiến nghịTừ những phân tích trên, tác giả đề xuất hai kiến nghị sau:Thứ nhất, về nguyên tắc luật, “Quyền bí mật đời tư” là không đồng nhất với khái niệm “Quyền riêng tư”. Quyền riêng tư cũng liên quan đến cá nhân, tuy nhiên những vấn đề thuộc về riêng tư xét ở khía cạnh nào đó lại không được coi là bí mật, mặc dù pháp luật vẫn bảo hộ những quyền này. Bất cứ cá nhân nào cũng có sự tự do trong suy nghĩ, hành động – đây là sự “riêng tư” của chính họ. Lẽ dĩ nhiên, nếu là sự tự do trong suy nghĩ thì vấn đề không có gì phức tạp, bởi không ai có thể bắt người khác phải suy nghĩ theo ý muốn của mình. Ngược lại, nếu là sự tự do trong hành động thì điều đó còn phụ thuộc vào các yếu tố khác như luật pháp, quan hệ với những người xung quanh, sự tác động của phong tục tập quán, thói quen…Có thể thấy, pháp luật nói chung, pháp luật Việt Nam nói riêng luôn tôn trọng sự riêng tư của cá nhân (quyền bất khả xâm phạm chỗ ở, quyền lựa chọn công việc cho phù hợp với khả năng và điều kiện của bản thân, quyền tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng…). Như vậy, để có thể hiểu được “Quyền bí mật đời tư” thì phải xây dựng được khái niệm “bí mật đời tư”. Và việc xây dựng khái niệm “bí mật đời tư” phải xác định được hai khái niệm cũng như sự liên kết của hai khái niệm, đó là khái niệm “bí mật” và khái niệm “đời tư”. Theo quan điểm của tác giả, tính “bí mật” trong khái niệm “bí mật đời tư” chỉ mang tính tương đối. Điều này có nghĩa là, cùng một nội dung vụ việc có tính chất như nhau, đối với người này có thể là bí mật, nhưng đối với người khác thì đây chỉ là một thông tin bình thường, có thể công bố rộng rãi và cá nhân có mong muốn giữ bí mật đối với những thông tin đó không. Do vậy, theo quan điểm đề xuất của tác giả, “Bí mật đời tư” thực chất là những thông tin liên quan đến cuộc sống của một cá nhân nhất định mà cá nhân đó thấy rằng cần thiết và mong muốn giữ bí mật.  “Quyền bí mật đời tư” và “quyền được bảo đảm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân” là giống nhau về bản chất, đều là sự bảo vệ đối với những thông tin liên quan đến cuộc sống riêng của cá nhân.Thứ hai, phạm vi những thông tin thuộc về “bí mật đời tư” của mỗi cá nhân.Vấn đề đặt ra, có phải mọi thông tin thuộc về cá nhân mà cá nhân muốn giữ bí mật sẽ trở thành “bí mật đời tư” và được pháp luật bảo vệ. Vấn đề này hiện đang có hai quan điểm sau:- Quan điểm thứ nhất cho rằng, những thông tin muốn được coi là “bí mật đời tư” phải là những thông tin hợp pháp. Bởi lẽ, đối với những thông tin trái pháp luật hay đạo đức xã hội thì pháp luật sẽ không bảo vệ, và như vậy sẽ không được coi là “bí mật đời tư” được.- Quan điểm thứ hai, không nên quá cứng nhắc mà nên có sự linh hoạt để áp dụng vào từng trường hợp cụ thể. Ví dụ, trường hợp con đánh bố mẹ, hay chồng hành hạ vợ, thì dù có là vấn đề riêng tư, cá nhân, thì xã hội, các tổ chức đoàn thể địa phương và những người xung quanh cũng không thể không can thiệp và lên tiếng, vì đó là hành vi bất hợp pháp. Tuy nhiên, với một trẻ em dưới 14 tuổi mà bị dâm ô hoặc bị người thành niên giao cấu, việc dư luận xã hội lên án đối tượng hiếp dâm, báo chí phanh phui sự việc là đương nhiên, nhưng không vì thế mà làm tổn thương thêm danh dự, nhân phẩm của đứa bé đó, kể cả trường hợp nạn nhân có sự “đồng tình” đi chăng nửa, thì phải xác định được rằng, do sự hạn chế về mặt nhận thức của một đứa trẻ chưa đến tuổi trưởng thành. Vì vậy, theo quy định tại Điều 116 và Điều 115 BLHS hiện hành, người thực hiện hành vi phạm tội phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự, khi xét xử, căn cứ quy định tại ý 2 Điều 18 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, Tòa án xét xử kín, nhưng tuyên án công khai. Thực hiện đúng quy định này là cần thiết, nhằm bảo vệ lợi ích cho nạn nhân, vì nó có thể còn liên quan đến lợi ích của họ sau này nữa.Người viết đồng ý với quan điểm này, có nghĩa cần linh động trong việc xác định thông tin nào được cho là “bí mật đời tư”. Có nghĩa là về nguyên tắc thì không phải mọi thông tin về đời sống riêng tư mà cá nhân không muốn công khai sẽ trở thành “bí mật đời tư” mà muốn được pháp luật bảo vệ thì những thông tin này phải hợp pháp. Tuy nhiên, để xác định “tính hợp pháp” này phải căn cứ vào từng trường hợp, hoàn cảnh sự việc cụ thể, mà ưu tiên hàng đầu đặt ra là bảo vệ tốt nhất cho quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân người trong cuộc. Th.S Lê Văn Sua   [1] https://kieuanhvu.wordpress.com/2015/09/09/quyen-bi-mat-doi-tu-trong-bo-luat-dan-su/  

Đặt câu hỏi

Họ tên:
Email:
Điện thoại:
Tiêu đề:
Nội dung:

Tư vấn pháp luật