Bài viết cho Hội thảo: “Chương trình lập pháp của Quốc hội khóa XIV và việc triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013”; hội thảo được tổ chức tại Cửa Lò, Nghệ An, ngày 01/7/2016. 1. Luật Ban hành văn bản Quy phạm pháp luật năm 2015 (Luật Ban hành VBQPPL 2015) đã được Quốc hội khóa XIII thông qua tại kỳ họp thứ 9, và có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2016. Một trong những điểm mới đáng chú ý liên quan đến quy trình chính sách là quy định về yêu cầu xây dựng nội dung chính sách (Điều 34), và báo cáo đánh giá tác động chính sách của dự án luật, pháp lệnh (Điều 35). Lần đầu tiên, giai đoạn xây dựng chính sách chính thức được đưa vào quy trình xây dựng luật, pháp lệnh, và sẽ tác động trực tiếp đến chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội khóa XIV. Tuy nhiên, vẫn còn một số vấn đề cần làm rõ về thẩm quyền “thông qua chính sách” của các chủ thể trong quá trình hoạch định chính sách, pháp luật. 2. Trước hết, theo quy định của Hiến pháp năm 2013 (Điều 70) và Luật Ban hành VBQPPL 2015 (Điều 15, Điều 31 và Điều 32), chính sách vừa là cơ sở ban hành, lại vừa là nội dung quan trọng của dự luật. Quốc hội có vai trò thông qua luật và quyết định các chính sách cơ bản, quan trọng của đất nước. Mặc dù Chính phủ cũng có thể ban hành chính sách trong phạm vi quyền hạn theo luật định, nhưng Quốc hội đóng vai trò rất quan trọng trong việc quyết định chính sách, bởi vì Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân cả nước. Việc Quốc hội thảo luận, quyết định chính sách cơ bản còn đảm bảo tính dân chủ trong quá trình xây dựng, ban hành và thực thi chính sách. 3. Theo Điều 32 Luật 2015, Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước, Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và cơ quan trung ương của tổ chức thành viên của Mặt trận có quyền trình dự án luật trước Quốc hội, trình dự án pháp lệnh trước Ủy ban thường vụ Quốc hội. Điều 32, Điều 33 thì quy định Đại biểu quốc hội có quyền kiến nghị và đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh. Trong thực tế hoạt động xây dựng chính sách, pháp luật ở nước ta hiện nay, Chính phủ và các bộ ngành thường là cơ quan tham gia trình phần lớn các đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, do đặc thù là cơ quan thực thi chính sách, pháp luật với rất nhiều kinh nghiệm, cũng như nguồn lực để làm tốt công việc này. 4. Tuy nhiên, vấn đề cần cân nhắc là, theo Điều 41, khi xem xét thông qua đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh do Chính phủ trình, thì Chính phủ cũng đã “biểu quyếtthông qua chính sách trong từng đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh”. Đồng thời ghi rõ, “Chính phủ ra Nghị quyết về đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh với các chính sách đã được thông qua”. Mặc dù việc Luật Ban hành VBQPPL 2015 lồng ghép các bước xây dựng chính sách và đánh giá tác động của chính sách vào trong quy trình xây dựng luật, pháp lệnh là một bước tiến quan trọng, nhưng những quy định nói trên, vô hình trung, đã trao cho Chính phủ thẩm quyền “thông qua chính sách” trong các dự án luật, pháp lệnh do chính các cơ quan thuộc Chính phủ đề xuất, thường với số lượng lớn, ngay cả khi dự án luật, pháp lệnh chưa được Quốc hội thảo luận thông qua. Việc chính sách của dự án luật, pháp lệnh được Chính phủ thông qua trước khi dự luật, pháp lệnh được quyết định đưa vào nghị trình sẽ làm giảm rất nhiều vai trò của Quốc hội. Bởi vì, chính sách chính là cơ sở xây dựng, và cũng là nội dung quan trọng của các dự án luật, pháp lệnh. Nếu vấn đề này không được Quốc hội làm rõ, thì ít nhất, về mặt pháp lý, khi Luật Ban hành VBQPPL 2015 có hiệu lực, Chính phủ mới là cơ quan có ảnh hưởng nhất đến việc quyết định chính sách ở nước ta. 5. Cùng với đó, theo Điều 45, khi xem xét thông qua đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh không do Chính phủ trình, thì Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và cơ quan trung ương của tổ chức thành viên của Mặt trận thảo luận và “biểu quyết thông qua chính sách” trong đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh. Đối với Chủ tịch nước, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng kiểm toán nhà nước khi xem xét thông qua đề nghị xây dựng luật pháp lệnh thì không thấy có quy định về thẩm quyền “thông qua chính sách”. Tương tự, khi Đại biểu Quốc hội quyết định trình đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh thì cũng không có quy định gì về việc “thông qua chính sách”  trong hồ sơ đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh. Như vậy, thay vì việc Quốc hội là cơ quan quyết định các chính sách cơ bản, quan trọng của đất nước, mà phần nhiều được thể hiện trong các đạo luật, thì theo Luật Ban hành VBQPPL 2015, từ 01/07/2016, Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và cơ quan trung ương của tổ chức thành viên của Mặt trận lại được trao cho thẩm quyền “thông qua chính sách” của những dự luật, pháp lệnh do các cơ quan này trình. Căn cứ vào các quy định nêu trên (Điều 41, Điều 45), có thể hiểu Quốc hội không chỉ “ủy quyền” cho Chính phủ, các cơ quan của Quốc hội, mà còn “ủy quyền” cho Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và cơ quan trung ương của tổ chức thành viên của Mặt trận quyền được quyết định thông qua chính sách công, một thẩm quyền cần phải nghiên cứu xem xét lại. 6. Thêm nữa, tại khoản 5, Điều 5 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 – quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành VBQPPL 2015 – có yêu cầu “xác định thẩm quyền ban hành chính sách”. Tuy nhiên, quy định này lại được hiểu là việc cân nhắc, lựa chọn thẩm quyền/giải pháp ban hành luật, hoặc pháp lệnh, hoặc các giải pháp chính sách khác; và quy định này vẫn thống nhất chứ không làm thay đổi tinh thần nội dung quy định tại Luật Ban hành VBQPPL 2015. Theo Điều 55 Luật Ban hành VBQPPL 2015, và Điều 31 Nghị định số 34, thì trong quá trình soạn thảo, thẩm định, thẩm tra, dự thảo luật, pháp lệnh, nếu có chính sách mới được đề xuất thì đối với văn bản do Chính phủ trình, cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm báo cáo Chính phủ; đối với văn bản không do Chính phủ trình, Bộ Tư pháp có trách nhiệm phối hợp với cơ quan thẩm tra để kịp thời báo cáo Chính phủ. Điều này thể hiện tính nhất quán của quy định về thẩm quyền “thông qua chính sách”  như đã nói trên, trong đó đã nhấn mạnh vai trò của Chính phủ trong công đoạn làm chính sách của dự án luật, pháp lệnh. Nói cách khác, giai đoạn xây dựng chính sách mới được đưa vào quy trình xây dựng luật, pháp lệnh theo Luật Ban hành VBQPPL 2015 chủ yếu đề cao vai trò thông qua chính sách của Chính phủ và một số cơ quan khác đã nêu trên. Những quan điểm ủng hộ quy định này dựa trên thực tế Chính phủ có nhiều kinh nghiệm thực tiễn trong điều hành, thực thi chính sách pháp luật, nên các đề xuất chính sách từ chính phủ có tính khả thi cao, từ đó cho rằng Chính phủ có vai trò, thẩm quyền thông qua chính sách. Hệ lụy từ quy định mới này, là Quốc hội sẽ chỉ tập trung vào công đoạn soạn thảo, làm luật mà không phải cơ quan thông qua chính sách trong các dự án luật, pháp lệnh; Chính phủ thông qua chính sách, còn Quốc hội thông qua luật. Như vậy, sẽ khó đạt được mục tiêu hoàn thiện quy trình hoạch định chính sách và xây dựng luật, pháp lệnh nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của Quốc hội theo Luật Ban hành VBQPPL hiện hành. 7. Một trong những giải pháp cho vấn đề này, là Quốc hội khóa XIV nên sớm giải thích, hoặc đưa vào chương trình xây dựng luật, pháp lệnh lộ trình sửa đổi, bổ sung một số quy định trong Luật Ban hành VBQPPL 2015 đã cho phép Chính phủ và các cơ quan nói trên quyền “thông qua chính sách”. Trên thực tế, chỉ nên hiểu đây là các “đề xuất chính sách” mà phía các cơ quan trình đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh thấy cần ưu tiên lựa chọn. Do đó, không nên quy định Chính phủ và các cơ quan trên có thẩm quyền “thông qua chính sách” trong các dự án luật, pháp lệnh, mà chỉ là thông qua (hay chọn lựa) các “đề xuất chính sách”. Việc quyết định lựa chọn biện pháp chính sách và thẩm quyền thông qua chính sách trong các dự án luật cần phải thuộc về Quốc hội, được thực hiện đồng thời với việc thông qua dự án luật tại phiên họp toàn thể, để đảm bảo Quốc hội là cơ quan quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước. 8. Việc sửa đổi nhỏ này sẽ có tác động lớn, vì làm thay đổi tính chất, vai trò của các chủ thể tham gia vào quá trình hoạch định chính sách nói chung và quy trình xây dựng luật, pháp lệnh nói riêng. Khi Chính phủ chỉ lựa chọn và đề xuất một số giải pháp chính sách mà chưa phải quyết định chính thức, thì các nhà soạn thảo luật, các cơ quan thẩm tra của Quốc hội và đại biểu Quốc hội có thể tiếp tục thảo luận, sửa đổi, bổ sung và góp phần làm cho quá trình hoạch định chính sách đảm bảo chất lượng tốt hơn, tránh nguy cơ “vừa đá bóng, vừa thổi còi” trong xây dựng và thực thi chính sách ở nước ta, theo Luật Ban hành VBQPPL 2015. Xa hơn nữa, cần xây dựng lộ trình để diễn đàn Quốc hội là nơi thảo luận chính sách của dự án luật, mà không quá tập trung vào những vấn đề thuộc về kỹ thuật lập pháp hay “làm văn tập thể”. Nguyễn Anh Phương Tài liệu tham khảo: 1.   Hiến pháp năm 2013. 2.   Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014. 3.   Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015. 4.   Nghị định số 34/2016/NĐ-CP, ngày 14/5/2016 Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành VBQPPL 2015. 5.   Nguyễn Anh Phương (2016), “Quy trình chính sách và phân tích chính sách trong hoạt động lập pháp ở Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 02+03 (306+307), tr. 80-90.    
Dụng cụ chỉnh hình – phục hồi chức năng (CH-PHCN) có vai trò rất quan trọng đối với người khuyết tật vận động. Bởi vì các dụng cụ này hỗ trợ người khuyết tật có thể đi lại dễ dàng hơn, cải thiện các chức năng của cơ thể bị mất hoặc suy giảm, giảm thiểu những biến dạng của cơ thể sau các vấn đề về bệnh lý hoặc tai nạn.
Bình đẳng giới là một trong những chủ đề ưu tiên trong chính sách phát triển, đặc biệt đối với các nước đang phát triển. Mục tiêu thứ ba trong Các mục tiêu thiên niên kỷ chính là thúc đẩy bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ.
Chế độ tài sản (CĐTS) thỏa thuận đã từng tồn tại trong lịch sử lập pháp của Việt Nam thời cận đại với tên gọi “Hợp đồng hôn nhân” hay “khế ước hôn nhân”- hôn khế[1]. Thuật ngữ này không còn xuất hiện trong các Luật Hôn nhân và gia đình (Luật HN&GĐ) Việt Nam năm 1959, 1986, 2000. Luật HN&GĐ năm 2014 ghi nhận sự trở lại của CĐTS này với một số quy định. Mặc dù chỉ dừng lại ở một số lượng khiêm tốn, song các nhà làm luật Việt Nam đã bắt đầu quan tâm đến việc áp dụng CĐTS thỏa thuận trong việc giải quyết hậu quả pháp lý của việc chấm dứt quan hệ tài sản (QHTS) của vợ chồng. Bài viết trả lời hai câu hỏi: Thứ nhất, thế nào là CĐTS thỏa thuận giữa vợ và chồng? và thứ hai, vấn đề áp dụng CĐTS thỏa thuận trong giải quyết hậu quả pháp lý của việc chấm dứt QHTS giữa vợ và chồng như thế nào? 1. Chế độ tài sản thỏa thuận giữa vợ và chồng theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 CĐTS giữa vợ chồng là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh về (sở hữu) tài sản của vợ chồng, bao gồm các quy định về căn cứ xác lập quyền sở hữu tài sản, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng, các trường hợp và nguyên tắc chia tài sản giữa vợ và chồng[2]… CĐTS pháp định (CĐTS theo luật định) là CĐTS duy nhất được pháp luật Việt Nam thừa nhận cả trong Luật HN&GĐ Việt Nam năm 1959, 1987 và Luật năm 2000; vợ chồng không thể thỏa thuận để xác lập một CĐTS trong hôn nhân khác với CĐTS pháp định. Luật HN&GĐ năm 2014 với hàng loạt những thay đổi quan trọng, mà sự thay đổi có thể nói mang tính cách mạng nhất là sự ghi nhận CĐTS thỏa thuận. CĐTS thỏa thuận (hay còn gọi là CĐTS ước định), là tập hợp các quy tắc do chính vợ, chồng xây dựng nên một cách hệ thống trên cơ sở sự cho phép của pháp luật để thay thế cho CĐTS luật định nhằm điều chỉnh QHTS của vợ chồng. Các quy định về CĐTS thỏa thuận của vợ chồng hiện nay khá khiêm tốn, chỉ gói gọn trong các Điều 47, 48, 49, 50 và 59 Luật HN&GĐ năm 2014. Ngoài ra, CĐTS này cũng được hướng dẫn bởi 4 điều (Điều 15, 16, 17, 18) của Nghị định số 126/CP của Chính phủ ban hành ngày 31/12/2014 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật HN&GĐ năm 2014 và một số hướng dẫn cụ thể trong Thông tư liên tịch số 01/TTLT- TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật HN&GĐ năm 2014. Các quy định này đề cập đến các khía cạnh của CĐTS thỏa thuận (như: việc xác lập CĐTS, sửa đổi CĐTS, tuyên bố vô hiệu và chấm dứt CĐTS). 2. Áp dụng chế độ tài sản thỏa thuận trong giải quyết hậu quả pháp lý của việc chấm dứt quan hệ tài sản giữa vợ và chồng 2.1. Tuyên bố vô hiệu chế độ tài sản thỏa thuận 2.1.1. Các trường hợp bị tuyên bố vô hiệu Thỏa thuận giữa vợ và chồng về CĐTS, dù hiện nay pháp luật chưa quy định chính thức là một hợp đồng, nhưng về nguyên tắc là một loại giao dịch. Và với tư cách là một loại giao dịch, các thỏa thuận này phải tuân thủ những điều kiện nhất định để phát sinh hiệu lực. Theo quy định tại Điều 50 Luật HN&GĐ năm 2014: “1. Thỏa thuận về CĐTS của vợ chồng bị Tòa án tuyên bố vô hiệu khi thuộc một trong các trường hợp sau đây: a) Không tuân thủ điều kiện có hiệu lực của giao dịch được quy định tại Bộ luật Dân sự (BLDS) và các luật khác có liên quan; b) Vi phạm một trong các quy định tại các Điều 29, 30, 31 và 32 của Luật này; c) Nội dung của thỏa thuận vi phạm nghiêm trọng quyền được cấp dưỡng, quyền được thừa kế và quyền, lợi ích hợp pháp khác của cha, mẹ, con và thành viên khác của gia đình. 2. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn khoản 1 Điều này”. Như vậy, với quy định này có thể thấy có ba lý do để Tòa án có thể tuyên bố vô hiệu đối với một thỏa thuận về CĐTS giữa vợ và chồng. Về lý do thứ nhất, không tuân thủ điều kiện có hiệu lực của giao dịch được quy định tại BLDS và các luật khác có liên quan. Theo quy định tại Điều 122 BLDS năm 2005[3] thì:  Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây: a) Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự; b) Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội; c) Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện. 2. Hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp pháp luật có quy định. Áp dụng quy định trên có thể hình dung khả năng một thỏa thuận về CĐTS giữa vợ và chồng sẽ bị tuyên bố vô hiệu trong các trường hợp: Thứ nhất, nếu một trong hai bên vợ chồng chưa đủ tuổi kết hôn ở thời điểm xác lập thỏa thuận hoặc bị mất năng lực hành vi dân sự ở thời điểm thỏa thuận thì thỏa thuận sẽ bị tuyên bố vô hiệu. Trường hợp này được dẫn trên cơ sở có sự kết hợp giữa các quy định của BLDS và Luật HN&GĐ về điều kiện kết hôn. Luật HN&GĐ không yêu cầu cụ thể về điều kiện năng lực hành vi của các bên tham gia thỏa thuận về CĐTS, nên chúng tôi cho rằng, một cách hợp lý, người được xem là đáp ứng yêu cầu về năng lực hành vi để kết hôn thì có quyền xác lập thỏa thuận về CĐTS. Mà theo các quy định về điều kiện kết hôn tại khoản 1 Điều 8 Luật HN&GĐ thì: “1. Nam, nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây: a) Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên; b) Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định; c) Không bị mất năng lực hành vi dân sự; d) Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 của Luật này”. Thứ hai, cũng theo quy định trên, thỏa thuận về CĐTS giữa vợ chồng sẽ bị tuyên bố vô hiệu nếu tại thời điểm xác lập, một hoặc hai bên ở trong tình trạng không có sự tự nguyện (bị đe dọa, lừa dối, nhầm lẫn). Vấn đề về sự lừa dối, nhầm lẫn hay đe dọa được xác định theo quy định của Bộ luật Dân sự. Như vậy, trên cơ sở quy định trên, nếu việc kết hôn bị tuyên bố hủy do vi phạm điều kiện về độ tuổi, hay điều kiện về sự tự nguyện thì thỏa thuận về CĐTS giữa vợ và chồng cũng bị tuyên bố vô hiệu theo. Thứ ba, về hình thức, theo quy định tại khoản 2 Điều 122 nêu trên thì khi có vi phạm điều kiện về hình thức, Tòa án chỉ tuyên bố vô hiệu giao dịch nếu pháp luật có quy định “hình thức của giao dịch là điều kiện có hiệu lực của giao dịch”. Mặc dù Điều 47 Luật HN&GĐ có quy định rằng: “Trong trường hợp hai bên kết hôn lựa chọn CĐTS theo thỏa thuận thì thỏa thuận này phải được lập trước khi kết hôn, bằng hình thức văn bản có công chứng hoặc chứng thực”. Tuy nhiên, quy định này không nói rằng việc lập thành văn bản có công chứng, chứng thực là điều kiện có hiệu lực của thỏa thuận về CĐTS giữa vợ và chồng. Cho nên, áp dụng các quy định hiện hành này, nếu vi phạm quy định về hình thức thì Tòa án không thể tuyên bố vô hiệu thỏa thuận về CĐTS giữa và vợ chồng. Theo chúng tôi, cần quy định rõ rằng các yêu cầu về hình thức đối với CĐTS thỏa thuận (về việc công chứng thỏa thuận, thời điểm xác lập) là một điều kiện có hiệu lực của thỏa thuận về CĐTS giữa vợ và chồng vì hơn bất kỳ một loại giao dịch dân sự nào, CĐTS thỏa thuận đóng vai trò quan trọng không những đối với các bên vợ, chồng mà còn đối với người thứ ba. Do vậy, các yêu cầu nghiêm ngặt về hình thức là thật sự cần thiết[4]. Lý do thứ hai, thỏa thuận về CĐTS của vợ chồng vi phạm một trong các quy định tại các Điều 29, 30, 31 và 32 của Luật HN&GĐ năm 2014. Các quy định tại Điều 29, 30, 31, 32 Luật HN&GĐ năm 2014 tạo thành một CĐTS cơ sở mà dù là CĐTS thỏa thuận hay CĐTS theo luật định cũng phải tuân thủ. Vi phạm một trong các nguyên tắc này thì thỏa thuận về CĐTS sẽ bị tuyên bố vô hiệu. Có thể lấy ví dụ nguyên tắc “vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ thực hiện giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình. Trong trường hợp vợ chồng không có tài sản chung hoặc tài sản chung không đủ để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình thì vợ, chồng có nghĩa vụ đóng góp tài sản riêng theo khả năng kinh tế của mỗi bên”. Nguyên tắc này rất quan trọng trong việc đảm bảo duy trì các điều kiện hỗ trợ cho sự tồn tại của gia đình. Theo đó, nếu trong thỏa thuận về CĐTS giữa vợ và chồng có quy định cho rằng “trong thời kỳ hôn nhân chỉ có người chồng có nghĩa vụ đóng góp thu nhập duy trì đời sống chung của gia đình” thì thỏa thuận đó sẽ vô hiệu. Lý do thứ ba, nội dung của thỏa thuận vi phạm nghiêm trọng quyền được cấp dưỡng, quyền được thừa kế và quyền, lợi ích hợp pháp khác của cha, mẹ, con và thành viên khác của gia đình. Lý do này giúp bảo vệ các chủ thể có liên quan khỏi các thỏa thuận giữa vợ và chồng trong trường hợp các thỏa thuận này tác động theo hướng bất lợi đối với họ. Chúng tôi cho rằng, trên thực tế các thỏa thuận giữa vợ và chồng về CĐTS có thể tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến quyền lợi của các chủ thể có liên quan trong cấp dưỡng hoặc thừa kế[5]... Và theo chúng tôi, dù tác động trực tiếp hay gián tiếp, nếu có những thỏa thuận giữa vợ và chồng vi phạm nghiêm trọng quyền được cấp dưỡng hay quyền được thừa kế... của cha, mẹ, con và các thành viên khác của gia đình, thì thỏa thuận đó phải bị vô hiệu. Theo hướng dẫn tại khoản 2 Điều 6 Thông tư liên tịch số 01/TTLT- TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 thì: “Nội dung của thỏa thuận về CĐTS của vợ chồng bị vô hiệu do vi phạm nghiêm trọng quyền được cấp dưỡng, quyền được thừa kế và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của cha, mẹ, con và các thành viên khác của gia đình quy định tại điểm c khoản 1 Điều 50 của Luật HN&GĐ là trường hợp thỏa thuận đó nhằm trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng quy định từ Điều 110 đến Điều 115 của Luật HN&GĐ hoặc để tước bỏ quyền thừa kế của những người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc theo quy định của BLDS hoặc vi phạm các quyền, lợi ích hợp pháp của cha, mẹ, con và các thành viên khác của gia đình đã được Luật HN&GĐ và pháp luật khác có liên quan quy định”. 2.1.2. Hiệu lực của tuyên bố vô hiệu đối với thỏa thuận về chế độ tài sản giữa vợ và chồng        Về thẩm quyền tuyên bố vô hiệu, hiện tại trong Luật HN&GĐ năm 2014 không có quy định cụ thể về thẩm quyền tuyên bố vô hiệu. Tuy nhiên, theo chúng tôi, với tư cách là một giao dịch dân sự, thì chỉ Tòa án mới có thẩm quyền tuyên bố vô hiệu đối với thỏa thuận này của vợ chồng. Hướng dẫn của Thông tư liên tịch số 01 nêu trên cũng đã khẳng định suy luận này[6].        Về hậu quả pháp lý của việc tuyên bố vô hiệu, theo quy định tại khoản 2 Điều 50 Luật HN&GĐ năm 2014: “Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn khoản 1 Điều này”. Và Thông tư liên tịch số 01 đã có hướng dẫn: “Thỏa thuận về CĐTS của vợ chồng có thể bị Tòa án tuyên bố vô hiệu toàn bộ hoặc vô hiệu một phần. a) Trường hợp thỏa thuận về CĐTS của vợ chồng bị Tòa án tuyên bố vô hiệu toàn bộ thì CĐTS của vợ chồng theo luật định được áp dụng. b) Trường hợp thỏa thuận về CĐTS của vợ chồng bị tuyên bố vô hiệu một phần thì các nội dung không bị vô hiệu vẫn được áp dụng; đối với phần nội dung bị vô hiệu thì các quy định tương ứng về CĐTS của vợ chồng theo luật định được áp dụng”. Trên cơ sở các quy định này về CĐTS thỏa thuận và vấn đề tuyên bố vô hiệu đối với thỏa thuận giữa vợ và chồng về CĐTS này, chúng tôi cho rằng, việc tuyên bố vô hiệu cũng như các hậu quả pháp lý của tuyên bố vô hiệu được xây dựng trên cơ sở các quy tắc của luBộ luật Dân sự. Cụ thể, theo quy định tại Điều 131 BLDS năm 2015: “1. Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập. 2. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả....”. Như vậy, một khi thỏa thuận về CĐTS giữa vợ và chồng bị tuyên bố vô hiệu thì thỏa thuận này không phát sinh hiệu lực ngay từ thời điểm xác lập. Điều này dẫn đến kết quả là phải lựa chọn một trong hai giải pháp, thứ nhất QHTS giữa vợ vàchồng không được điều chỉnh bởi bất kỳ quy tắc nào, thứ hai vì CĐTS thỏa thuận không tồn tại ngay từ thời điểm xác lập quan hệ hôn nhân (QHHN) nên CĐTS theo luật định được áp dụng. Chúng tôi cho rằng, giải pháp thứ hai đã được đề cập trong Thông tư liên tịch số 01 đã nêu là hợp lý, bởi vì không thể có tình trạng không tồn tại quan hệ pháp luật giữa vợ và chồng về QHTS. Hơn thế nữa, trong trường hợp thỏa thuận giữa vợ chồng về CĐTS bị tuyên bố vô hiệu, các bên cũng không thể thỏa thuận lại một CĐTS thỏa thuận khác vì: “Trong trường hợp hai bên kết hôn lựa chọn CĐTS theo thỏa thuận thì thỏa thuận này phải được lập trước khi kết hôn, bằng hình thức văn bản có công chứng hoặc chứng thực. CĐTS của vợ chồng theo thỏa thuận được xác lập kể từ ngày đăng ký kết hôn” (Điều 47 Luật HN&GĐ năm 2014). 2.2. Chấm dứt chế độ tài sản thỏa thuận khi hủy hôn nhân trái pháp luật QHHN sẽ chấm dứt khi rơi vào một trong ba trường hợp sau, vợ (chồng) chết, ly hôn hay hủy hôn nhân trái pháp luật. Trong số ba trường hợp này thì hủy hôn nhân trái pháp luật là trường hợp chấm dứt QHHN bị động và khác biệt về nguyên nhân cũng như ý chí so với hai trường hợp còn lại. Theo quy định tại khoản 6 Điều 3 Luật HN&GĐ năm 2014 thì: “Kết hôn trái pháp luật là việc nam, nữ đã đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng một bên hoặc cả hai bên vi phạm điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 của Luật này”. Và hậu quả pháp lý về QHTS giữa vợ và chồng của việc Tòa án tuyên bố hủy kết hôn trái pháp luật cũng giống như trường hợp quan hệ chung sống như vợ chồng bị Tòa án tuyên bố không công nhận là: “1. QHTS, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn được giải quyết theo thỏa thuận giữa các bên; trong trường hợp không có thỏa thuận thì giải quyết theo quy định của BLDS và các quy định khác của pháp luật có liên quan. 2. Việc giải quyết QHTS phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con; công việc nội trợ và công việc khác có liên quan để duy trì đời sống chung được coi như lao động có thu nhập” (Điều 16 Luật HN&GĐ năm 2014).        Có thể thấy pháp luật không quy định đặc biệt gì liên quan đến việc giải quyết QHTS giữa vợ và chồng trong trường hợp hủy hôn nhân trái pháp luật khi giữa họ tồn tại thỏa thuận về CĐTS giữa vợ và chồng. Đương nhiên là thỏa thuận về CĐTS không thể tiếp tục tồn tại sau khi QHHN giữa vợ và chồng đã bị Tòa án tuyên bố hủy, bởi vì QHTS giữa vợ và  chồng chỉ tồn tại khi tồn tại QHHN - quan hệ vợ chồng. Do đó, câu hỏi đặt ra là liệu các thỏa thuận về QHTS giữa vợ và chồng trong CĐTS thỏa thuận giữa họ có phát sinh hiệu lực khi giải quyết việc chấm dứt QHHN giữa họ? Hay một khi QHHN bị hủy do trái pháp luật thì QHTS giữa vợ và chồng phải được giải quyết theo quy định tại Điều 16 Luật HN&GĐ nêu trên?        Theo chúng tôi, câu trả lời chỉ có thể đến trên cơ sở phân tích và nhận định. Thứ nhất, việc tuyên bố hủy hôn nhân trái pháp luật được Tòa án tiến hành trên cơ sở yêu cầu của một số chủ thể nhất định được chỉ định bởi pháp luật. Việc tuyên bố hủy được tiến hành trên cơ sở quy định của pháp luật, bất chấp ý chí của các bên trong QHHN. Do đó, nó mang ý nghĩa chế tài nhiều hơn là một sự kết thúc QHHN thông thường. Và một khi việc hủy hôn nhân này với ý nghĩa chế tài như vậy, thì việc áp dụng CĐTS thỏa thuận để giải quyết QHTS giữa vợ và chồng là không hợp lý. Thứ hai, các quy định về hủy QHHN trái pháp luật tại Điều 10, 11, 12 Luật H&GĐ năm 2014 về nguyên tắc là áp dụng chung cho những trường hợp hủy hôn nhân trái pháp luật, do đó, nếu không có quy định riêng của pháp luật về việc xử lý QHTS giữa vợ và chồng như thế nào khi hủy QHHN trái pháp luật mà giữa vợ và chồng có CĐTS thỏa thuận, thì một cách hợp lý, theo chúng tôi là sẽ phải áp dụng các quy định chung này.        Tóm lại, dù giữa vợ và chồng có tồn tại CĐTS thỏa thuận, thì khi hủy hôn nhân trái pháp luật, việc xử lý QHTS giữa họ với nhau và trong quan hệ giữa họ với người thứ ba vẫn phải tuân thủ các quy định như hủy QHHN trái pháp luật trong các trường hợp thông thường khác. 2.3. Chấm dứt chế độ tài sản thỏa thuận khi vợ, chồng chết        Theo pháp luật dân sự Cộng hòa Pháp, vợ và chồng luôn là người thừa kế hàng đầu của nhau trong trường hợp một trong hai bên chết. Quyền thừa kế này được xác định tùy thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như có hay không có di chúc, người chết có con hay không, và đặc biệt là vợ, chồng chết trong tình trạng giữa vợ và chồng có thỏa thuận đặc biệt trong việc chia tài sản hay không (thỏa thuận này nằm trong khuôn khổ của hợp đồng hôn nhân đã giao kết giữa họ với nhau).        Khác với luật của Cộng hòa Pháp, ở Việt Nam, việc thừa kế giữa vợ chồng được quy định bởi BLDS, không xem là một phần trong Luật HN&GĐ mặc dù có quan hệ mật thiết với Luật HN&GĐ.        BLDS của Việt Nam được ban hành năm 2005, trong khi CĐTS thỏa thuận được quy định trong Luật HN&GĐ ban hành năm 2014. Vấn đề xử lý việc chấm dứt QHTS giữa vợ và chồng khi một trong hai bên vợ, chồng chết trong tình trạng có tồn tại CĐTS thỏa thuận chắc chắn không được quy định trong BLDS năm 2005, và thật tiếc là BLDS năm 2015 cũng không đề cập đến vấn đề này. Trong khi đó, theo quy định tại Điều 48 Luật HN&GĐ năm 2014: “1. Nội dung cơ bản của thỏa thuận về CĐTS bao gồm: a) Tài sản được xác định là tài sản chung, tài sản riêng của vợ, chồng; b) Quyền, nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng và giao dịch có liên quan; tài sản để bảo đảm nhu cầu thiết yếu của gia đình; c) Điều kiện, thủ tục và nguyên tắc phân chia tài sản khi chấm dứt CĐTS; d) Nội dung khác có liên quan. 2. Khi thực hiện CĐTS theo thỏa thuận mà phát sinh những vấn đề chưa được vợ chồng thỏa thuận hoặc thỏa thuận không rõ ràng thì áp dụng quy định tại các Điều 29, 30, 31 và 32 của Luật này và quy định tương ứng của CĐTS theo luật định”. Và theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 50 thì thỏa thuận giữa vợ chồng về CĐTS sẽ bị tuyên bố vô hiệu khi: “Nội dung của thỏa thuận vi phạm nghiêm trọng quyền được cấp dưỡng, quyền được thừa kế và quyền, lợi ích hợp pháp khác của cha, mẹ, con và thành viên khác của gia đình”. Hai quy định vừa trích dẫn dường như có sự mâu thuẫn nhau. Cụ thể, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 48 cho phép các bên vợ chồng có quyền thỏa thuận và ghi nhận vào CĐTS thỏa thuận các “Điều kiện, thủ tục và nguyên tắc phân chia tài sản khi chấm dứt CĐTS”, mà các trường hợp chấm dứt QHTS bao gồm cả trường hợp một trong hai bên vợ, chồng chết. Trong khi đó Điều 50 lại không cho phép những thỏa thuận “vi phạm quyền thừa kế”, tức quyền thừa kế được ghi nhận bởi BLDS. Ngoài ra, khoản 2 Điều 66 Luật HN&GĐ năm 2014 có quy định rằng: “2. Khi có yêu cầu về chia di sản thì tài sản chung của vợ chồng được chia đôi, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận về CĐTS. Phần tài sản của vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết được chia theo quy định của pháp luật về thừa kế”.Trên cơ sở các  quy định nêu trên, có thể thấy giới hạn của CĐTS thỏa thuận liên quan đến việc giải quyết QHTS giữa vợ và chồng khi một trong hai bên chết. Cụ thể và đơn giản, có thể nói rằng việc phân chia di sản thừa kế trong trường hợp một bên vợ, chồng chết mà giữa họ có tồn tại CĐTS thỏa thuận vẫn phải tuân thủ các quy định mang tính bắt buộc của pháp luật dân sự về chia di sản thừa kế, cụ thể là phải tôn trọng quyền thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc của những chủ thể được bảo vệ theo quy định tại Điều 6 Thông tư liên tịch số 01 đã dẫn trên. Tóm lại, đối với CĐTS thỏa thuận giữa vợ và chồng, các bên có thể thỏa thuận về việc quản lý, phân chia tài sản cũng như các điều kiện phân chia tài sản khi chấm dứt QHHN. Tuy nhiên, riêng các thỏa thuận về phân chia di sản thừa kế làm ảnh hưởng đến quyền thừa kế của những người thừa kế thì thỏa thuận này không được phép. Đây cũng chính là giới hạn cho CĐTS thỏa thuận giữa vợ và chồng. Câu hỏi đặt ra là chỉ riêng các thỏa thuận về thừa kế là không được phép hay tất cả các thỏa thuận làm ảnh hưởng đến quyền thừa kế của các chủ thể có liên quan khi một trong hai bên vợ, chồng chết sẽ bị cấm? Hãy hình dung giả thuyết, trong thỏa thuận về CĐTS, vợ chồng đã thỏa thuận với nhau rằng, khi một trong hai bên vợ, chồng chết thì người còn sống sẽ được nhận hai phần ba (2/3) tổng số tài sản chung, một phần ba còn lại là của người chết và sẽ đem chia thừa kế. Rõ ràng thỏa thuận này không tác động trực tiếp đến quyền thừa kế của những người thừa kế, mà nó chỉ là thỏa thuận về việc phân chia tài sản chung của vợ chồng, nhưng thỏa thuận này đã tác động một cách gián tiếp đến quyền được thừa kế của những người thừa kế khác. Cụ thể là nó làm cho khối di sản của những người này ít đi hơn so với bình thường (nếu như không có CĐTS thỏa thuận). Câu trả lời - theo chúng tôi - đến từ lý do cho sự xuất hiện của quy định tại điểm c khoản 1 Điều 50 nêu trên. Nhà làm luật khi xây dựng quy định tại Điều 50 này đã nghĩ đến nguyên tắc bảo vệ người thứ ba, theo nguyên tắc đó, vợ chồng có quyền xây dựng một CĐTS thỏa thuận cho riêng họ, nhưng các thỏa thuận này không được ảnh hưởng theo hướng tiêu cực đến quyền lợi của người thứ ba, đặc biệt là quyền thừa kế và cụ thể là quyền thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc. Và mặc dù thỏa thuận của vợ chồng không phải là di chúc nhưng nó cũng đã tác động tiêu cực đến quyền thừa kế của các chủ thể được pháp luật bảo vệ. Do đó, có thể thấy thỏa thuận của vợ chồng trong giả thuyết đã đề cập là không được chấp nhận nếu thỏa thuận phân chia này làm cho quyền thừa kế của các chủ thể đặc biệt (vợ, chồng, cha, mẹ, con chưa thành niên... của người chết) không được đảm bảo theo quy định của luật dân sự. 2.4. Chấm dứt chế độ tài sản thỏa thuận khi vợ chồng ly hôn Ly hôn là trường hợp chấm dứt QHHN không được lường trước bởi khi vợ chồng xác lập QHHN là trong điều kiện bình thường. Tuy nhiên, đây lại là trường hợp thường được dự kiến bởi các thỏa thuận về CĐTS giữa vợ và chồng, khi ly hôn sẽ chia tài sản như thế nào là vấn đề mà các bên thường quan tâm khi xây dựng thỏa thuận về CĐTS giữa vợ và chồng. Các thỏa thuận này cũng là những thỏa thuận được phép xây dựng trong khuôn khổ quy định tại điểm c khoản 1 Điều 48 nêu trên. Đồng thời, theo quy định tại khoản 1 Điều 59 Luật HN&GĐ năm 2014 về giải quyết QHTS giữa vợ và chồng khi ly hôn thì: “1. Trong trường hợp CĐTS của vợ và chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các Điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này. Trong trường hợp CĐTS của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các Điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết”. Như vậy, quy định này đã thể hiện rất rõ ràng tinh thần tôn trọng các thỏa thuận của vợ chồng trong CĐTS thỏa thuận liên quan đến việc phân chia tài sản khi ly hôn. Ngược lại, nếu vợ chồng có xây dựng CĐTS thỏa thuận nhưng trong nội dung thỏa thuận không nói gì về cách thức cũng như điều kiện phân chia tài sản khi ly hôn thì Tòa án sẽ áp dụng cách phân chia theo CĐTS luật định để giải quyết. Vấn đề cần lưu ý còn lại liên quan tới việc chấm dứt QHTS giữa vợ chồng khi ly hôn trong tình trạng có CĐTS thỏa thuận là các thỏa thuận phân chia tài sản cần phải tuân thủ các nguyên tắc được quy định tại Điều 29, 30, 31, 32 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và đảm bảo không “vi phạm nghiêm trọng quyền được cấp dưỡng, quyền được thừa kế và quyền, lợi ích hợp pháp khác của cha, mẹ, con và thành viên khác của gia đình”, đặc biệt là quyền được cấp dưỡng sau khi ly hôn. Điều đó cũng có nghĩa là, nếu có những thỏa thuận vi phạm các nguyên tắc này mà vẫn chưa bị tuyên bố vô hiệu thì sẽ xử lý giống như trường hợp “Nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều 59 và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết”. Tóm lại, việc giải quyết QHTS giữa vợ và chồng như thế nào khi chấm dứt QHHN là một trong những nội dung quan trọng mà các bên vợ chồng thường quan tâm thỏa thuận khi xác lập CĐTS thỏa thuận cho riêng mình. Và trong số các trường hợp chấm dứt QHTS thì chấm dứt QHTS do ly hôn có thể nói là trường hợp mà sự tự do trong thỏa thuận về phân chia tài sản được cho phép nhiều nhất./.       [1] Dân luật 1972 Sài Gòn. [2] Khái niệm này, theo tác giả Nguyễn Mạnh Bách “Chế độ hôn sản gồm một số các nguyên tắc quy định quyền hạn của hai vợ chồng trên các tài sản chung, sự đóng góp tiền bạc của hai vợ chồng trong thời gian hôn nhân, các quyền lợi của người thứ ba giao dịch với họ và những quyền lợi của mỗi người vợ chồng khi hôn thú chấm dứt”, Tìm hiểu Luật Dân sự Việt Nam (chế độ hôn sản, thừa kế), Nxb. Đồng Nai, 1992, tr 9. [3] Quy định này vẫn được giữ lại tại Điều 117 BLDS năm 2015. [4] Thông tư liên tịch số 01/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP vẫn chưa có quy định gì về vấn đề này. [5] Ví dụ, thỏa thuận của vợ chồng rằng “khi một trong hai bên chết thì người còn lại được thừa kế trọn di sản”, thỏa thuận này đã, một cách gián tiếp, hạn chế, thậm chí tước đi quyền thừa kế của các thành viên khác trong gia đình của người chết (cụ thể là quyền thừa kế của những người cùng hàng với vợ, chồng) [6] Theo quy định tại Điều 5 Thông tư liên tịch số 01/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP (2016) thì Tòa án có thẩm quyền này.     Đoàn Thị Phương Diệp, TS. Khoa Luật, Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh.
Sự thay đổi của hệ thống tài chính và vai trò của các tổ chức bảo hiểm tiền gửi trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế đã đặt ra yêu cầu phải cập nhật Bộ các nguyên tắc cơ bản theo hướng đảm bảo sự độc lập của tổ chức bảo hiểm tiền gửi trong quá trình hoạt động, cung cấp thêm các công cụ cần thiết để tổ chức bảo hiểm tiền gửi thực hiện tốt hơn nhiệm vụ của mình, đồng thời thể hiện vai trò tích cực hơn trong mạng an toàn tài chính quốc gia. Những thay đổi cơ bản Bộ các nguyên tắc cơ bản đã được Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) và Ngân hàng thế giới (WB) sử dụng trong phạm vi Chương trình đánh giá khu vực tài chính (FSAP) với mục tiêu đánh giá tính hiệu quả của hệ thống bảo hiểm tiền gửi tại các quốc gia. Đối với Việt Nam, trong quá trình thực hiện chương trình FSAP tại Việt Nam, IMF và WB cũng đã áp dụng Bộ các nguyên tắc cơ bản như một tài liệu tham khảo để đưa ra một số khuyến nghị đối với hệ thống bảo hiểm tiền gửi. Năm 2012, Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam cũng đã tiến hành tự đánh giá hệ thống bảo hiểm tiền gửi qua đề tài nghiên cứu ứng dụng “Đánh giá mức độ tuân thủ của hệ thống bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam so với Bộ nguyên tắc cơ bản phát triển hệ thống BHTG hiệu quả” từ đó đưa ra những đề xuất cải tiến hệ thống BHTG. Bộ nguyên tắc cơ bản cũng đã được các cơ quan Chính phủ và Quốc hội tham khảo trong quá trình xây dựng Luật bảo hiểm tiền gửi của Việt Nam.   Bộ tài liệu mới đã được cơ cấu lại một cách hợp lý hơn trên cơ sở thực hiện những thay đổi cơ bản sau: Thứ nhất: Củng cố một số nguyên tắc liên quan tới quản trị, trả tiền bảo hiểm, hạn mức BHTG, cấp vốn và tăng cường đảm bảo an toàn sử dụng vốn, trả tiền bảo hiểm, nhận thức của công chúng, hạn mức, rủi ro đạo đức, các vấn đề xuyên quốc gia...   Thứ hai: Cập nhật các nguyên tắc liên quan tới can thiệp và xử lý đổ vỡ nhằm phản ánh thực tế vai trò ngày càng lớn hơn của các tổ chức bảo hiểm tiền gửi trong việc xử lý đổ vỡ, đồng thời để đảm bảo sự phù hợp với các tiêu chuẩn của FSB. Thứ ba: Bổ sung thêm nguyên tắc về việc lập kế hoạch dự phòng khủng hoảng và xử lý khủng hoảng. Thứ tư: Tích hợp những nội dung đặc biệt về hệ thống bảo hiểm tiền gửi Hồi giáo, phổ biến kiến thức tài chính, nhiều hệ thống bảo hiểm tiền gửi trong cùng quốc gia, và về ưu tiên đối với người gửi tiền. Thứ 5: Đề cập tới rủi ro đạo đức trong tất cả các nguyên tắc có liên quan, thay vì chỉ giới hạn vấn đề rủi ro đạo đức trong một nguyên tắc duy nhất. Thứ 6: Nâng cấp một số tiêu chuẩn bổ sung trở thành tiêu chuẩn cơ bản dùng để đánh giá. Sau khi sửa đổi, Bộ nguyên tắc mới có 16 nguyên tắc cơ bản thay vì 18 nguyên tắc trong Bộ cũ), bao gồm tất cả 96 tiêu chuẩn đánh giá chi tiết. Một số điểm mới từ bộ các nguyên tắc cơ bản của Bảo hiểm tiền gửi Mối quan hệ với các thành viên mạng an toàn tài chính Nguyên tắc này tiếp tục đề cập đến tầm quan trọng của việc chia sẻ thông tin (thường xuyên và đột xuất) và phối hợp hành động giữa các cơ quan có vai trò giữ vững ổn định tài chính. Đặc biệt, Bộ nguyên tắc sửa đổi nhấn mạnh việc các cơ quan cần có những quy định chính thức về việc phối hợp hành động và đảm bảo bí mật thông tin được chia sẻ giữa các bên. Nguyên tắc mới cũng bổ sung trường hợp có nhiều tổ chức bảo hiểm tiền gửi cùng hoạt động trong một lãnh thổ quốc gia, khi đó cần phải có các cơ chế phối hợp và chia sẻ hiệu quả. Vai trò của tổ chức bảo hiểm tiền gửi trong việc lập kế hoạch dự phòng và xử lý khủng hoảng Đây là nguyên tắc hoàn toàn mới trên cơ sở những kinh nghiệm rút ra từ khủng hoảng tài chính toàn cầu. Cụ thể nguyên tắc này khuyến cáo tổ chức bảo hiểm tiền gửi phải có sẵn các kế hoạch đối phó với khủng hoảng (trước khủng hoảng) cũng như những biện pháp xử lý tình huống khủng hoảng (trong khủng hoảng), trên nguyên tắc hành động phối hợp với các cơ quan khác trong mạng an toàn tài chính. Các cuộc mô phỏng tập dượt xử lý khủng hoảng sẽ có tác dụng giúp tổ chức bảo hiểm tiền gửi cũng như các cơ quan khác có kỹ năng ứng phó tốt hơn với khủng hoảng. Nguyên tắc này cũng nhấn mạnh vai trò của truyền thông trước và sau khủng hoảng nhằm duy trì nhận thức đầy đủ và ổn định của công chúng về hệ thống tài chính. Nguyên tắc về nhận thức của công chúng Nguyên tắc này đề cập toàn diện hơn về hoạt động truyền thông công chúng trên hai cơ sở: mang tính định kỳ và mang tính sự kiện (đổ vỡ, khủng hoảng). Tổ chức bảo hiểm tiền gửi cũng cần đặt ra chiến lược dài hạn về truyền thông, tổ chức đánh giá mức độ nhận thức của công chúng qua thời gian. Nguyên tắc này cũng đặt tình huống truyền thông khi có vấn đề xuyên quốc gia, những thông tin cần chia sẻ và cơ chế chia sẻ thông tin. Những kiến nghị để phát triển Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam thời gian tới Trên cơ sở những thay đổi quan trọng của Bộ các nguyên tắc cơ bản phát triển hệ thống bảo hiểm tiền gửi hiệu quả của IADI, tác giả xin có một số kiến nghị đối với Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam như sau: Một là: Tiến hành đánh giá lại hệ thống bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam theo Bộ nguyên tắc cơ bản được cập nhật. Việc đánh giá toàn hệ thống đã được thực hiện trong phạm vi một đề tài nghiên cứu trong năm 2012, tuy nhiên đó là thời điểm giao thoa giữa cơ sở pháp lý cũ và mới (Luật bảo hiểm tiền gửi có hiệu lực từ 1/1/2013). Thời điểm hiện nay là cơ hội tốt để đánh giá lại hệ thống bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam trên cơ sở là hơn 2 năm thực thi Luật BHTG, cùng với Bộ các nguyên tắc cơ bản cập nhật vừa được ban hành. Kết quả đánh giá sẽ là nguồn thông tin hữu ích cho nhiệm vụ xây dựng Chiến lược phát triển dài hạn Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam dự kiến thực hiện trong năm 2015. Hai là: Xây dựng Chiến lược phát triển Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam trong đó phản ánh các nguyên tắc trong Bộ nguyên tắc cơ bản phát triển hệ thống bảo hiểm tiền gửi hiệu quả của IADI. Ba là: Một số đề xuất về nghiệp vụ: (i) Kiến nghị với các cơ quan có thẩm quyền lập kế hoạch dự phòng và xử lý khủng hoảng trong đó xác định rõ cơ chế phối hợp giữa các cơ quan trong đó có tổ chức bảo hiểm tiền gửi trong việc đối phó với khủng hoảng tài chính, ngân hàng. (ii) Xây dựng tỷ lệ quỹ mục tiêu và kiến nghị với các cơ quan cho phép áp dụng hệ thống phí trên cơ sở rủi ro nhằm đạt được quỹ mục tiêu đã đề ra. (iii) Hoàn thiện Chiến lược truyền thông nhằm tổ chức một cách bài bản hoạt động truyền thông trong giai đoạn kinh tế phát triển thông thường và đặc biệt có kế hoạch truyền thông khi xảy ra khủng hoảng. (iv) Xây dựng kế hoạch cải tiến phương pháp chi trả bảo hiểm tiền gửi nhằm rút ngắn thời gian chi trả xuống gần với mục tiêu 7 ngày được đặt ra trong Bộ nguyên tắc cập nhật. LÊ HOÀNG
Cho đến nay, pháp luật nước ta vẫn chưa có quy định rõ ràng về “bí mật đời tư” là gì, phạm vi của “bí mật đời tư” như thế nào, mà chỉ có một số quy định về vấn đề này trong Hiến pháp năm 2013; Bộ luật Dân sự năm 2005 (BLDS); Luật Giao dịch điện tử năm 2005 (Luật GDĐT); Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009 - BLHS). Mà theo đó:- Điều 21 Hiến pháp năm 2013 có quy định: “1. Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình; có quyền bảo vệ danh dự, uy tín của mình. Thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình được pháp luật bảo đảm an toàn 2. Mọi người có quyền bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác. Không ai được bóc mở, kiểm soát, thu giữ trái luật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư của người khác”- Tại Điều 38 BLDS hiện hành, có quyền bí mật đời tư, như sau:“1. Quyền bí mật đời tư của cá nhân được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.2. Việc thu thập, công bố thông tin, tư liệu về đời tư của cá nhân phải được người đó đồng ý; trong trường hợp người đó đã chết, mất năng lực hành vi dân sự, chưa đủ mười lăm tuổi thì phải được cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên hoặc người đại diện của người đó đồng ý, trừ trường hợp thu thập, công bố thông tin, tư liệu theo quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.3. Thư tín, điện thoại, điện tín, các hình thức thông tin điện tử khác của cá nhân được bảo đảm an toàn và bí mật. Việc kiểm soát thư tín, điện thoại, điện tín, các hình thức thông tin điện tử khác của cá nhân được thực hiện trong trường hợp pháp luật có quy định và phải có quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.”Khoản 2 Điều 46 Luật GDĐT quy định:“Cơ quan, tổ chức, cá nhân không được sử dụng, cung cấp hoặc tiết lộ thông tin về bí mật đời tư hoặc thông tin của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác mà mình tiếp cận hoặc kiểm soát được trong giao dịch điện tử nếu không được sự đồng ý của họ, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.” - Điều 25 Luật bảo vệ sức khỏe nhân dân năm 1989 có quy địnhvề trách nhiệm của thầy thuốc “… phải giữ bí mật về những điều có liên quan đến bệnh tật hoặc đời tư mà mình được biết về người bệnh”.- Điều 125 BLHS có quy định Tội xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín của người khác, như sau:“1. Người nào chiếm đoạt thư, điện báo, telex, fax hoặc các văn bản khác được truyền đưa bằng phương tiện viễn thông và máy tính hoặc có hành vi trái pháp luật xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín của người khác đã bị  xử lý kỷ luật hoặc xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ một triệu đồng đến năm triệu đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến một năm. 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ từ một năm đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm:a) Có tổ chức;b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;c)  Phạm tội nhiều lần;d) Gây hậu quả nghiêm trọng;đ) Tái phạm.3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ hai triệu đồng đến hai mươi triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến năm năm.”Do luật và các văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành chưa có hướng dẫn cụ thể và cũng không quy định chi tiết thế nào là “bí mật đời tư”, nên đây cũng là vấn đề pháp lý gây tranh cãi nhiều nhất. Ý kiến chung nhất của các chuyên gia thì cho rằng “bí mật” là thông tin cần được che giấu, không công khai, chỉ một số ít người liên quan được biết. Ví dụ, nếu một đám cưới diễn ra công khai, nhiều người biết đến, tất nhiên sẽ không là chuyện “bí mật”. Còn vì sao có lễ cưới đó, có thể riêng tư vì một lý do tế nhị nào đó. Tuy nhiên nếu lý do này được nêu công khai từ một bên gia đình cô dâu hay gia đình chú rể của lễ cưới ấy, có lẽ mọi chuyện cũng khó thể gọi là “bí mật đời tư”. “Bí mật đời tư” là một cụm từ Hán - Việt, có nguồn gốc từ chữ Hán và được Việt hóa. Do đó, có thể hiểu “bí mật”  là những chuyện kín đáo, chuyện muốn che giấu, không muốn ai biết. “Tư” ở đây có nghĩa là riêng, việc riêng, của riêng. Như vậy, “bí mật đời tư” là chuyện thầm kín của một cá nhân nào đó. Bởi pháp luật hiện hành tuy có quy định nhưng không rõ ràng, thiếu cụ thể , nên đã gây khó khăn cho người dân khi muốn tiếp cận những thông tin cần thiết, mà theo họ, là “chứng cứ” cần thiết và quan trọng của vụ kiện dân sự, chính vì lẽ đó, trong nhiều trường hợp cơ quan chức năng đã vô tình đẩy người đi kiện vào “ngõ cụt” chỉ vì thiếu thống nhất chung về nhận thức thế nào là “quyền bí mật đời tư”. Dưới đây là trường hợp cụ thể, tác giả xin được dẫn chứng để minh họa cho nhận định trên.Theo đơn khởi kiện ngày 13/02/2014 của bà Nguyễn Thị L. (trú tại ấpT, xã  T.H, huyện C, tỉnh T), trình bày: Ngày 12/5/1991 cha của bà là cụ Nguyễn H. có nhận sang nhượng của cụ Phạm Văn V. (cùng ngụ tại địa chỉ trên) một thửa đất có diện tích 187m2 (chiều rộng 7,5m x chiều dài 25m) với số tiền là 1.500.000 đồng, nội dung giao dịch này được thể hiện trên giấy viết tay có chữ ký của bên sang nhượng, bên nhận sang nhượng cùng hai người làm chứng là ông Dương Văn Nh., Phạm Văn S. và  được lãnh đạo UBND xã T.H ký xác nhận vào ngày 12/10/1991. Sau khi lập hồ sơ thủ tục theo quy định, ngày 11/10/1999 bà L được UBND huyện C cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) với diện tích 187m2 loại đất thổ quả, thuộc thửa 2760, tờ bản đố số 01, tọa lạc tại ấp T, xã T.H, huyện C, tỉnh T. Cũng theo hồ sơ kê khai xin cấp GCNQSDĐ của bà L. thể hiện: Chiều rộng hai cạnh của thửa đất tiếp giáp với Quốc lộ IA và tiếp giáp với mí gò đất đều là 7,5m, nhưng qua đo đạc thực tế sau khi phát sinh tranh chấp cho thấy, chiều rộng tiếp giáp với Quốc lộ IA là 7,38m; chiều rộng tiếp giáp mí gò đất chỉ còn là 6,72m. Sở dĩ có sự khác biệt về số liệu đo đạc trên thực tế với số liệu trích lục bản đồ vị trí thể hiện trên GCNQSDĐ, là do bà Đoàn Thị N. năm 2004 khi làm nhà ở cạnh thửa đất của bà L. đã lấn chiếm, cụ thể chiều rộng thửa đất tiếp giáp Quốc lộ IA, bị bà N. lấn qua 0,11m với chiều dài 8,8m; chiều rộng tiếp giáp mí gò bị bà N. lấn qua 0,78m với chiều dài 6,95m. Bà L. đề nghị TAND huyện C tuyên buộc cụ V. và bà N. có trách nhiệm giao trả toàn bộ phần diện tích đất đã lấn chiếm gần 7m2.Phía bị đơn là cụ Phạm Văn V. và bà Đoàn Thị N. trình bày: Việc cụ V. sang nhượng cho cụ H. tại thời điểm khoảng tháng 5/1991 một thửa đất với giá 1.500.000 đồng là đúng sự thật, nhưng diện tích sang nhượng chỉ là 120m2 (chiều rộng 6,0m; chiều dài 20,0m), chứ không phải diện tích 187m2 như trong Đơn xin sang nhượng đất, mà phía bà L. cung cấp. Hơn nữa, hồ sơ xin cấp GCNQSDĐ cho bà L. có dấu hiệu giả chữ ký, vì bản thân cụ V. và bà N. cũng như những thành viên khác trong gia đình, không ai ký tên xác nhận “tứ cận” (giáp ranh với phần đất của người kế bên) vào hồ sơ kê khai xin cấp GCNQSDĐ của bà L., điều đó dẫn đến việc gia đình bà không hề hay biết việc phía bà L. làm thủ tục đề nghị UBND huyện C cấp GCNQSDĐ, mà cha của bà đã sang nhượng lên đến 187m2.Để có chứng cứ giao nộp cho Tòa án để bảo vệ quan điểm của mình, bà Đoàn Thị N. làm đơn gửi đến Văn phòng đăng ký đất đai thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T, yêu cầu trích lục hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất và hồ sơ cấp GCNQSDĐ đối với bà Nguyễn Thị L. vào năm 1999. Ngày 17/12/2015, Văn phòng đăng ký đất đai thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T, ban hành Công văn số 4314/TL-VPĐK trả lời yêu cầu của bà Đoàn Thị N., mà theo đó, tại điểm 2 của Công văn này có viết: “ …Căn cứ vào Điều 38 của Bộ luật Dân sự ngày 14/6/2005 quy định như sau:“việc thu thập, công bố thông tin, tư liệu về đời tư của cá nhân phải được người đó đồng ý; trong trường hợp người đó đã chết, mất năng lực hành vi dân sự, chưa đủ mười lăm tuổi thì phải được cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên hoặc người đại diện của người đó đồng ý, trừ trường hợp thu thập, công bố thông tin, tư liệu theo quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền. Do đó, Văn phòng Đăng ký đất đai không thể trích lục hồ sơ của bà Nguyễn Thị L. theo yêu cầu của bà được.””Vấn đề đặt ra, việc Văn phòng Đăng ký đất đai thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T, viện dẫn Điều 38 BLDS và cho rằng nếu thực hiện nội dung yêu cầu trích lục hồ sơ xin cấp GCNQSDĐ đối với bà Nguyễn Thị L. là xâm phạm đến quyền bí mật đời tư của đương sự, nên đã từ chối yêu cầu của bà N. có phù hợp với quy định của pháp luật không? Xoay quanh vấn đề này, hiện có các loại quan điểm sau:- Quan điểm thứ nhất: Bí mật đời tư của cá nhân được hiểu là những gì gắn với nhân thân con người, bao gồm những thông tin, tài liệu, hình ảnh về cá nhân, việc làm, tình yêu, gia đình, các mối quan hệ… gắn liền với một cá nhân mà người này giữ kín, không muốn để “lộ ra” cho người khác biết. Nói cách khác, bí mật đời tư có thể hiểu là chuyện riêng của người này mà không muốn cho người khác biết. Những bí mật đời tư này chỉ có bản thân người đó biết hoặc những người thân thích, người có mối liên hệ với người đó biết và họ chưa từng công bố ra ngoài cho bất kỳ ai. “Bí mật đời tư” có thể hiểu là “chuyện trong nhà” của cá nhân nào đó. Ví dụ: con ngoài giá thú, di chúc, hình ảnh cá nhân, tình trạng sức khỏe, bệnh tật, các loại thư tín, điện thoại, điện tín…”. Vì thế nên, bất cứ ai thu thập, công bố thông tin, tư liệu về đời tư cá nhân người khác, không phân biệt những thông tin, tư liệu ấy đang được cá nhân đó giữ bí mật hay đã được cá nhân đó để lộ ra mà không được sự đồng ý của cá nhân đó đều là xâm phạm bí mật đời tư. Hồ sơ xin cấp GCNQSDĐ đối với bà Nguyễn Thị L. là vấn đề thuộc về quyền riêng tư cá nhân, nên việc Văn phòng Đăng ký đất đai từ chối đáp ứng yêu cầu của bà N. tại Công văn số 4314/TL-VPĐK là có căn cứ.- Quan điểm thứ hai: Bí mật đời tư là những thông tin, tư liệu (gọi chung là thông tin) về tinh thần, vật chất, quan hệ xã hội hoặc những thông tin khác liên quan đến cá nhân trong quá khứ cũng như trong hiện tại, được pháp luật bảo vệ và những thông tin đó được bảo mật bằng những biện pháp mà pháp luật thừa nhận. Mặc dù Điều 38 BLDS không đưa ra khái niệm bí mật đời tư, nhưng theo lẽ thông thường có thể hiểu bí mật đời tư là những thông tin, tư liệu liên quan đến cá nhân mà cá nhân đó không muốn cho người khác biết. Trong hoàn cảnh pháp luật hiện chưa có quy định rõ ràng về khái niệm và phạm vi “bí mật đời tư ” thì xét ở góc độ nghĩa của từ ngữ theo từ điển tiếng Việt, bí mật đời tư của cá nhân được hiểu là những gì thuộc về đời sống riêng tư của cá nhân (thông tin, tư liệu…) được giữ kín, không công khai, không tiết lộ ra. Còn nếu các thông tin, tư liệu cá nhân đã được công khai, lộ ra thì không còn là bí mật đời tư nữa. Do đó, cần hiểu bí mật đời tư của cá nhân là những thông tin, tư liệu mà chỉ mỗi cá nhân đó biết và quyết giữ bí mật.Từ cách tiếp cận vấn đề như vậy, những người ủng hộ quan điểm này cho rằng: Sở dĩ, bà N. yêu cầu được cấp trích hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất và hồ sơ cấp GCNQSDĐ đối với bà Nguyễn Thị L., là do giữa đôi bên có tranh chấp về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất trước đó và hiện tại phía bà L. đã được UNND huyện C cấp GCNQSD diện tích đất được sang nhượng. Nhưng theo bà N., hồ sơ xin xác lập chủ quyền diện tích đất được sang nhượng  đã có sự giả mạo chữ ký của cụ V. (người sang nhượng), hơn nữa, diện tích đất sang nhượng thực tế là 120 m2, nhưng thực tế khi bà L. được cấp GCNQSDĐ lên đến 187 m2, trong khi theo quy định của pháp luật, là người sử dụng đất giáp ranh với đất của bà L., cụ V. hay bà N. phải ký tên xác nhận “tứ cận” – đất không có tranh chấp là mới đúng. Hồ sơ và quy trình, thủ tục cấp GCNQSDĐ theo quy định của của pháp luật là công khai. Cụ thể, Quyết định số 93/2007/QĐ-TTg ngày 22/6/2007 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương; Thông tư liên tịch số 14/2008/TTLT/BTC-BTNMT ngày 31/01/2008 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ tái định cư và trình tự thủ tục thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất; Thông tư số 17/2009/TT-BTNMT ngày 21/10/2009 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; Thông tư số 20/2010/TT-BTNMT ngày 22/10/2010 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định bổ sung về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất;Thông tư số 16/2010/TT-BTNMT ngày 20/5/2010 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định sửa đổi, bổ sung một số nội dung liên quan đến thủ tục hành chính về lĩnh vực đất đai;… mà theo đó, với thủ tục cấp GCNQSĐ cho cá nhân trong mọi trường hợp đều được công chức địa chính và UBND cấp xã công bố công khai kết quả kiểm tra về nguồn gốc đất, thời điểm sử dụng đất, tình trạng tranh chấp quyền sử dụng đất, sự phù hợp với quy hoạch,…tại trụ sở UBND cấp xã. Một khi tất cả các thông tin có liên quan về hồ sơ xin cấp GCNQSDĐ được công bố công khai thì tại trụ sở UBND cấp xã thì rõ ràng không còn là bí mật đời tư của cá nhân đó. Nếu hiểu thu nhập và tài sản hợp pháp của cá nhân có được là “bí mật đời tư”, theo tác giả là hoàn toàn sai lầm, bởi đã là thu nhập hợp pháp thì cớ gì phải giấu giếm, phải che đậy không muốn người khác biết. Mỗi người được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp GCNQSD bao nhiêu thửa đất, loại đất; diện tích sử dụng nhà ở bao nhiêu m2, loại nhà ở,… hoàn toàn không thuộc về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật của gia đình người đó. Hơn nữa, Điều 26a Luật Phòng chống tham nhũng năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2012) có quy định về công khai bản kê khai tài sản, mà theo đó, việc công khai bản kê khai tài sản của người có nghĩa vụ kê khai được công khai trong cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi người đó thường xuyên làm việc, như vậy, với đối tượng bắt buộc phải có nghĩa vụ kê khai tài sản theo luật quy định, thì Nhà nước đã xâm phạm “quyền bí mật đời tư” của tất cả họ sao? Cho dù, bà L. không là đối tượng thuộc diện người có nghĩa vụ kê khai tài sản theo Điều 7 Nghị định 78/2013/NĐ-CP ngày 17/7/2013 của Chính phủ, về minh bạch tài sản thu nhập, nhưng tài sản là quyền sử dụng 187 m2 đất bà L. đang là đối tượng của vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất, mà TAND huyện C đang thụ lý và cũng theo bị đơn hồ sơ thể hiện việc sang nhượng diện tích đất mà bà L. cung cấp cho cơ quan chức năng là giả mạo, thì lẽ ra cơ quan có chức năng phải tạo điều kiện hơn nữa để bà N. bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình là mới đúng. Do đó, việc Văn phòng Đăng ký đất đai từ chối yêu cầu của bà N. bằng việc vận dụng Điều 38 BLDS là thiếu cơ sở pháp lý và không thuyết phục, nếu không muốn nói đó là sự thờ ơ, thiếu trách nhiệm, là sự quan liêu của người có thẩm quyền.Tác giả đồng ý với quan điểm này. “Quyền bí mật đời tư” là quyền nhân thân bất khả xâm phạm của cá nhân. Về cơ bản có thể hiểu rằng quyền bí mật đời tư của cá nhân là quyền được bảo vệ về bí mật đời tư, nói cách khác không ai được quyền xâm phạm đến bí mật đời tư của cá nhân khi chưa được phép. Như vậy, có thể thấy rằng “quyền bí mật đời tư” được xây dựng trên khái niệm “bí mật đời tư”. Muốn xác định được phạm vi của “quyền bí mật đời tư” đòi hỏi chúng ta phải xác định khái niệm về “bí mật đời tư” là gì.Quy định về “quyền bí mật đời tư” đã được đề cập tới ngay trong bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta. Theo đó, Hiến pháp 1946 có quy định: “Tư pháp chưa quyết định thì không được bắt bớ và giam cầm công dân Việt Nam. Nhà ở và thư tín của công dân Việt Nam không ai được xâm phạm một cách trái pháp luật”. Điều này đã cho thấy rằng, từ khi mới thành lập, Nhà nước ta đã quan tâm và bảo vệ cho quyền riêng tư của công dân. Trải qua các thời kỳ phát triển khác nhau, các bản Hiến pháp của nước ta vẫn giữ quy định về việc bảo đảm quyền riêng tư của cá nhân với phạm vi bảo vệ ngày càng mở rộng hơn. Tuy nhiên, có thể thấy rằng các bản Hiến pháp này chỉ quy định việc bảo vệ bí mật đời tư của công dân đối với thư tín, điện thoại, điện tín mà thôi, tức là phạm vi quyền bí mật đời tư còn tương đối hẹp. Đến Hiến pháp năm 2013, quyền bí mật đời tư của cá nhân đã được tiếp cận theo cách khác, mà theo đó, như Điều 21 Hiến pháp năm 2013 mà tác giả đã trích dẫn ở phần trên. Hiến pháp 2013 đã mở rộng hơn rất nhiều đối với quyền bí mật đời tư, theo đó không chỉ bao gồm thư tín, điện thoại, điện tín mà tất cả các vấn đề về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình đều được pháp luật bảo vệ.Tiếp thu quan điểm tiến bộ này, Bộ luật Dân sự năm 2015 (sẽ có hiệu lực từ ngày 01/01/2017), mà theo đó, Điều 38 có quy định về quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, như sau:“1. Đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ.2. Việc thu thập, lưu giữ, sử dụng, công khai thông tin liên quan đến đời sống riêng tư, bí mật cá nhân phải được người đó đồng ý, việc thu thập, lưu giữ, sử dụng, công khai thông tin liên quan đến bí mật gia đình phải được các thành viên gia đình đồng ý, trừ trường hợp luật có quy định khác.3. Thư tín, điện thoại, điện tín, cơ sở dữ liệu điện tử và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của cá nhân được bảo đảm an toàn và bí mật.Việc bóc mở, kiểm soát, thu giữ thư tín, điện thoại, điện tín, cơ sở dữ liệu điện tử và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác chỉ được thực hiện trong trường hợp luật quy định.4. Các bên trong hợp đồng không được tiết lộ thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình của nhau mà mình đã biết được trong quá trình xác lập, thực hiện hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.”Tham khảo, quy định của pháp luật một số quốc gia trên thế giới, có thể thấy rằng “quyền bí mật đời tư” được hầu hết các nước thừa nhận với tên gọi và phạm vi khác nhau. Chẳng hạn:BLDS Pháp ghi nhận mọi người đều có quyền được tôn trọng đời tư của mình và quyền riêng tư này được pháp luật bảo vệ bằng nhiều hình thức khác nhau. Tuy nhiên, giống như BLDS Việt Nam, BLDS Pháp không có quy định hướng dẫn cụ thể về khái niệm cũng như phạm vi những quyền riêng tư này như thế nào. Ngày 13/4/1988, Tòa án tối cao Pháp đã có phán quyết giải thích về phạm vi của quyền riêng tư, theo đó thì đời sống riêng tư của một người bao gồm: Đời sống tình cảm, bạn bè, gia đình, sinh hoạt hằng ngày, quan điểm chính trị, công việc làm ăn hay tư tưởng tôn giáo và tình trạng sức khỏe. Hiểu một cách chung nhất quyền riêng tư cho phép mọi người không phân biệt giai cấp, độ tuổi hay tài chính chống lại hành vi xâm phạm mà không được sự cho phép của họ. Như vậy, có thể thấy rằng theo BLDS Pháp thì quyền riêng tư của mọi cá nhân là như nhau. Đồng thời phạm vi bảo vệ quyền riêng tư của cá nhân là rất rộng, bao gồm các thông tin được đưa ra cả tại nơi công cộng lẫn nơi riêng tư của cá nhân. Tuy nhiên, nếu như cá nhân chủ động công bố những thông tin đó thì sẽ không được coi là bí mật đời tư nữa.Hiến pháp Nhật tại Điều 13 ghi nhận rằng công dân có quyền sống, tự do và theo đuổi hạnh phúc và được tôn trọng với tư cách là một công dân. Đây là quy định làm nền tảng cho những quy định của pháp luật chuyên ngành về quyền bí mật đời tư như: Công dân không được phép xây nhà có thể nhìn vào nhà của người khác, nghiêm cấm nhìn ngó nơi cư ngụ của người khác hay đọc thư cá nhân của người khác. Năm 2003, Nhật Bản ban hành Luật Bảo vệ những thông tin cá nhân, trong đó quy định những thông tin về cá nhân sẽ được bảo vệ nếu thỏa mãn:a) Liên quan đến đời sống của cá nhân;b) Có thể dùng để xác định, phân biệt một công dân.Tòa án Nhật Bản đã giải thích quyền về bí mật đời tư của cá nhân, bao gồm: i) Quyền không bị công bố thông tin cá nhân nếu không có lý do chính đáng; ii) Quyền quyết định đối với thông tin cá nhân. Cũng theo Tòa án Nhật Bản, để xác định có sự vi phạm về quyền bí mật đời tư hay không phải đảm bảo các yêu cầu sau: i). Có liên quan đến đời sống riêng tư của cá nhân. ii). Cá nhân đó có mong muốn giữ bí mật. iii). Không phải là thông tin, hiểu biết công cộng. iv). Gây ảnh hưởng nặng nề đối với cá nhân nếu bị xâm phạm.Hội đồng Calcutt ở Vương quốc Anh cho rằng: “không nơi nào chúng ta có thể tìm thấy một định nghĩa hoàn toàn thỏa đáng về quyền riêng tư”. Nhưng Hội đồng này đã hài lòng với định nghĩa sau: Quyền riêng tư là các quyền của cá nhân được bảo vệ để chống lại sự xâm nhập vào đời sống cá nhân hay công việc của mình (hoặc những người trong gia đình) bằng các phương tiện vật lý trực tiếp hoặc bằng cách công bố thông tin.Như vậy, nhìn chung có thể thấy rằng pháp luật các quốc gia trên thế giới cũng nhìn nhận “quyền bí mật đời tư” dưới góc độ bảo vệ cho những thông tin liên quan đến đời sống riêng tư của cá nhân mà người đó có mong muốn được giữ bí mật. Trong trường hợp người đó chủ động công bố thông tin thì sẽ không được coi là bí mật đời tư và sẽ không được pháp luật bảo vệ nếu như những thông tin này được người khác sử dụng[1].Kiến nghịTừ những phân tích trên, tác giả đề xuất hai kiến nghị sau:Thứ nhất, về nguyên tắc luật, “Quyền bí mật đời tư” là không đồng nhất với khái niệm “Quyền riêng tư”. Quyền riêng tư cũng liên quan đến cá nhân, tuy nhiên những vấn đề thuộc về riêng tư xét ở khía cạnh nào đó lại không được coi là bí mật, mặc dù pháp luật vẫn bảo hộ những quyền này. Bất cứ cá nhân nào cũng có sự tự do trong suy nghĩ, hành động – đây là sự “riêng tư” của chính họ. Lẽ dĩ nhiên, nếu là sự tự do trong suy nghĩ thì vấn đề không có gì phức tạp, bởi không ai có thể bắt người khác phải suy nghĩ theo ý muốn của mình. Ngược lại, nếu là sự tự do trong hành động thì điều đó còn phụ thuộc vào các yếu tố khác như luật pháp, quan hệ với những người xung quanh, sự tác động của phong tục tập quán, thói quen…Có thể thấy, pháp luật nói chung, pháp luật Việt Nam nói riêng luôn tôn trọng sự riêng tư của cá nhân (quyền bất khả xâm phạm chỗ ở, quyền lựa chọn công việc cho phù hợp với khả năng và điều kiện của bản thân, quyền tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng…). Như vậy, để có thể hiểu được “Quyền bí mật đời tư” thì phải xây dựng được khái niệm “bí mật đời tư”. Và việc xây dựng khái niệm “bí mật đời tư” phải xác định được hai khái niệm cũng như sự liên kết của hai khái niệm, đó là khái niệm “bí mật” và khái niệm “đời tư”. Theo quan điểm của tác giả, tính “bí mật” trong khái niệm “bí mật đời tư” chỉ mang tính tương đối. Điều này có nghĩa là, cùng một nội dung vụ việc có tính chất như nhau, đối với người này có thể là bí mật, nhưng đối với người khác thì đây chỉ là một thông tin bình thường, có thể công bố rộng rãi và cá nhân có mong muốn giữ bí mật đối với những thông tin đó không. Do vậy, theo quan điểm đề xuất của tác giả, “Bí mật đời tư” thực chất là những thông tin liên quan đến cuộc sống của một cá nhân nhất định mà cá nhân đó thấy rằng cần thiết và mong muốn giữ bí mật.  “Quyền bí mật đời tư” và “quyền được bảo đảm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân” là giống nhau về bản chất, đều là sự bảo vệ đối với những thông tin liên quan đến cuộc sống riêng của cá nhân.Thứ hai, phạm vi những thông tin thuộc về “bí mật đời tư” của mỗi cá nhân.Vấn đề đặt ra, có phải mọi thông tin thuộc về cá nhân mà cá nhân muốn giữ bí mật sẽ trở thành “bí mật đời tư” và được pháp luật bảo vệ. Vấn đề này hiện đang có hai quan điểm sau:- Quan điểm thứ nhất cho rằng, những thông tin muốn được coi là “bí mật đời tư” phải là những thông tin hợp pháp. Bởi lẽ, đối với những thông tin trái pháp luật hay đạo đức xã hội thì pháp luật sẽ không bảo vệ, và như vậy sẽ không được coi là “bí mật đời tư” được.- Quan điểm thứ hai, không nên quá cứng nhắc mà nên có sự linh hoạt để áp dụng vào từng trường hợp cụ thể. Ví dụ, trường hợp con đánh bố mẹ, hay chồng hành hạ vợ, thì dù có là vấn đề riêng tư, cá nhân, thì xã hội, các tổ chức đoàn thể địa phương và những người xung quanh cũng không thể không can thiệp và lên tiếng, vì đó là hành vi bất hợp pháp. Tuy nhiên, với một trẻ em dưới 14 tuổi mà bị dâm ô hoặc bị người thành niên giao cấu, việc dư luận xã hội lên án đối tượng hiếp dâm, báo chí phanh phui sự việc là đương nhiên, nhưng không vì thế mà làm tổn thương thêm danh dự, nhân phẩm của đứa bé đó, kể cả trường hợp nạn nhân có sự “đồng tình” đi chăng nửa, thì phải xác định được rằng, do sự hạn chế về mặt nhận thức của một đứa trẻ chưa đến tuổi trưởng thành. Vì vậy, theo quy định tại Điều 116 và Điều 115 BLHS hiện hành, người thực hiện hành vi phạm tội phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự, khi xét xử, căn cứ quy định tại ý 2 Điều 18 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, Tòa án xét xử kín, nhưng tuyên án công khai. Thực hiện đúng quy định này là cần thiết, nhằm bảo vệ lợi ích cho nạn nhân, vì nó có thể còn liên quan đến lợi ích của họ sau này nữa.Người viết đồng ý với quan điểm này, có nghĩa cần linh động trong việc xác định thông tin nào được cho là “bí mật đời tư”. Có nghĩa là về nguyên tắc thì không phải mọi thông tin về đời sống riêng tư mà cá nhân không muốn công khai sẽ trở thành “bí mật đời tư” mà muốn được pháp luật bảo vệ thì những thông tin này phải hợp pháp. Tuy nhiên, để xác định “tính hợp pháp” này phải căn cứ vào từng trường hợp, hoàn cảnh sự việc cụ thể, mà ưu tiên hàng đầu đặt ra là bảo vệ tốt nhất cho quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân người trong cuộc. Th.S Lê Văn Sua   [1] https://kieuanhvu.wordpress.com/2015/09/09/quyen-bi-mat-doi-tu-trong-bo-luat-dan-su/  
Vấn đề bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện được quy định tại BLDS năm 1995, khi BLDS năm 2005 thay thế BLDS năm 1995 thì vấn đề bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện vẫn tiếp tục được quy định, nhưng trên thực tế các cấp Tòa án hầu như không áp dụng quy định này trong các vụ án thừa kế. Vì sao lại có hiện tượng đó? Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi xin nêu ra một trường hợp tranh chấp thừa kế tài sản và chia tài sản chung để bạn đọc cùng trao đổi phải áp dụng pháp luật như thế nào mới đúng, nhằm góp phần làm cho nhận thức và áp dụng pháp luật ngày càng chính xác và thống nhất. Theo đơn khởi kiện ngày 26/10/2008, ngày 21/11/2008 và quá trình tố tụng, các nguyên đơn bao gồm các ông, bà: Nguyễn Thị Minh, Nguyễn Thị Thư, Nguyễn Thị An, Nguyễn Thị Liên đã khởi kiện đối với các bị đơn là các ông: Nguyễn Văn Thắng, Nguyễn Văn Hoà, ông Nguyễn Ngọc Sơn, Nguyễn Ngọc Tám và ông Nguyễn Ngọc Tân yêu cầu chia di sản thừa kế của cha mẹ. Các nguyên đơn trình bày: cụ Nguyễn Văn Triệu (chết tháng 9/2001) và cụ Đinh Thị My (chết tháng 1/1995) có 09 người con chung là các ông, bà: Nguyễn Thị Minh, Nguyễn Thị Thư, Nguyễn Văn Thắng, Nguyễn Văn Hoà, Nguyễn Thị An, Nguyễn Thị Liên, Nguyễn Ngọc Sơn, Nguyễn Ngọc Tám và Nguyễn Ngọc Tân. Sinh thời, cha mẹ các ông bà có 3 khối tài sản gồm: nhà, đất tại số 74, 99 và 33/3 phố Ng.Q, thị xã ST, thành phố HN, cụ thể: - Nhà đất tại số 74 Ng.Q gồm: 3 gian nhà cấp 4; 3 gian nhà ngang cấp 4; 1 gian bếp, chuồng lợn trên diện tích đất 70m2; hiện do vợ chồng ông Nguyễn Ngọc Tân và vợ chồng ông Nguyễn Ngọc Tám quản lý, sử dụng. Vợ chồng ông Tân đã phá bỏ nhà ngang, bếp, chuồng lợn và xây mới bếp, nhà vệ sinh. - Nhà đất tại số 99 Ng.Q gồm: 3 gian nhà cấp 4; 1 gian nhà bếp; 1 chuồng lợn và công trình vệ sinh trên diện tích đất 92,5m2; hiện do 2 gia đình là vợ chồng ông Thắng và vợ chồng ông Sơn quản lý sử dụng. Năm 2001 vợ chồng ông Sơn đã phá bỏ 1 gian nhà cấp 4 và xây mới 1 nhà 3 tầng. Năm 2006, vợ chồng ông Thắng phá bỏ bếp cũ xây bếp mới và công trình phụ (tài sản cũ còn 2 gian nhà cấp 4). - Nhà đất tại số 33/3 Ng.Q gồm: 3 gian nhà cấp 4; 1 chuồng bò trên diện tích đất 80m2; hiện do vợ chồng ông Nguyễn Ngọc Hoà quản lý sử dụng. Vợ chồng ông Hoà đã phá bỏ chuồng bò và xây mới 1 nhà cấp 4. Ngày 25/4/2001, khi đó cụ Triệu còn sống, 9 người con có họp gia đình và thỏa thuận phân chia quyền sử dụng đất ở và quyền sở hữu nhà ở do bố mẹ để lại, với nội dung: khi cha mẹ còn khỏe đã phân chia nhà và đất ở cho 5 anh em trai…9 người con thỏa thuận để 5 anh em trai được ở nhà đất như bố mẹ đã phân chia nhưng không được chuyển nhượng, bán, đổi cho người khác ngoài 9 anh chị em…(Biên bản này có sự tham gia của tổ trưởng khu phố và xác nhận của UBND phường Ng.Q, có chữ ký của 9 người con, chỉ có bà An ghi thêm là không cho hẳn, chỉ ở thôi). Sau khi cụ Triệu và cụ My đã mất, ngày 20/7/2008, chín anh chị em họp gia đình bàn về việc phân chia tài sản thừa kế, nội dung thỏa thuận năm con trai được hưởng 3 khối tài sản do cha mẹ để lại, mỗi người con trai (5 người) góp 40 triệu để cho bốn bà con gái hưởng thừa kế của cha mẹ, tổng cộng là 200 triệu. Sau đó năm người con trai không thực hiện theo thỏa thuận nêu trên. Các nguyên đơn yêu cầu chia di sản thừa kế của cha mẹ và xin được chia hiện vật là ½ nhà đất số 74 Ng.Q để làm nơi thờ cúng cha mẹ. Năm bị đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (là vợ các bị đơn) đều thống nhất lời trình bày của nguyên đơn về cha mẹ và tài sản do cha mẹ để lại, nhưng không đồng ý chia thừa kế với lý do cha mẹ đã chia tài sản này cho năm anh em trai sử dụng. Tại bản án DSST số 12/2009/DSST ngày 15/9/2009 của TAND thị xã ST, thành phố HN nhận định: các đương sự thống nhất về hàng thừa kế và 3 khối tài sản trên là do cha mẹ nguyên đơn và bị đơn để lại, do năm người con trai đang quản lý. Tòa án định giá cả ba khối tài sản trên tổng cộng trị giá là 1.845.280.000đ - 148.989.000đ (là tài sản do các bị đơn phát triển) = 1.696.291.000đ. Cụ Đinh Thị My chết tháng 1 năm 1995, đến tháng 10 năm 2008 các nguyên đơn khởi kiện chia thừa kế là đã hết thời hiệu khởi kiện, nên tạm giao cho các bị đơn đang quản lý phần tài sản này. Phần di sản của cụ Triệu còn trong thời hiệu khởi kiện trị giá 848.145.700đ, chia thừa kế cho chín người con (5 người con trai được trích công sức duy trì là 50.000.000đ) và chia bằng hiện vật. Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 28/9/2009 ông Nguyễn Ngọc Tám kháng cáo không đồng ý giao nhà đất của ông tại 74 Ng.Q giao cho nguyên đơn; ông cho rằng việc định giá ½ nhà đất này gần 400 triệu là quá cao nên đề nghị Tòa án định giá lại và xin được ở lại nhà đất mà cha mẹ đã phân chia, nếu phải chia thừa kế thì chia bằng tiền. Ông Sơn có đơn kháng cáo cho rằng, phần đất của ông được định giá 11.000.000đ/1m2, bản án quyết định ông được sử dụng 12,25m2 x 11.000.000 = 134.750.000đ nhưng Tòa án lại quyết định 12,25m2 có trị giá 185.000.000đ và buộc ông phải thanh toán cho các thừa kế khác 86.307.000đ là không đúng. Ngày 10/10/2009 Ông Tân, ông Thắng không đồng ý chia di sản bằng hiện vật. Thực tế các nguyên đơn không có nhu cầu sử dụng nhà đất, trong khi đó 2 anh em (ông Tân, ông Tám) sử dụng 70m2, nay giao cho 2 anh em (2 gia đình) sử dụng chung 35m2 là không phù hợp với thực tế, ảnh hưởng đến cuộc sống hàng ngày của mình và yêu cầu định giá lại tài sản này. Tại bản án phúc thẩm số 359/2009/DSPT ngày 29/12/09, TAND thành phố HN quyết định: Hủy bản án sơ thẩm, để xét xử sơ thẩm lại; phần di sản của cụ My đã quá thời hiệu khởi kiện, không chia di sản của cụ My cho các đương sự. Tại bản án DSST số 01/2010/DSST ngày 19/10/2010, TAND thị xã ST nhận định: phần di sản của cụ Triệu trị giá 848.145.700đ (trích công sức cho năm con trai = 50.000.000), số còn lại chia đều chín con, mỗi người con gái được hưởng 88.682.000đ, mỗi người con trai được hưởng 98.682.000đ (trong đó có 10 triệu công sức duy trì, bảo quản di sản). Phần di sản của cụ My trị giá 848.145.700đ hết thời hiệu, chuyển thành tài sản chung chia đều cho 9 con, mỗi người được hưởng 94.238.000đ. Các tài sản do bị đơn phát triển được trên đất, bị đơn được sử dụng tài sản khác của cha mẹ còn lại trên đất các đương sự không tranh chấp. Từ đó quyết định (tóm tắt): Tổng cộng các kỷ phần được hưởng: của bốn người con gái (là bốn nguyên đơn) mỗi người được hưởng 182.920.000đ, năm con trai (là các bị đơn) mỗi người được hưởng 192.920.000đ (có 10 triệu công sức). Chia hiện vật: Bốn người con gái được hưởng bằng tiền tổng cộng là 731.680.000đ. Giao cho bốn người con gái sử dụng chung 45m2 đất trị giá 495.000.000đ và được sở hữu phần tài sản có trên đất gồm 1 nhà vệ sinh + bếp tại số 74 Ng.Q trị giá 10.640.000đ  và được nhận tiền chênh lệch còn thiếu do ông Sơn trả 76.580.000đ, ông Thắng trả 55.798.000đ, ông Tân trả 93.622.000đ. Giao ông Tân được sử dụng diện tích 25m2 đất trị giá 275.000.000đ và các tài sản trên đất tại số 74 Ng.Q trị giá 22.222.000đ, ông Tân trả chênh lệch cho các nguyên đơn là 93.662.000đ. Giao ông Thắng được sử dụng 59,63m2 đất và 8,37m lối đi tại 99 Ng.Q (phía trong) trị giá 470.268.000đ và được sở hữu phần tài sản trên đất gồm: 01 nhà xây cấp 4 và bếp + nhà vệ sinh trị giá tiền bằng 32.708.000đ, tổng cộng bằng 503.268.000đ; ông Thắng phải trả tiền chêch lệch về tài sản cho ông Tám 126.376.000đ, ông Hoà 84.256.000đ, bà Minh, bà Thư, bà An và bà Liên số tiền là 55.798.000đ. Giao ông Sơn sử dụng 24,5 m2 đất ở tại số 99 Ng.Q (giáp đường phố Ng.Q) trị giá 269.500.000đ và được sở hữu tài sản trên gồm: 01nhà xây 03 tầng trị giá 93.817.000đ (tổng cộng bằng 363.317.000đ, ông Sơn phải trả tiền chêch lệch về tài sản cho các nguyên đơn số tiền là 76.580.000đ). Giao ông Hoà sử dụng 51,06 m2 đất tại số 33/3 Ng.Q, trị giá 102.000.000đ và giao cho ông Hoà được sở hữu phần tài sản trên đất gồm: 01 nhà xây (gạch ba panh)+01 nhà mái lợp proximang trị giá 26.540.000đ; tổng cộng bằng 126.540.000 và ông Hoà được nhận tiền chênh lệch còn thiếu do ông Thắng trả là 84,256.000đ. Giao ông Tám được sử dụng 28,94m2 đất ở tại số 33/3 Ng.Q trị giá 57.880.000đ và giao cho ông Tám được sở hữu tài sản gồm: 01 nhà mái lợp proximang trị giá 8.664,000đ; tổng cộng bằng 66.544.000đ. Ông Tám được nhận tiền chênh lệch do ông Thắng trả là 126.376.000đ. (Diện tích đất giao cho các đương sự, có sơ đồ kèm theo). Sau khi xét xử sơ thẩm lần hai ông Hòa, ông Tám, ông Thắng kháng cáo không đồng ý việc chia hiện vật của Tòa án. Ông Hòa không đồng ý giao phần đất của ông cho ông Tám. Tại bản án DSPT số 61/2011/DSPT ngày 8/4/2011 của TAND thành phố HN có nhận định tương tự như bản án sơ thẩm, tuy nhiên do bản án sơ thẩm buộc các đương sự giao hiện vật và giá trị cùng một thời điểm nhưng vẫn buộc bên thanh toán tiền chịu lãi xuất nếu chậm thi hành án là không đúng pháp luật, từ đó quyết định: Sửa bản án DSST số 01/2010/DSST  ngày 19/10/ 2010 của TAND thị xã ST như sau: Chấp nhận yêu cầu chia tài sản chung và chia di sản thừa kế của bốn (04) nguyên đơn và các bị đơn. - Xác nhận di sản của vợ chồng cụ Triệu và cụ My gồm 03 khối tài sản là: nhà, đất tại số 74, số 99 và số 33/3 phố Ng.Q, có tổng trị giá 1.845.280.000đ. - Xác nhận công sức duy trì và phát triển di sản: của vợ chồng ông Thắng, bà Lý là 36.933.000đ; của vợ chồng ông Sơn, bà Cúc là 103.817.000đ; của vợ chồng ông Tân, bà Hải là 20.640.000đ; của vợ chồng ông Hoà, bà Cầm là 27.598.000đ; của vợ chồng ông Tám là 10.000.000đ (tổng cộng là 198.988.000, nên trị giá di sản của cụ Triệu, cụ My là 1.646.292.000đ). - Xác nhận thời điểm mở thừa kế cụ Triệu là tháng 9/2001, di sản thừa kế của cụ Triệu chia theo luật cho chín người con. - Xác nhận di sản cụ My là tài sản chung của chín  người con. Chia thừa kế và chia tài sản chung cho chín người con, mỗi người được hưởng bằng giá trị là 182.920.000đ. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn gộp chung bốn kỷ phần thừa kế và hưởng bằng hiện vật (4 kỷ phần có giá trị 731.680.000đ). - Gia đình ông Thắng được hưởng giá trị: kỷ phần chia thừa kế và chia tài sản chung, công sức duy trì di sản và phát triển di sản là 219.853.000đ. - Gia đình ông Tân được hưởng giá trị kỷ phần chia thừa kế, chia tài sản chung, công sức duy trì và phát triển di sản là 203.560.000đ. - Gia đình ông Sơn được hưởng giá trị kỷ phần chia thừa kế, chia tài sản chung, công sức duy trì và phát triển di sản là 286.737.000đ. - Gia đình ông Hoà được hưởng giá trị kỷ phần chia thừa kế, chia tài sản chung, công sức duy trì và phát triển di sản là 210.518.000đ. - Gia đình ông Tám được hưởng giá trị kỷ phần thừa kế, chia tài sản chung và duy trì di sản là 192.920.000đ. * Chia hiện vật: - Giao cho bốn bà: quyền sử dụng chung diện tích 45m2 đất ở tại số 74 phố Ng.Q và quyền sở hữu chung những tài sản có trên đất được giao gồm 1 bếp, 1 nhà vệ sinh; tổng trị giá 505.640.000đ và nhận thanh toán chênh lệch giá trị do các gia đình ông Thắng, gia đình ông Sơn và gia đình ông Tân thanh toán. Cụ thể: gia đình ông Thắng thanh toán 55.798.000đ;  gia đình ông Sơn thanh toán 76.580.000đ; gia đình ông Tân thanh toán 93.622.000đ. - Giao ông Tân quyền sử dụng diện tích đất là 25m2 tại 74 Ng.Q và sở hữu tài sản có trên đất, có tổng trị giá 297.222.000đ, nhưng phải thanh toán chênh lệch giá trị tài sản cho bốn  bà là các nguyên đơn số tiền là 93.662.000đ. - Giao ông Thắng quyền sử dụng 68m2 đất (gồm 59,63m2 đất ở và 8,37m2 đất lối đi) tại số 99 phố Ng.Q (phía trong) và quyền sở hữu những tài sản có trên đất được giao gồm 1 nhà xây cấp 4, 1 bếp + vệ sinh, tổng trị giá 503.268.000đ;  thanh toán chênh lệch tài sản cho 4 nguyên đơn là 55.798.000đ, thanh toán cho ông Hoà là 84.256.000đ và thanh toán cho ông Tám 126.376.000đ. - Giao ông Sơn quyền sử dụng 24,5m2 đất ở tại số 99 phố Ng.Q, (giáp đường phố Ng.Q) và quyền sở hữu tài sản có trên đất được giao là một nhà xây 3 tầng, tổng trị giá 363.317.000đ; thanh toán chênh lệch tài sản cho bốn nguyên đơn là 76.580.000đ. - Giao ông Hoà quyền sử dụng 51,06m2 đất ở tại 33/3 phố Ng.Q và sở hữu tài sản có trên đất được giao là 1 nhà xây gạch + 01 nhà lợp proximang, tổng trị giá 126.540.000đ; được nhận chênh lệch giá trị tài sản do ông Thắng thanh toán là 84.256.000đ. - Giao ông Tám quyền sử dụng 28,94m2 đất tại 33/3 phố Ng.Q và sở hữu tài sản có trên đất được giao là 01 nhà lợp proximang, tổng trị giá 66.544.000đ; được nhận chênh lệch giá trị tài sản do ông Thắng thanh toán là 126.376.000đ. Sau khi xét xử phúc thẩm, ông Hòa khiếu nại không đồng ý giao đất tại 33/3 Ng.Q cho ông Tám vì ông Tám không có yêu cầu đến đây ở. Mặt khác tại biên bản hòa giải ngày 3/6/2009, 4 bà nguyên đơn thừa nhận khi cha mẹ còn sống có nói cho vợ chồng ông Hòa nhà đất tại 33/3 Ng.Q, phần đất này ông đã ở đây từ năm 1973 đến nay đã gần 40 năm. Ông Tám khiếu nại không đồng ý giao đất tại 74 Ng.Q cho nguyên đơn, đất này ông đã được cha mẹ cho ở đến nay đã gần 50 năm, ông không đồng ý đến nhận đất của ông Hòa tại 33/3 Ng.Q theo quyết định của bản án phúc thẩm. Sau đó, bản án DSPT nêu trên đã bị kháng nghị, đề nghị cấp giám đốc thẩm xét xử hủy bản án DSPT và bản án DSST để xét xử sơ thẩm lại với nhận xét (trích) như sau: …Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm chia thừa kế theo pháp luật đối với tài sản của cụ Triệu, chia tài sản chung đối với tài sản của cụ My là đúng. Tuy nhiên, về cách chia hiện vật là chưa phù hợp, vì chia cho ông Tân được sử dụng diện tích đất 25m2 tại 74 Ng.Q, chia cho ông Tám phần diện tích đất 28,94m2 tại số 33/3 phố Ng.Q, nhưng theo Quyết định số 58/2009/QĐ-UB ngày 30/3/2009 của UBND thành phố HN quy định về hạn mức đất được tách thửa cho hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn thành phố HN phải có diện tích tối thiểu không nhỏ hơn 30m2, có chiều rộng mặt tiền và chiều sâu so với chỉ giới xây dựng từ 3m trở lên. Căn cứ kết quả xác minh tại cơ quan Tài nguyên Môi trường thị xã ST ngày 28/3/2014, thì nếu việc phân chia đất cho các đương sự không phù hợp diện tích theo quy định trên của UBND thành phố, nhưng các đương sự vẫn có quyền đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chung một thửa, thì vẫn được chấp nhận. Thực tế, đất của các cụ không rộng, ai cũng có nhu cầu sử dụng và một số người con đã đang trực tiếp sử dụng đất. Lẽ ra, phải giải thích để các đương sự thương lượng việc phân chia đất, nếu ai cũng có nhu cầu sử dụng thì vẫn phải chia và chỉ có quyền đề nghị cấp chung tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nếu các đương sự không đồng ý thì phải chia đất theo đúng quy định của UBND thành phố HN. Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm chưa làm rõ những nội dung trên nhưng vẫn chia đất cho các đương sự, có người không đủ điều kiện để cấp riêng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là chưa phù hợp. Căn cứ kết quả làm việc với Cơ quan thi hành án thị xã ST và đại diện UBND phường Ng.Q, thị xã ST ngày 28/3/2014, thì phần đất 28,94m2 tại 33/3 phố Ng.Q chia cho ông Tám, nhưng thực tế phần đất này ông Hòa đã chuyển nhượng cho bà Phạm Thị Hằng 24m2 từ ngày 25/5/2008 (giấy tờ viết tay), bà Hằng đã đóng thuế nhà đất từ năm 2009, hiện bà Hằng đang quản lý và sử dụng phần nhà đất này, nên Thi hành án không thể giao phần đất này cho ông Tám theo bản án được. Như vậy, việc thu thập chứng cứ của Tòa án cấp sơ thẩm, cấp phúc thẩm là có thiếu sót, không đưa bà Hằng tham gia tố tụng để giải quyết triệt để vụ án là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Trao đổi, bình luận Tại các lần xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, cấp sơ thẩm, cấp phúc thẩm đều chưa nghiên cứu toàn diện các quy định của pháp luật liên quan đến vấn đề thời hiệu khởi kiện, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, mà chỉ đơn thuần căn cứ vào thời điểm mở thừa kế để xác định di sản của cụ My hết thời hiệu khởi kiện, dẫn đến dù phải trải qua các lần xét xử khác nhau nhưng việc áp dụng pháp luật vẫn chưa bảo đảm chính xác. Khi xét xử sơ thẩm và phúc thẩm lần thứ nhất, Tòa án hai cấp đều xác định phần di sản của cụ My đã hết thời hiệu khởi kiện. Bản án sơ thẩm và phúc thẩm lần thứ hai và quyết định kháng nghị đều xác định di sản của cụ My đã được chuyển thành tài sản chung dù trong quá trình thương lượng, tự hòa giải, các thừa kế không đề cập, không thỏa thuận chuyển khối di sản của hai cụ thành tài sản chung của các thừa kế. Tại biên bản ngày 20/7/2008 cũng không có nội dung thể hiện là các đương sự thỏa thuận chuyển khối di sản của cụ My thành tài sản chung của các thừa kế. Biên bản này chỉ ghi nhận nội dung các đương sự đã tự hòa giải, thống nhất cách thức phân chia di sản của hai cụ. Do đó, việc xác định di sản của cụ My chuyển thành tài sản chung là không phù hợp với ý chí của đương sự, không đúng với những gì đã diễn ra với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Nghiên cứu diễn biến quá trình các đương sự tranh chấp, thỏa thuận thì thấy trước khi khởi kiện có hai lần các đương sự thỏa thuận về khối tài sản của hai cụ. Lần thứ nhất là ngày 25/4/2001 (khi cụ Triệu còn sống). Bản thỏa thuận có nội dung là để cho năm người con trai sử dụng tài sản của hai cụ, nhưng không có sự tham gia, không có ý kiến của cụ Triệu, không có chữ ký của cụ Triệu tại biên bản là xâm phạm đến quyền lợi của cụ Triệu. Bản thỏa thuận lần thứ hai là ngày 20/7/2008, sau khi cụ Triệu chết. Các đương sự (cả chín thừa kế) cùng nhau thương lượng, hòa giải và cuối cùng đã thống nhất cách phân chia khối di sản của hai cụ theo hướng năm người con trai được sử dụng, sở hữu ba khối di sản của hai cụ và mỗi người bỏ ra năm mươi triệu (tổng cộng hai trăm triệu) cho bốn bà con gái, chứ không thỏa thuận chuyển khối di sản thành tài sản chung. Thỏa thuận này là tự nguyện, không xâm phạm đến quyền lợi người khác, không vi phạm điều cấm của pháp luật. Tuy nhiên, những người con trai của hai cụ đã không tự nguyện thực hiện thỏa thuận và cũng chưa có cơ chế để thỏa thuận đó có hiệu lực cưỡng chế thi hành khi không tự nguyện thực hiện thỏa thuận nên dẫn đến tranh chấp, các nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án chia thừa kế.  Thỏa thuận ngày 20/8/2008 là một tài liệu, chứng cứ quan trọng, nhưng việc đánh giá, sử dụng tài liệu, chứng cứ đó như thế nào cho đúng với bản chất của sự việc và áp dụng chính xác các quy định của pháp luật dân sự là điều cần nghiên cứu, trao đổi thận trọng. Qua theo dõi thực tiễn giải quyết quan hệ thừa kế, hoặc liên quan đến di sản thừa kế, hiện nay, nhiều Thẩm phán khi tiếp nhận, giải quyết yêu cầu phân chia tài sản là di sản thừa kế thường chỉ nhìn nhận ở phạm vi rất hẹp, có trường hợp cũng không chú ý đến thời hiệu. Khi xem xét vấn đề thời hiệu cũng thường chỉ chú ý thời hạn 10 năm kể từ khi mở thừa kế. Sau khi có nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC thì Thẩm phán mới chú ý đến việc khối di sản đó có chuyển hóa thành tài sản chung hay không. Nhưng đồng thời cũng xuất hiện trường hợp nhận thức chưa thật đúng là không chia thừa kế được thì chia tài sản chung; không xem xét một cách toàn diện các vấn đề có liên quan, đặc biệt những trường hợp khi khởi kiện đã quá 10 năm. Theo tác giả để có thể xác định đúng quan hệ tranh chấp thì trước hết phải xem xét quan hệ gần gũi, trực tiếp là quan hệ thừa kế và tất cả các quy định có liên quan đến thời hiệu khởi kiện. Đặc biệt nếu nhận thấy kể từ khi mở thừa kế cho đến thời điểm khởi kiện đã quá 10 năm, thì lại càng phải quan tâm kiểm tra xem trong vụ án có căn cứ nào cho phép “kéo dài” thời gian khởi kiện chia thừa kế hay không, như: có thuộc trường hợp thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện không, có căn cứ nào để áp dụng trường hợp bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện không…? Nếu có căn cứ xác định thuộc một trong trường hợp nói trên thì phải chỉ ra các căn cứ trong hồ sơ, viện dẫn các quy định pháp luật tương ứng để xác định quan hệ pháp luật phải giải quyết vẫn là quan hệ tranh chấp thừa kế. Nếu không thuộc trường hợp trên thì cần xem có chuyển hóa từ di sản thừa kế sang tài sản chung của các thừa kế hay không. Muốn kết luận phần di sản nào đó trong vụ án trở thành tài sản chung của các thừa kế phải dựa trên căn cứ có ý nghĩa cốt lõi là: căn cứ vào sự thống nhất ý chí và thể hiện ý chí của tất cả các thừa kế có quyền hưởng di sản đó. Khi tất cả các thừa kế có quyền hưởng di sản thống nhất thỏa thuận chuyển khối di sản đó thành tài sản chung thì mới có thể xác định khối di sản thành tài sản chung. Sự thống nhất thỏa thuận của các thừa kế được thể hiện dưới những hình thức nhất định và trở thành chứng cứ của vụ án. Như phần trên đã phân tích, với tài liệu trong hồ sơ và căn cứ vào chính chứng cứ mà Tòa án cấp sơ thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm, kháng nghị giám đốc thẩm dựa vào để đưa ra kết luận thì tác giả thấy việc Tòa án các cấp xác định phần di sản của cụ My là tài sản chung của các thừa kế là không đúng, đã phạm các sai lầm cơ bản sau: Một là: trong vụ án này, các đương sự không thỏa thuận khối di sản của hai cụ hoặc phần di sản của cụ My chuyển thành tài sản chung, mà các thừa kế chỉ thỏa thuận cách thức phân chia di sản của cả hai cụ. Như vậy, di sản của cụ Triệu, di sản của cụ My không thể tự nhiên thành tài sản chung của các thừa kế hoặc tài sản chung của bất kỳ ai. Kết luận của các cấp Tòa án rõ ràng chưa đúng với thực tế, không phù hợp với thỏa thuận của các thừa kế và chưa phản ánh đúng bản chất của vụ án. Hai là: từ việc xác định phần di sản của cụ My được chuyển thành tài sản chung của các thừa kế chỉ là kết luận chủ quan của Hội đồng xét xử, không dựa trên căn cứ pháp lý nào dẫn đến sẽ không thể lý giải được dựa vào đâu để chia đều phần di sản của cụ My cho các thừa kế. Nếu biện luận rằng dựa vào thỏa thuận ngày 25/4/2001, thì trong thỏa thuận này các thừa kế chỉ giao cho năm người con trai sử dụng 3 khối tài sản là nhà đất, thuộc di sản của cả hai cụ, chứ không phải chỉ có phần di sản của cụ My. Điều quan trọng là khi đó cụ Triệu còn sống mà không có ý kiến của cụ và như trên đã phân tích thỏa thuận đó không có giá trị pháp lý. Xét về cả nội dung thỏa thuận lẫn giá trị pháp lý đều chưa đủ cơ sở để coi thỏa thuận đó là căn cứ xác định di sản của cụ My được chuyển thành tài sản chung. Nếu coi thỏa thuận ngày 20/7/2008 là căn cứ để xác định các thừa kế đã thỏa thuận chuyển di sản thành tài sản chung, thì không chỉ phần di sản của cụ My mà di sản của cả hai cụ đều chuyển thành tài sản chung. Vì bản thỏa thuận đó đã định đoạt toàn bộ khối di sản cùng theo một phương thức. Như vậy quyết định của các bản án là tự mâu thuẫn nhau, khi căn cứ pháp luật thừa kế để phân chia phần di sản của cụ Triệu, căn cứ quyền về tài sản chung để phân chia phần di sản của cụ My. Khi xử lý theo hướng đó, quyết định trong bản án sơ thẩm và phúc thẩm xuất hiện tiếp một mâu thuẫn mới, đó là trong bản thỏa thuận ngày 20/7/2008 không có nội dung nào xác định mỗi thừa kế có quyền sở hữu, sử dụng ngang nhau phần di sản của cụ My khi chuyển thành tài sản chung.  Trong bản thỏa thuận, các thừa kế của hai cụ đã xác định rất rõ quyền tài sản của mỗi thừa kế trong toàn bộ khối di sản của hai cụ là không bằng nhau. Năm người con trai hưởng phần lớn khối di sản của hai cụ, mỗi bà chỉ được hưởng 50.000.000đ. Như vậy thì logic tiếp theo khi Tòa án đã xác định phần di sản của cụ My chuyển thành tài sản chung thì buộc Tòa án phải xác định phần quyền của mỗi thừa kế trong khối tài sản chung đã được xác định đúng như các thừa kế đã thỏa thuận, nên việc Tòa án các cấp xác định quyền hưởng giá trị bằng nhau cho các thừa kế phần di sản của cụ My là không có căn cứ. Tuy thỏa thuận ngày 20/7/2008 không phải là căn cứ xác định di sản chuyển thành tài sản chung, nhưng dưới góc độ pháp lý thỏa thuận ngày 20/7/2008 của các thừa kế lại rất có giá trị, vì nội dung của thỏa thuận cho thấy các đương sự trong vụ án này không chỉ thừa nhận quyền và nghĩa vụ của các thành viên trong quan hệ thừa kế, mà còn tiến một bước cao hơn trong việc tự giải quyết mâu thuẫn, xung đột về lợi ích giữ các thừa kế đó là đã tự hòa giải, thỏa thuận việc phân chia lợi ích giữa các thừa kế. Do đó, bản thỏa thuận này phù hợp với một tình huống về bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện đã được dự liệu tại điểm c khoản 1 Điều 162 BLDS năm 2005 đó là: “các bên đã tự hòa giải với nhau”. Như vậy, căn cứ quy định tại điểm c khoản 1 Điều 162, căn cứ biên bản tự thỏa thuận, hòa giải ngày 20/7/2008 thì phải xác định vụ án này thuộc trường hợp áp dụng quy định về bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện. Theo quy định tại khoản 2 Điều 162 thì: “Thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự bắt đầu lại kể từ ngày tiếp theo sau ngày xảy ra sự kiện quy định tại khoản 1 Điều này”. Ngày 20/7/2008 các thừa kế lập biên bản tự thỏa thuận, hòa giải thì thời điểm để xác định ngày bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện chia thừa kế của vụ án này là ngày 21/7/2008. Theo quy định tại Điều 645 BLDS năm 2005 thì: “Thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.” Căn cứ vào các quy định nói trên của pháp luật thì tính đến ngày 22/7/2018 vụ án này mới hết thời hiệu khởi kiện. Do đó, ngày 26/10/2008, các nguyên đơn đã khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ My, cụ Triệu là còn trong thời hiệu khởi kiện. Lẽ ra, khi giải quyết tranh chấp, Tòa án vừa phải áp dụng điểm c khoản 1 Điều 162 BLDS, vừa phải áp dụng các quy định về chia thừa kế theo pháp luật trong BLDS để phân chia di sản của cả hai cụ theo pháp luật thì mới đúng. Từ các phân tích trên có thể thấy, có những quy định của pháp luật chưa  được các cấp Tòa án, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan có nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật nghiên cứu, áp dụng; đây là mắt xích yếu nhất của các cơ quan chức năng trong việc áp dụng pháp luật của vụ án này, cũng như một số trường hợp tương tự.                   Tưởng Duy Lượng – Nguyên Phó Chánh án TAND tối cao
Từ nhiều năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm xây dựng và tổ chức thực hiện các chính sách xã hội; coi đây vừa là mục tiêu, vừa là động lực để phát triển bền vững, ổn định chính trị - xã hội, thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ ta. Điều đó cũng bác bỏ những ý kiến sai trái cho rằng Nhà nước ta thiếu quan tâm đến quyền con người.   Thực vậy, Nghị quyết Trung ương 5 (khóa XI) chỉ rõ: “Chính sách xã hội có vai trò đặc biệt quan trọng, là mục tiêu, là động lực để phát triển nhanh và bền vững trong mọi giai đoạn phát triển”[1]. Mục tiêu cơ bản của chính sách xã hội là bảo đảm ổn định xã hội, tạo điều kiện cho sự tăng trưởng và phát triển, hướng tới sự công bằng, tiến bộ xã hội, không ngừng cải thiện, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và cuộc sống tốt đẹp, bình đẳng, hạnh phúc của nhân dân. Chính sách xã hội bao trùm trên mọi mặt của đời sống con người, như: điều kiện lao động, sinh hoạt, giáo dục, văn hóa, chăm sóc sức khỏe… và luôn gắn chặt, phụ thuộc rất lớn vào quá trình phát triển kinh tế, bản chất chính trị - xã hội của mỗi quốc gia, dân tộc. Chính sách xã hội và quyền con người có mối quan hệ chặt chẽ. Thực hiện tốt chính sách xã hội là một trong những bảo đảm quan trọng về quyền con người ở nước ta. Bởi, quyền con người luôn gắn bó mật thiết với các quyền cơ bản của dân tộc, với quyền công dân; phụ thuộc vào các điều kiện phát triển kinh tế - xã hội, lịch sử, văn hóa, dân tộc. Đảng ta xác định: "Chăm lo cho con người, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tất cả mọi người; tôn trọng và thực hiện các điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã ký kết tham gia"[2]. Thực hiện chính sách xã hội chính là quá trình cụ thể hóa quyền con người đã được ghi nhận và bảo vệ trong Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước cũng như các thỏa thuận pháp lý quốc tế[3]. Thông qua chính sách xã hội mà quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được bảo đảm ngày càng đầy đủ, hoàn thiện hơn, góp phần tạo động lực to lớn trong sự nghiệp xây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Cùng với quá trình đổi mới, phát triển kinh tế - xã hội, Đảng, Nhà nước ta đã nhận thức ngày càng cụ thể, đầy đủ hơn tầm quan trọng, mục tiêu và nội dung của việc giải quyết vấn đề xã hội, đặc biệt là an sinh xã hội, phúc lợi xã hội, bảo đảm toàn diện và tốt hơn quyền con người; khẳng định mục tiêu chính sách xã hội là nhằm xây dựng và phát triển con người, đem lại cuộc sống hạnh phúc cho con người, góp phần lành mạnh hóa xã hội và phát triển bền vững đất nước. Với nhận thức đó, trong những năm qua, nhất là trong thời kỳ đổi mới, Đảng, Nhà nước ta không ngừng hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về lĩnh vực xã hội; nguồn lực đầu tư được tăng cường và đa dạng hóa; phát huy được sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân thực hiện chính sách xã hội, chăm lo cho con người, tạo động lực xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nhìn lại 30 năm đổi mới, có thể nhận thấy, chính sách xã hội ở nước ta được triển khai tích cực, toàn diện, với hệ thống văn bản pháp lý đồng bộ, ngày  càng hoàn thiện; phản ánh tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa, đáp ứng được nguyện vọng của nhân dân và đã đạt được những thành tựu hết sức quan trọng trong việc chăm lo cho con người. Thứ nhất, các chính sách về lao động và việc làm của Nhà nước đã chuyển biến theo hướng ngày càng phù hợp hơn với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Bộ luật Lao động ban hành năm 1994 được sửa đổi nhiều lần (2002, 2006, 2007, 2012) đã tạo hành lang pháp lý cho việc hoàn thiện các tiêu chuẩn lao động, thiết lập quan hệ lao động giữa các chủ thể, điều chỉnh các quan hệ xã hội có liên quan đến quan hệ lao động, như: hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể, tiền lương, bảo hiểm xã hội, thời gian làm việc, vệ sinh lao động, kỷ luật lao động, giải quyết tranh chấp lao động, đình công, v.v. Việc xây dựng, triển khai thực hiện Luật Việc làm và Chương trình việc làm công đã góp phần định hướng nghề nghiệp, ổn định và phát triển thị trường lao động ở Việt Nam. Bình quân mỗi năm, nước ta đã tạo ra được từ 1,5 đến 1,6 triệu việc làm mới. Chất lượng lao động qua đào tạo không ngừng tăng lên, cơ cấu ngày càng phù hợp thị trường lao động. Năm 2014, lao động trong khu vực chính thức đạt trên 30% tổng số lao động. Thứ hai, Đảng và Nhà nước ta luôn nhất quán về chính sách giảm nghèo bền vững đi đôi với khuyến khích làm giàu hợp pháp. Đẩy mạnh việc triển khai thực hiện các nghị quyết của Chính phủ và Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo, những năm qua, nước ta thường xuyên chú trọng chính sách giảm nghèo đa chiều và khắc phục nguy cơ tái nghèo, nhất là đối với các huyện, xã nghèo, ở khu vực biên giới, biển, đảo còn nhiều khó khăn; thu hẹp chênh lệch về mức sống và an sinh xã hội so với bình quân cả nước. Đồng thời, tiến hành điều chỉnh chuẩn nghèo theo từng thời kỳ phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước. Nhờ đó, thành tựu về giảm nghèo của Việt Nam được Liên hợp quốc và cộng đồng quốc tế đánh giá cao; tỷ lệ hộ nghèo cả nước hằng năm giảm từ 1,5 đến 2%; các huyện, xã đặc biệt khó khăn giảm 4% theo tiêu chuẩn nghèo từng giai đoạn. Năm 1993, tỷ lệ hộ nghèo cả nước là 58,1%, đến năm 2014 giảm xuống còn 5,8 - 6%; phấn đấu đến năm 2015, tỷ lệ hộ nghèo còn dưới 5%, vùng đặc biệt khó khăn dưới 3%. Thứ ba, việc quan tâm chăm sóc sức khỏe cho nhân dân có nhiều tiến bộ. Hệ thống cơ sở y tế đã được hình thành trong cả nước; số bác sĩ, số giường bệnh trên một vạn dân tăng nhanh; hệ thống dịch vụ y tế ngày càng mở rộng và nâng cao chất lượng. Trong 10 năm gần đây, các quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng đã được thể chế hóa trong Hiến pháp năm 2013 và 20 luật liên quan đến lĩnh vực y tế, dân số, tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc chăm sóc sức khỏe người dân. Các chủ trương, giải pháp phát triển hệ thống y tế tương đối toàn diện, coi trọng cả về xây dựng thể chế và phát triển đồng bộ: y tế dự phòng, y học cổ truyền, quản lý thuốc, khám, chữa bệnh, phục hồi chức năng, vệ sinh an toàn thực phẩm... Tỷ lệ người tham gia bảo hiểm y tế hiện nay là trên 70% dân số (khoảng trên 61 triệu người); phấn đấu đến năm 2020, cơ bản hoàn thành lộ trình bảo hiểm y tế toàn dân. Thứ tư, chính sách ưu đãi người có công được Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm và ngày càng mở rộng đối tượng, mức thụ hưởng với chế độ ưu đãi toàn diện hơn. Cả nước hiện có khoảng 8,8 triệu người có công, chiếm khoảng 10% dân số, trong đó có khoảng 1,4 triệu người có công và thân nhân được hưởng trợ cấp thường xuyên, với mục tiêu là bảo đảm mức sống của người có công bằng hoặc cao hơn mức sống trung bình của dân cư trên địa bàn. Cùng với chính sách ưu đãi người có công, các đối tượng tham gia các thời kỳ kháng chiến, chiến tranh bảo vệ Tổ quốc (quân nhân, thanh niên xung phong, dân quân du kích, dân công hỏa tuyến,…) tiếp tục được hưởng các chế độ, chính sách và hỗ trợ của Nhà nước và cộng đồng. Các thiết chế chăm sóc người có công, tri ân các anh hùng, liệt sĩ ngày càng hoàn thiên và được quan tâm đầu tư. Công tác tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ được chú trọng, thể hiện tinh thần “Hiếu nghĩa bác ái”, “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc ta trong điều kiện mới. Thứ năm, xây dựng và từng bước hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội toàn diện, đa dạng, ngày càng mở rộng, hiệu quả. Nhà nước giữ vai trò chủ đạo kết hợp với xã hội hóa, mở rộng sự chia sẻ của cộng đồng; đồng thời, phát triển mạnh hệ thống bảo hiểm (bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp), khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để người lao động tiếp cận và tham gia. Đến năm 2014, cả nước có hơn 11 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, 190 nghìn người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện và hơn 9 triệu người tham gia bảo hiểm thất nghiệp. Hệ thống an sinh xã hội không ngừng phát triển phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội, khả năng huy động và cân đối nguồn lực của đất nước trong từng thời kỳ; trong đó, ưu tiên những người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, người nghèo và đồng bào dân tộc thiểu số. Chính sách bảo trợ xã hội được xây dựng và từng bước hoàn thiện, đối tượng hưởng đa dạng, mức hưởng ngày càng nâng lên; mở rộng các hình thức cứu trợ xã hội, giảm thiểu rủi ro, v.v. Thứ sáu, từng bước bảo đảm cung ứng với chất lượng ngày càng cao hơn một số dịch vụ xã hội cơ bản cho người dân. Người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn và đồng bào dân tộc thiểu số được bảo đảm nhu cầu tối thiểu về giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch, thông tin. Nhà nước đã quan tâm xây dựng, thực hiện chiến lược phát triển nhà ở quốc gia và chương trình xóa nhà tạm, phát triển nhà ở xã hội; xây dựng, ban hành và thực hiện nhiều chính sách, pháp luật về bình đẳng giới, chăm sóc bà mẹ và trẻ em, hôn nhân và gia đình, chăm sóc người cao tuổi, phòng, chống tệ nạn xã hội, bạo lực gia đình; tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về dân tộc, tôn giáo; tăng cường đầu tư về kết cấu hạ tầng, kinh phí cho miền núi, vùng sâu, vùng xa; bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các dân tộc và các tôn giáo trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Có thể khẳng định, những thành tựu về chính sách xã hội trong thời gian qua thể hiện sự nỗ lực vượt bậc của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Điều đó góp phần không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, nhất là những người có công, gia đình chính sách. Đồng thời, phản ánh truyền thống nhân văn của dân tộc và bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa luôn lấy con người làm trung tâm, vì sự phát triển tự do và toàn diện của con người, phù hợp với điều kiện của đất nước ta trong thời kỳ đầu quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Những thành tựu đó là tiền đề rất quan trọng để tạo sự đồng thuận trong xã hội, đưa nước ta ngày càng phát triển, tiến nhanh, tiến vững chắc trên con đường chủ nghĩa xã hội; khẳng định vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Điều đáng chú ý là, những kết quả đạt được nói trên càng trở nên quan trọng trong bối cảnh đất nước còn nhiều khó khăn (nước có thu nhập trung bình thấp). Qua đó, mới thấy hết được những cố gắng của Đảng, Nhà nước ta trong việc chăm lo đến quyền con người; đồng nghĩa với việc bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động cho rằng quyền con người ở Việt Nam không được bảo đảm. Quyền con người mặc dù mang giá trị phổ quát, nhưng việc bảo đảm quyền ấy đến đâu, đến mức độ nào còn tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa, tôn giáo và phong tục tập quán… của mỗi nước, mỗi dân tộc. Vì vậy, không thể đem điều kiện của nước này để áp vào quyền con người của nước khác để so sánh và phê phán. Cách làm đó không những không phù hợp với thực tiễn và dư luận quốc tế mà còn vi phạm nhân quyền, hơn thế là quyền của một quốc gia - dân tộc. Việt Nam không phủ nhận trong thực hiện bảo đảm quyền con người còn có mặt hạn chế, nhưng xét một cách tổng thể thì mặt được, mặt ưu việt là chủ yếu. Để bảo đảm quyền con người ở nước ta ngày càng tốt hơn, thời gian tới, các cấp, các ngành và địa phương cần tiếp tục quán triệt sâu sắc và thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 5, Trung ương 7 (khóa XI) về chính sách xã hội đến năm 2020; bám sát mọi mặt đời sống xã hội, gắn bó mật thiết với nhân dân để những thành tựu về chính sách, an sinh xã hội sẽ được tiếp tục phát huy, đời sống của người dân ngày càng được cải thiện./.             Thiếu tướng, TS. TRẦN VĂN MINH Cục trưởng Cục Chính sách     [1]- Nghị quyết Trung ương 5 (khoá XI), Nxb CTQG, H. 2012, tr. 68. [2]- ĐCSVN - Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb CTQG, H. 2001, tr. 134. [3]-Việt Nam đã tham gia 8 Công ước, 2 Nghị định thư quốc tế về quyền con người và là thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2014 - 2016.    
1. Quá trình hình thành, phát triển quy định của pháp luật về định giá đất Từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng cộng sản Việt Nam năm 1986, với chủ trương, chính sách “mở cửa”, nền kinh tế Việt Nam bắt đầu chuyển đổi từ mô hình quản lí “kinh tế kế hoạch hoá tập trung” sang mô hình “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Theo đó, nền kinh tế nhiều thành phần chính thức được thừa nhận, tạo điều kiện cho giao lưu kinh tế, thương mại phát triển. Để tạo dựng hành lang pháp lí cho những hoạt động giao thương này, cơ quan lập pháp đã đặc biệt chú trọng việc ban hành các văn bản pháp luật nhằm điều chỉnh các quan hệ kinh tế vận hành theo quỹ đạo của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Một trong những văn bản quan trọng sớm được ban hành trong thời kì đổi mới là Luật đất đai năm 1987 - văn bản luật đầu tiên điều chỉnh quan hệ thuộc lĩnh vực đất đai, yếu tố được xem là tư liệu sản xuất, yếu tố đầu vào quan trọng của mọi hoạt động sống, hoạt động sản xuất hàng hoá, dịch vụ… Do vừa bước ra khỏi nền kinh tế “quan liêu, bao cấp”, Luật đất đai năm 1987 vẫn còn ảnh hưởng tính bao cấp trong quan hệ sử dụng đất. Quan hệ sử dụng đất đóng khung theo “chiều dọc” với công thức “Nhà nước - Người sử dụng đất”, người sử dụng đất có nhu cầu thì được Nhà nước cấp đất, khi hết nhu cầu thì phải trả lại đất cho Nhà nước; pháp luật đất đai quy định nghiêm cấm việc “mua, bán, phát canh thu tô dưới mọi hình thức”.(1) Tuy nhiên, pháp luật thời kì này lại cho phép các chủ thể sử dụng đất hợp pháp được “hưởng thành quả lao động, kết quả đầu tư trên đất được giao, được quyền chuyển, nhượng, bán nhà ở, vật kiến trúc khác, cây lâu năm”(2) trên đất được giao. Ở giai đoạn này, pháp luật đất đai chưa thừa nhận đất đai là tài sản được tham gia giao lưu trong nền kinh tế thị trường, vì thế chưa xây dựng khuôn khổ định chế về giá đất. Hoạt động mua bán đất đai bị xử lí bằng chế tài xử phạt hành chính.(3) Đây là nguyên nhân cản trở việc hình thành thị trường bất động sản; phát sinh những giao dịch “ngầm” về mua bán đất đai mà hệ luỵ mang lại là những khiếu nại, khiếu kiện, những quan hệ đất đai phức tạp. Nền kinh tế thị trường không có sự tham gia đầy đủ của các loại hàng hoá bất động sản là khiếm khuyết lớn và là rào cản cho sự tặng trưởng của nền kinh tế. Theo đánh giá của Hernando de Soto - học giả người Peru thì “bất động sản chiếm khoảng 50% của cải quốc gia của các nước tiên tiến; ở các nước đang phát triển, con số này là gần ba phần tư”.(4) Trong khoảng thời gian từ năm 1987 đến năm 1993, việc các chủ thể sử dụng đất không được quyền mua bán, chuyển nhượng đất đai đồng nghĩa với việc khối lượng tài sản đất đai được đánh giá chiếm tới 75% tổng giá trị tài sản của quốc gia đã không được tham gia vào sự vận động của nền kinh tế thị trường; một nguồn vốn lớn không đưa vào lưu thông trên thị trường và đương nhiên thị trường bất động sản nói chung và thị trường đất đai nói riêng dường như chưa được hình thành. Trước tình hình đó, việc ban hành Luật đất đai năm 1993 với nhiều nội dung quan trọng đã giúp khai thông quan hệ sử dụng đất như: Việc xác lập các hình thức sử dụng đất khác nhau (giao đất, cho thuê đất; quy định về thời hạn sử dụng đất); mở ra các quyền năng về chuyển quyền sử dụng đất cho các chủ thể sử dụng đất hợp pháp… Đặc biệt, Luật đất đai năm 1993 lần đầu tiên thừa nhận đất đai là loại tài sản có giá, “Nhà nước xác định giá các loại đất để tính thuế chuyển quyền sử dụng đất, thu tiền khi giao đất hoặc cho thuê đất, tính giá trị tài sản khi giao đất, bồi thường thiệt hại về đất khi thu hồi đất. Chính phủ quy định khung giá các loại đất đối với từng vùng và theo từng thời gian”.(5) Như vậy, giá đất “khoản tiền quy định từ mức tối thiểu tới mức tối đa cho từng loại đất nhằm xác định nghĩa vụ tài chính của người sử dụng đất”(6) mang sứ mệnh quan trọng trong hoạt động quản lí và sử dụng đất tại Việt Nam; là cơ sở đầu tiên và cần thiết cho sự hình thành và phát triển thị trường bất động sản một cách toàn diện, trong đó có thị trường quyền sử dụng đất. Điều 12 Luật đất đai năm 1993 lần đầu tiên tiếp cận thuật ngữ “giá đất” trên cơ sở phân định các loại, các nhóm đất khác nhau để xác định giá các loại đất. Để cụ thể hoá các quy định về giá đất theo Luật đất đai năm 1993, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 80-CP ngày 06/11/1993 quy định khung giá các loại đất để tính thuế chuyển quyền sử dụng đất, thu tiền khi giao đất, cho thuê đất, tính giá trị tài sản khi giao đất, bồi thường thiệt hại về đất khi thu hồi. Việc định giá đất được xác định trên cơ sở phân loại các nhóm đất khác nhau như đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất khu dân cư nông thôn, đất đô thị và ở mỗi nhóm đất được phân hạng đất theo vị trí địa lí. Cụ thể: 1) Đối với đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, giá đất được xác định cho từng hạng đất tính thuế sử dụng đất nông nghiệp và chia theo ba loại xã: đồng bằng, trung du, miền núi; 2) Đối với đất khu dân cư nông thôn, giá đất được xác định cho từng hạng đất và chia theo ba loại xã: đồng bằng, trung du, miền núi; 3) Đối với đất khu dân cư ở các vùng ven đô thị, thị trấn, đầu mối giao thông và trục đường giao thông chính, khu thương mại, khu du lịch, khu công nghiệp, giá đất được xác định theo hai loại và chia thành sáu hạng đất; 4) Đối với khu dân cư ở đô thị, giá đất được xác định cho năm loại đô thị theo Quyết định của Hội đồng bộ trưởng số 132/HĐBT ngày 05/5/1990. Mỗi loại đô thị được chia ra thành ba đến bốn loại đường phố, mỗi loại đường phố được chia ra bốn vị trí đất khác nhau, từ đó hình thành bảng khung giá đất. Trên cơ sở này, uỷ ban nhân dân (UBND) tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quy định giá các loại đất, hạng đất phù hợp với thực tế tại mỗi địa phương theo nguyên tắc giá đất do địa phương quy định sát với giá thị trường và không thấp hơn bảng khung giá chuẩn do Chính phủ ban hành. Theo Nghị định của Chính phủ số 87-CP ngày 17/8/1994 quy định về khung giá các loại đất (thay thế Nghị định số 80-CP), căn cứ vào bảng khung giá của Chính phủ, UBND cấp tỉnh quy định giá các loại đất để làm cơ sở tính thuế chuyển quyền sử dụng đất, thu tiền khi giao đất, cho thuê đất, tính giá trị tài sản khi giao đất, bồi thường thiệt hại về đất khi thu hồi. Đồng thời Nghị định số 87-CP cũng xây dựng và hình thành hệ số k - hệ số điều chỉnh khung giá được sử dụng cho những trường hợp cùng một loại đô thị mà đất có khả năng sinh lợi khác nhau, mức độ hoàn thiện cơ sở hạ tầng khác nhau thì địa phương được phép vận dụng hệ số điều chỉnh khung giá từ 0,8 đến 1,2 lần mức giá của cùng loại đô thị, cùng loại đường phố và vị trí đất quy định trong bảng khung giá đất đô thị. Giá các loại đất do địa phương quy định được xác định với nguyên tắc không được thấp hơn giá tối thiểu và không được cao hơn giá tối đa của khung giá và hệ số điều chỉnh khung giá. Tuy nhiên, đến Nghị định của Chính phủ số 17-CP ngày 21/3/1998 sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 4 Nghị định số 87-CP lại quy định theo hướng giá các loại đất do địa phương quy định có thể thấp hơn giá tối thiểu hoặc cao hơn giá tối đa của khung giá các loại đất ban hành kèm theo Nghị định số 87-CP và hệ số k đã được điều chỉnh tại Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 302/TTg ngày 13/5/1996 nhưng mức giảm hoặc tăng giá không vượt quá 50%. Tiếp theo, Luật đất đai năm 2003 đã làm rõ thuật ngữ “giá đất” tại Điều 4, theo đó “giá đất là số tiền tính trên một đơn vị diện tích đất do Nhà nước quy định hoặc được hình thành trong giao dịch về quyền sử dụng đất”;(7) Điều 56 Luật đất đai năm 2003 xác định  rõ  những  nguyên  tắc  trong  việc  xác định giá đất như sau: Thứ nhất, giá đất do Nhà nước quy định phải sát với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường trong điều kiện bình thường; khi có chênh lệch lớn so với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường thì phải điều chỉnh cho phù hợp. Đây là nguyên tắc mang tính kế thừa từ Nghị định số 80-CP. Việc luật hoá nguyên tắc này được xem là bước đột phá nhằm khẳng định quan điểm trong hoạt động quản lí nhà nước về đất đai là hướng tới giá đất do Nhà nước ban hành thực sự sát với giá thị trường nhằm đảm bảo việc xác định các nghĩa vụ tài chính trong quan hệ đất đai một cách chính xác và công bằng; đồng thời hướng tới việc xác định giá đất trong đền bù khi Nhà nước thu hồi đất cho người sử dụng đất một cách thoả đáng. Tuy nhiên, trong thực tế 10 năm thi hành Luật đất đai năm 2003 cho thấy mặc dù các cơ quan quản lí nhà nước về định giá đất đã rất cố gắng song giá đất do Nhà nước quy định so với giá đất giao dịch trên thị trường luôn có sự chênh lệch khá lớn. Sự chênh lệch này đã gây ra nhiều bức xúc trong xã hội, nhất là công tác đền bù, giải phóng mặt bằng hay thu hồi đất. Thực tế đó đòi hỏi phải có những giải pháp đồng bộ để giá đất do Nhà nước quy định phải phù hợp với giá giao dịch trên thị trường. Thứ hai, giá đất do Nhà nước quy định đối với các thửa đất liền kề nhau, có điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, kết cấu hạ tầng như nhau, có cùng mục đích sử dụng hiện tại, cùng mục đích sử dụng theo quy hoạch thì mức giá như nhau. Thứ  ba, giá đất do Nhà nước quy định đối với đất tại khu vực giáp ranh giữa các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, có điều kiện tự nhiên, kết cấu hạ tầng như nhau, có cùng mục đích sử dụng hiện tại, cùng mục đích sử dụng theo quy hoạch thì mức giá như nhau. Luật đất đai năm 2003 cũng bước đầu tạo dựng cơ sở cho việc hình thành các phương pháp xác định giá đất bằng việc trao quyền xây dựng phương pháp xác định giá đất cho Chính phủ. Trên cơ sở đó, Chính phủ ban hành Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 quy định về khung giá các loại đất và phương pháp xác định giá đất. Theo đó có các phương pháp xác định giá đất sau: - Phương pháp so sánh trực tiếp: Là phương pháp xác định mức giá thông qua việc tiến hành phân tích các mức giá đất thực tế đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên thị trường của loại đất tương tự (về loại đất, diện tích đất, thửa đất, hạng đất, loại đô thị, loại đường phố và vị trí) để so sánh, xác định giá của thửa đất, loại đất cần định giá. Phương pháp so sánh trực tiếp được áp dụng để định giá đất khi trên thị trường có các loại đất tương tự đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất so sánh được với loại đất cần định giá. Giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất của loại đất tương tự sử dụng để phân tích, so sánh với loại đất cần định giá phải là giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường trong điều kiện bình thường. - Phương pháp thu nhập: Là phương pháp xác định mức giá tính bằng thương số giữa mức thu nhập thuần tuý thu được hàng năm trên 1 đơn vị diện tích đất so với lãi suất tiền gửi tiết kiệm bình quân một năm (tính đến thời điểm xác định giá đất) của loại tiền gửi VND kì hạn 01 năm (12 tháng) tại ngân hàng thương mại nhà nước có mức lãi suất tiền gửi tiết kiệm cao nhất trên địa bàn. Phương pháp thu nhập chỉ áp dụng để định giá cho các loại đất xác định được các khoản thu nhập mang lại từ đất. Ngày 27/7/2007, Chính phủ ban hành Nghị định số 123/2007/NĐ-CP sửa đổi một số điều của Nghị định số 188/2004/NĐ-CP, theo đó bổ sung thêm hai phương pháp xác định giá đất: - Phương pháp chiết trừ: Là phương pháp xác định giá đất của thửa đất có tài sản gắn liền với đất bằng cách loại trừ phần giá trị tài sản gắn liền với đất ra khỏi tổng giá trị bất động sản (bao gồm giá trị của đất và giá trị của tài sản gắn liền với đất). Phương pháp chiết trừ được áp dụng để xác định giá đất của thửa đất có tài sản gắn liền với đất trong trường hợp không có đủ số liệu về giá thị trường của các thửa đất trống tương tự để áp dụng phương pháp so sánh trực tiếp, trong khi có thể thu thập số liệu về giá thị trường của các thửa đất có tài sản gắn liền với đất tương tự với thửa đất cần xác định giá. - Phương pháp thặng dư: Là phương pháp xác định giá đất của thửa đất trống có tiềm năng phát triển theo quy hoạch hoặc được phép chuyển đổi mục đích sử dụng để sử dụng tốt nhất bằng cách loại trừ phần chi phí ước tính để tạo ra sự phát triển ra khỏi tổng giá trị phát triển giả định của bất động sản. Phương pháp thặng dư được áp dụng để xác định giá đất của các thửa đất trống có tiềm năng phát triển do thay đổi quy hoạch hoặc do chuyển mục đích sử dụng đất trong khi không có giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất tương tự trên thị trường để áp dụng phương pháp so sánh trực tiếp. Hiệu lực của bảng giá đất do UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương xây dựng và ban hành trên cơ sở bảng khung giá đất của Chính phủ thời kì này được xác định hàng năm từ ngày 01/01 tới ngày 31/12 của năm đó và được công bố công khai vào ngày 01/01 hàng năm. Bảng giá đất này được sử dụng làm căn cứ để tính thuế sử dụng đất, thuế thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất; tính tiền sử dụng đất và tiền thuê đất khi giao đất, cho thuê đất không thông qua đấu giá quyền sử dụng đất hoặc đấu thầu dự án có sử dụng đất; tính giá trị quyền sử dụng đất khi giao đất không thu tiền sử dụng đất, lệ phí trước bạ, bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất; tính tiền bồi thường đối với người có hành vi vi phạm pháp luật về đất đai mà gây thiệt hại cho Nhà nước.(8) Như vậy, kể từ khi văn bản luật đất đai đầu tiên được ban hành - Luật đất đai năm 1987 cho tới trước thời điểm ban hành Luật đất đai năm 2013 là quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật về định giá đất. Nếu Luật đất đai năm 1987 vẫn còn ảnh hưởng tính bao cấp trong quan hệ sử dụng đất, đất đai chưa là đối tượng giao lưu trong nền kinh tế, đất đai không có giá, không được định giá thì Luật đất đai năm 1993 đã thay đổi căn bản cách tiếp cận đối với đất đai - loại tài sản đặc biệt của mỗi quốc gia. Theo đó, Luật đất đai năm 1993 thừa nhận đất đai là loại tài sản có giá, được định giá với những nguyên tắc xác định; đồng thời xác lập các quy định về quyền chuyển quyền sử dụng đất của các chủ thể tham gia trong quan hệ pháp luật đất đai, tạo cơ sở cho đất đai trở thành đối tượng được giao lưu trong nền kinh tế. Đặc biệt, đến Luật đất đai năm 2003, với các quy định về định giá đất đã tạo nên bước tiến quan trọng trong hoạt động quản lí nhà nước về đất đai. Ở Luật đất đai năm 1993, “giá đất do Nhà nước quy định được áp dụng cho nhiều mục đích khác nhau, vừa áp dụng để thu các nghĩa vụ tài chính của người sử dụng đất, vừa là cơ sở để người sử dụng thoả thuận khi thực hiện các giao dịch dân sự về đất đai, là căn cứ để xác định bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất. Với các quy định trước đây thì giá đất do Nhà nước xác định thể hiện sự bao cấp trong giao đất, cho thuê đất. Do vậy, giá đất này được sử dụng để tính bồi thường cho người bị Nhà nước thu hồi đất đã không nhận được sự đồng thuận của người sử dụng đất. Hơn nữa, giá đất này lại không thể là giá mà các bên thoả thuận khi chuyển quyền sử dụng đất. Đây là nguyên nhân làm nảy sinh những vấn đề tiêu cực và phức tạp trong thực tế như: “lách luật để trốn thuế”, lậu thuế; khiếu nại, tố cáo… kéo dài trong lĩnh vực bồi thường, giải phóng mặt bằng”.(9) Đến Luật đất đai năm 2003, nguyên tắc giá đất do Nhà nước quy định “sát với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường trong điều kiện bình thường”(10) đã được luật định; đồng thời Luật cũng xây dựng bốn phương pháp định giá đất nhằm đảm bảo cho nguyên tắc này được thực hiện trong thực tiễn. Tuy nhiên, việc áp dụng các quy định của Luật đất đai năm 2003 về nguyên tắc và phương pháp định giá đất trong việc xác định nghĩa vụ tài chính, xác định giá bồi thường khi thu hồi đất vẫn còn gặp nhiều vướng mắc. Luật đất đai năm 2013 được thông qua và có hiệu lực kể từ ngày 01/07/2014 với nhiều nội dung được kì vọng là khung khổ pháp lí toàn diện nhằm khắc phục những bất cập, hạn chế trong hoạt động quản lí, sử dụng đất hiện nay, trong đó có định giá đất. Vấn đề này sẽ được đi sâu phân tích ở phần sau để thấy rõ được những sửa đổi căn bản và những giá trị mang lại trong quản lí nhà nước về định giá đất ở những nội dung: Nguyên tắc định giá đất; phương pháp định giá đất và áp dụng phương pháp định giá đất; khung giá đất và xây dựng, áp dụng bảng giá đất; định giá đất cụ thể và tư vấn xác định giá đất.   2. Nội dung quản lí nhà nước về định giá đất theo Luật đất đai năm năm 2013 Theo Luật  đất  đai  năm  2013  và  Nghị định của Chính phủ số 44/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014, quản lí nhà nước về định giá đất gồm những nội dung đáng chú ý sau đây: Thứ nhất, về nguyên tắc định giá đất So với Luật đất đai năm 2003, Luật đất đai năm 2013 đã bổ sung 2 nguyên tắc và chỉnh sửa 1 nguyên tắc. Cụ thể, các nguyên tắc định giá đất bao gồm: 1) Theo mục đích sử dụng đất hợp pháp tại thời điểm định giá; 2) Theo thời hạn sử dụng đất; 3) Phù hợp với giá đất phổ biến trên thị trường của loại đất có cùng mục đích sử dụng đã chuyển nhượng, giá trúng đấu giá quyền sử dụng đất đối với những nơi có đấu giá quyền sử dụng đất hoặc thu nhập từ việc sử dụng đất; 4) Cùng một thời điểm, các thửa đất liền kề nhau có cùng mục đích sử dụng, khả năng sinh lợi, thu nhập từ việc sử dụng đất tương tự như nhau thì có mức giá như nhau.(11) Với việc quy định như trên, Luật đất đai năm 2013 đã phần nào cho thấy khả năng sẽ khắc phục được những tồn tại về nguyên tắc định giá đất trong Luật đất đai năm 2003, đó là: Chưa định lượng được thế nào là “sát với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường trong điều kiện bình thường”;(12) chưa quy định cụ thể theo mục đích sử dụng đất mà mới chỉ dừng lại xem xét về mục đích sử dụng đất trong mối tương quan giữa các thửa đất liền kề nhau nếu “có điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, kết cấu hạ tầng như nhau, có cùng mục đích sử dụng hiện tại, cùng mục đích sử dụng theo quy hoạch thì mức giá như nhau”;(13) chưa quy định cụ thể việc định giá đất theo thời hạn sử dụng đất đồng thời quy định về định giá đất của Luật đất đai năm 2003 cũng chưa bao hàm hết đối với những nơi, những loại đất không có giao dịch về quyền sử dụng đất. Thứ hai, về phương pháp định giá đất và áp dụng phương pháp định giá đất - Về phương pháp định giá đất: Trên cơ sở quy định tại khoản 2 Điều 112 Luật đất đai năm 2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 44/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 quy định về giá đất. Nghị định này đã kế thừa quy định tại Nghị định số 188/2004/NĐ-CP và Nghị định số 123/2007/NĐ-CP; theo đó, tiếp tục quy định 4 phương pháp định giá đất là: Phương pháp so sánh trực tiếp; phương pháp chiết trừ; phương pháp thu nhập và phương pháp thặng dư. Đối với bốn phương pháp định giá này, Nghị định số 44/2014/NĐ-CP đã chỉnh sửa, bổ sung thông tin về giá đất lựa chọn để so sánh không chỉ là giá chuyển nhượng thực tế trên thị trường mà còn có giá trúng đấu giá quyền sử dụng đất cho phù hợp với Điều 112 Luật đất đai năm 2013. Bên cạnh đó, Nghị định đã bổ sung phương pháp hệ số điều chỉnh giá đất. Đây là phương pháp định giá đất bằng cách sử dụng hệ số điều chỉnh giá đất nhân (x) với giá đất trong bảng giá đất do UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ban hành. Phương pháp này được áp dụng trong một số trường hợp tính thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, tính giá trị quyền sử dụng đất mà thửa đất (khu đất) của dự án có giá trị không lớn; xác định giá đất tính bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất đối với trường hợp dự án có các thửa đất liền kề nhau, có cùng mục đích sử dụng, khả năng sinh lợi và thu nhập từ việc sử dụng đất tương tự nhau. Việc bổ sung phương pháp này đáp ứng được yêu cầu thực tiễn trong công tác định giá đất, bởi trong cơ chế kinh tế thị trường hiện nay mỗi giao dịch diễn ra trong nền kinh tế luôn chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khách quan, chủ quan, thậm chí dẫn tới không thể kiểm soát được giá thị trường. Trong trường hợp đó, việc bổ sung giá đất lựa chọn để so sánh còn là giá trúng đấu giá quyền sử dụng đất được đảm bảo bằng cơ chế kiểm soát theo hoạt động đấu giá quyền sử dụng đất, vì thế giá đất lựa chọn để so sánh đảm bảo minh bạch và phù hợp với thị trường. Ngoài ra, việc sửa đổi như vậy về giá đất lựa chọn để so sánh, định giá còn mang lại cơ hội cho việc định giá đất đồng loạt với những thửa đất ở nơi ít có giao dịch hoặc không có giao dịch, đáp ứng nhu cầu định giá đất với số lượng thửa đất còn lớn như hiện nay bổ sung sự khiếm khuyết về năng lực của đội ngũ tư vấn giá đất còn hạn chế. - Về áp dụng phương pháp định giá đất: Nghị định số 44/2014/NĐ-CP cũng đã quy định cụ thể yêu cầu thông tin trong áp dụng phương pháp định giá đất phải bảo đảm khách quan, trung thực. Đối với phương pháp so sánh trực tiếp mà tại khu vực định giá không có thông tin giá đất thị trường thì có thể thu thập thông tin ở khu vực lân cận có đặc điểm tương tự. Thứ ba, về khung giá đất và xây dựng, áp dụng bảng giá đất - Về khung giá đất: Khoản 3 Điều 56 Luật đất đai năm 2003 quy định giao cho Chính phủ ban hành khung giá các loại đất nhưng chưa quy định rõ thời hạn phải ban hành mới khung giá các loại đất và chỉ quy định việc điều chỉnh khung giá các loại đất khi giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường có biến động lớn. Luật đất đai năm 2013 đã giao “Chính phủ ban hành khung giá các loại đất định kì 05 năm một lần đối với từng loại đất, theo từng vùng. rong thời gian thực hiện khung giá đất mà giá đất ph biến trên thị trường tăng từ 20% trở lên so với giá tối đa hoặc giảm từ 20% trở lên so với giá tối thiểu trong khung giá đất thì Chính phủ điều chỉnh khung giá đất cho phù hợp” (Điều 113). Việc điều chỉnh khung giá đất còn được quy định cụ thể hơn ở Nghị định số 44/2014/NĐ-CP đối với trường hợp khi giá đất phổ biến trên thị trường tăng từ 20% trở lên so với giá tối đa hoặc giảm từ 20% trở lên so với giá tối thiểu trong khung giá đất trong khoảng thời gian từ 180 ngày trở lên thì Bộ tài nguyên và môi trường tổ chức xây dựng, trình Chính phủ điều chỉnh khung giá đất. Về trình tự, trách nhiệm xây dựng và thẩm định khung giá đất điều chỉnh thực hiện tương tự như xây dựng khung giá đất. - Về xây dựng và áp dụng bảng giá đất: Theo quy  định  của  Luật  đất  đai  năm 2003 thì bảng giá đất do UBND cấp tỉnh xây dựng, ban hành và công bố công khai vào ngày 01/01 hàng năm. Bảng giá đất được sử dụng làm căn cứ để thực hiện thu nghĩa vụ tài chính và tính bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất. Tuy nhiên, do bảng giá đất phải đảm bảo hài hoà nhiều mục đích khác nhau, đã dẫn đến thực tế là giá đất trong bảng giá đất luôn thấp hơn giá chuyển nhượng thực tế trên thị trường (phổ biến bằng 30 - 60% giá đất thị trường),(14) gây thất thu cho ngân sách nhà nước khi thực hiện giao đất, cho thuê đất và gây khiếu kiện khi Nhà nước thu hồi đất. Đồng thời, việc ban hành bảng giá đất hàng năm gây khó khăn trong công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng do người có đất thu hồi có tâm lí chờ đợi giá đất mới của năm sau cao hơn năm trước và tốn kém về kinh phí, nhân lực, nhất là đối với nơi, loại đất không có giao dịch về quyền sử dụng đất hoặc không có biến động về giá đất thị trường. Để khắc phục những tồn tại, bất cập này, Luật đất đai năm 2013 đã quy định như sau: Bảng giá đất được xây dựng định kì 05 năm một lần và công bố công khai vào ngày 01/01 của năm đầu kì. Trong thời gian thực hiện bảng giá đất, khi Chính phủ điều chỉnh khung giá đất hoặc giá đất phổ biến trên thị trường có biến động thì UBND cấp tỉnh điều chỉnh bảng giá đất cho phù hợp. Trước khi trình hội đồng nhân dân cùng cấp thông qua bảng giá đất ít nhất 60 ngày, UBND cấp tỉnh gửi dự thảo bảng giá đất đến cơ quan có chức năng xây dựng khung giá đất xem xét, trường hợp có chênh lệch lớn về giá đất giáp ranh giữa các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì báo cáo Thủ tướng Chính phủ quyết định (khoản 1 Điều 114). Bảng giá đất được sử dụng để làm căn cứ trong các trường hợp: 1) Tính tiền sử dụng đất khi Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất ở của hộ gia đình, cá nhân đối với phần diện tích trong hạn mức; cho phép chuyển mục đích sử dụng đất từ đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp không phải là đất ở sang đất ở đối với phần diện tích trong hạn mức giao đất ở cho hộ gia đình, cá nhân; 2) Tính thuế sử dụng đất; 3) Tính phí và lệ phí trong quản lí, sử dụng đất đai; 4) Tính tiền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai; 5) Tính tiền bồi thường cho Nhà nước khi gây thiệt hại trong quản lí và sử dụng đất đai; 6) Tính giá trị quyền sử dụng đất để trả cho người tự nguyện trả lại đất cho Nhà nước đối với trường hợp đất trả lại là đất Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, công nhận quyền sử dụng đất có thu tiền sử dụng đất, đất thuê trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê (khoản 2 Điều 114). Thứ tư, về định giá đất cụ thể Đây là một trong những nội dung mới của Luật đất đai năm 2013. Luật đất đai năm 2003 chưa có quy định về định giá đất cụ thể nhưng trong quá trình tổ chức thực hiện,  Chính phủ  đã  ban hành Nghị định số 17/2006/NĐ-CP (khoản 2 Điều 4, khoản 1 Điều 5, Điều 6) và Nghị định số 123/2007/NĐ-CP (khoản 12 Điều 1), Nghị định số 69/2009/NĐ-CP (Điều 11) quy định về vấn đề này theo hướng: Trường hợp giá đất trong bảng giá đất chưa sát với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường thì UBND cấp tỉnh căn cứ vào giá đất chuyển nhượng thực tế trên thị trường quyết định giá đất cụ thể nhằm hạn chế thất thu cho ngân sách nhà nước, bảo đảm tốt hơn quyền lợi của người có đất bị thu hồi. Tuy nhiên, quy định này chưa thực sự rõ ràng, gây ra tình trạng hầu hết các địa phương lúng túng trong việc xác định giá đất trong các quan hệ quản lí nhà nước về đất đai, vì vậy trên thực tế để “né tránh sự khó khăn này” các địa phương vẫn áp dụng bảng giá đất để tính thu các khoản nghĩa vụ tài chính và tính bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất. Để khắc phục tồn tại này, Luật đất đai năm 2013 đã quy định: “UBND cấp tỉnh quyết định giá đất cụ thể. Cơ quan quản lí đất đai cấp tỉnh có trách nhiệm giúp UBND cấp tỉnh t chức việc xác định giá đất cụ thể. Trong quá trình thực hiện, cơ quan quản lí đất đai cấp tỉnh được thuê t chức có chức năng tư vấn xác định giá đất để tư vấn xác định giá đất cụ thể. Việc xác định giá đất cụ thể phải dựa trên cơ sở điều tra, thu thập thông tin về thửa đất, giá đất thị trường và thông tin về giá đất trong cơ sở dữ liệu đất đai; áp dụng phương pháp định giá đất phù hợp. Căn cứ kết quả tư vấn xác định giá đất, cơ quan quản lí đất đai cấp tỉnh trình hội đồng thẩm định giá đất xem xét trước khi trình UBND cùng cấp quyết định. Hội đồng thẩm định giá đất gồm chủ tịch UBND cấp tỉnh làm chủ tịch và đại điện của cơ quan, tổ chức có liên quan, t chức có chức năng tư vấn xác định giá đất” (khoản 3 Điều 114). Giá đất cụ thể được sử dụng làm căn cứ trong các trường hợp sau: “a) Tính tiền sử dụng đất khi Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân đối với phần diện tích đất ở vượt hạn mức; cho phép chuyển mục đích sử dụng đất từ đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp không phải là đất ở sang đất ở đối với phần diện tích vượt hạn mức giao đất ở cho hộ gia đình, cá nhân. Tính tiền thuê đất đối với đất nông nghiệp vượt hạn mức giao đất, vượt hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân; b) Tính tiền sử dụng đất khi Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất không thông qua hình thức đấu giá quyền sử dụng đất; công nhận quyền sử dụng đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất đối với t chức mà phải nộp tiền sử dụng đất; c) Tính tiền thuê đất đối với trường hợp Nhà nước cho thuê đất không thông qua hình thức đấu giá quyền sử dụng đất; d) Tính giá trị quyền sử dụng đất khi c phần hoá doanh nghiệp nhà nước mà doanh nghiệp cổ phần sử dụng đất thuộc trường hợp Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê; tính tiền thuê đất đối với trường hợp doanh nghiệp nhà nước c phần hoá được Nhà nước cho thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm; đ) Tính tiền bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất” (khoản 4 Điều 114). Thứ năm, về tư vấn xác định giá đất Luật đất đai năm 2003 chỉ dành một điều quy định về tư vấn giá đất và giá đất tư vấn chỉ được sử dụng để tham khảo trong quản lí nhà nước về tài chính đất đai và trong hoạt động giao dịch về quyền sử dụng đất. Do vậy, hoạt động tư vấn giá đất hạn chế, năng lực tư vấn định giá đất chưa đáp ứng được yêu cầu. Để khắc phục tồn tại này, Luật đất đai năm 2013 đã dành hai điều (Điều 115, Điều 116) để quy định các trường hợp tư vấn giá đất được thực hiện, điều kiện hoạt động tư vấn giá đất và hành nghề tư vấn giá đất, quyền và nghĩa vụ của tổ chức tư vấn có chức năng tư vấn xác định giá đất; đặc biệt Luật quy định giá đất tư vấn xác định là một trong các căn cứ để cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định giá đất. Cụ thể hoá quy định tại khoản 2 Điều 115 Luật đất đai năm 2013, Nghị định số 44/2014/NĐ-CP đã quy định nguyên tắc hoạt động tư vấn định giá đất, điều kiện hoạt động tư vấn xác định giá đất, hành nghề tư vấn xác định giá đất. Theo đó: “1. T chức được hoạt động tư vấn xác định giá đất khi có đủ các điều kiện sau đây: a)   Có chức năng tư vấn xác định giá đất hoặc thẩm định giá hoặc tư vấn định giá bất động sản; b)   Có ít nhất 03 định giá viên đủ điều kiện hành nghề tư vấn xác định giá đất quy định tại Khoản 2 Điều này. 2. Cá nhân chỉ được hành nghề tư vấn xác định giá đất trong t chức có chức năng tư vấn xác định giá đất và phải có đủ các điều kiện sau đây: a)   Có năng lực hành vi dân sự; b)   Có phẩm chất đạo đức, liêm khiết, trung thực, khách quan; c)    Có trình độ từ đại học trở lên chuyên ngành về quản lí đất đai, vật giá, thẩm định giá, địa chính, kinh doanh bất động sản, kinh tế bất động sản và các chuyên ngành khác liên quan đến định giá đất; d)   Có thời gian công tác thực tế theo chuyên ngành đào tạo từ 36 tháng trở lên sau khi có bằng tốt nghiệp chuyên ngành quy định tại điểm c khoản này; e)    Có hẻ thẩm định viên về giá được cấp theo quy định của pháp luật về giá hoặc có Chứng chỉ định giá bất động sản được cấp theo quy định của pháp luật về kinh doanh bất động sản hoặc Chứng chỉ định giá đất” (Điều 20)./. Đỗ Xuân Trọng[1]   *  [1] Thạc sĩ luật học, giảng viên -Trường Đại học Luật Hà Nội (1).Xem: Điều 5 Luật đất đai năm 1987. (2).Xem: Điều 49 Luật đất đai năm 1987. (3).Xem: Điều  53 Luật  đất đai năm 1987 quy định:   “Người nào mua, bán, lấn, chiếm đất đai, phát canh thu tô… thì bị xử phạt hành chính”.   (4).Xem: Hernando De Soto, Sự bí ấn của tư bản (TS. Nguyễn Quang A dịch), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr. 86.   (5).Xem: Điều 12 Luật đất đai năm 1993.   (6).Xem: Trường Đại học Luật Hà Nội, Từ điển thuật ngữ luật học, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 1999, tr. 34.   (7).Xem: Điều 4 Luật đất đai năm 2003.   (8).Xem: Khoản 4 Điều 56 Luật đất đai năm 2003.   (9).Xem: TS. Nguyễn Thị Nga, T ng quan pháp luật về giá đất, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2013, tr. 151.   (10).Xem: Điều 56 Luật đất đai năm 2003.   (11).Xem: Khoản 1 Điều 112 Luật đất đai năm 2013. (12).Xem: Điều 56 Luật đất đai năm 2003.     (13).Xem: Điểm b khoản 1 Điều 56 Luật đất đai năm 2003. (14). Nguồn: http://vneconomy.vn/bat-dong-san/khong-the-co-chuyen-khung-gia-dat-bang-gia-thi-truong-20130808124211982.htm, truy cập ngày 11/9/2014.
Luật Bảo hiểm xã hội sửa đổi (Luật BHXH 2014) chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 1-1-2016 là một bước phát triển mới về chính sách an sinh xã hội (ASXH) nói chung, hệ thống pháp luật BHXH nói riêng. Trước yêu cầu phát triển của giai đoạn mới, chính sách BHXH với vai trò trụ cột đang đứng trước thời cơ, vận hội mới, cần có những giải pháp phù hợp, hiệu quả hơn. Phát triển BHXH trong tình hình mới Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định“Công dân có quyền được bảo đảm an sinh xã hội” (Điều 34) và “Nhà nước tạo bình đẳng về cơ hội để công dân thụ hưởng phúc lợi xã hội, phát triển hệ thống an sinh xã hội...” (Điều 59). Để hiện thực hóa Hiến pháp 2013, tại kỳ họp thứ 8, ngày 20-11-2014, Quốc hội khóa XIII thông qua Luật BHXH 2014. Việc sửa đổi Luật BHXH đã cơ bản đáp ứng mục tiêu đổi mới căn bản, toàn diện pháp luật về BHXH nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển hệ thống ASXH phù hợp nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế trong tình hình mới. Đồng thời, khắc phục những hạn chế trong chính sách, pháp luật BHXH hiện hành và nhằm tháo gỡ những khó khăn, bất cập trong tổ chức thực hiện, tiến tới BHXH cho mọi người lao động (NLĐ). Vì vậy, Luật BHXH 2014 có thêm nhiều quy định mới với những mục tiêu cụ thể: Một là, mở rộng diện bao phủ BHXH: Nghị quyết số 21-NQ/T.Ư ngày 22-11-2012, Bộ Chính trị ban hành về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác BHXH, BHYT giai đoạn 2012-2020, xác định đến năm 2020 có khoảng 50% số lực lượng lao động tham gia BHXH (với khoảng 28 triệu người, trong đó, 25 triệu người tham gia BHXH bắt buộc và ba triệu người tham gia BHXH tự nguyện). Để đạt mục tiêu này, Luật BHXH 2014 đã mở rộng phạm vi đối tượng tham gia BHXH. Trong đó, bổ sung một số nhóm đối tượng thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc như: NLĐ làm việc theo mùa vụ, hợp đồng lao động (HĐLĐ) từ một đến dưới ba tháng, NLĐ là công dân nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam có giấy phép lao động được cơ quan thẩm quyền của Việt Nam cấp, cán bộ không chuyên trách ở cấp xã… Mở rộng chính sách đối với người tham gia BHXH tự nguyện như bỏ quy định giới hạn trần tuổi tham gia BHXH tự nguyện, cho nên mọi công dân Việt Nam từ đủ 15 tuổi trở lên không thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc có nguyện vọng đều được tham gia BHXH tự nguyện; bỏ quy định mức sàn thu nhập tối thiểu làm căn cứ đóng BHXH tự nguyện để phù hợp khả năng tham gia của người dân và Nhà nước có chính sách hỗ trợ người tham gia BHXH tự nguyện... Hai là, sửa đổi một số nội dung về các chế độ BHXH theo hướng vừa bảo đảm quyền lợi cho NLĐ, từng bước thực hiện nguyên tắc cân bằng đóng - hưởng. Trong đó, chế độ hưu trí là chế độ được sửa đổi, bổ sung nhiều nhất. Các nội dung sửa đổi, bổ sung đều hướng đến bảo đảm công bằng xã hội (trong đó có bình đẳng giới), từng bước cải thiện tình hình quỹ hưu trí, tử tuất, bảo đảm cho quỹ được cân đối trong thời gian dài hơn; các chế độ BHXH như ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp… đều có những quy định mới có lợi cho NLĐ. Đồng thời, nhằm cải thiện mức hưởng, nâng cao đời sống cho người về hưu, Luật bổ sung chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung. Đây là chính sách BHXH mang tính chất tự nguyện, bổ sung cho chế độ hưu trí trong BHXH bắt buộc, cơ chế tạo lập Quỹ từ sự đóng góp của NLĐ và người sử dụng lao động dưới hình thức tài khoản tiết kiệm cá nhân, được bảo toàn và tích lũy thông qua hoạt động đầu tư theo quy định của pháp luật. Ba là, sửa đổi, bổ sung các quy định nhằm đổi mới phương thức và tổ chức thực hiện chính sách BHXH: Nguyên tắc BHXH được Luật BHXH 2014 quy định rõ, việc thực hiện BHXH phải đơn giản, dễ dàng, thuận tiện, bảo đảm kịp thời và đầy đủ quyền lợi của người tham gia BHXH. Luật quy định việc hiện đại hóa trong quản lý BHXH, khuyến khích đầu tư phát triển công nghệ và phương tiện kỹ thuật tiên tiến để quản lý, thực hiện BHXH; đến năm 2020, hoàn thành việc xây dựng và vận hành cơ sở dữ liệu điện tử về quản lý BHXH trong cả nước. Theo đó, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý, chuyên nghiệp hóa nghiệp vụ, giảm chi phí quản lý, giảm thiểu các thủ tục hành chính cho doanh nghiệp, NLĐ.   Luật BHXH 2014 cũng quy định xây dựng và hoàn thiện các quy chế về đầu tư quỹ BHXH bảo đảm tính hiệu quả, linh hoạt trong hoạt động đầu tư; tăng cường việc giao quyền và trách nhiệm cho đơn vị, tổ chức thực hiện đầu tư; các khoản đầu tư phải bảo đảm được nguyên tắc về bảo toàn và tăng trưởng quỹ BHXH, đa dạng hóa các hình thức đầu tư nhưng vẫn bảo đảm tính an toàn. Bốn là, tăng thẩm quyền, bổ sung chức năng, nhiệm vụ cho cơ quan tổ chức thực hiện: Luật BHXH 2014 quy định cơ quan BHXH là cơ quan nhà nước có chức năng thực hiện chế độ, chính sách BHXH, quản lý và sử dụng các quỹ BHXH, BHYT, BH thất nghiệp; thanh tra việc đóng BHXH, BHYT, BH thất nghiệp và các nhiệm vụ khác theo quy định của luật và hướng dẫn của Chính phủ. Luật BHXH 2014 tăng thẩm quyền cho cơ quan BHXH được thanh tra chuyên ngành việc đóng BHXH, BHYT, BH thất nghiệp và xử lý vi phạm hoặc kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để xử lý vi phạm. Đồng thời, tăng chế tài xử lý đối với hành vi vi phạm quy định về đóng BHXH sẽ góp phần hạn chế tình trạng vi phạm pháp luật về BHXH, BHYT. Vấn đề đặt ra và giải pháp đưa luật vào cuộc sống Có thể nói, với quy định đối tượng có HĐLĐ từ một đến dưới ba tháng tham gia BHXH bắt buộc sẽ góp phần đẩy nhanh tỷ lệ bao phủ BHXH, đồng thời tránh được tình trạng người sử dụng lao động lách luật để trốn đóng BHXH bằng cách ký các chuỗi HĐLĐ dưới ba tháng. Tuy nhiên, quy định này cũng đặt ra thách thức trong tổ chức thực hiện vì việc quản lý đối với người có HĐLĐ dưới ba tháng là rất khó khăn, nếu không có hạ tầng công nghệ thông tin tốt và cơ sở dữ liệu được quản lý đồng bộ, sẽ rất khó quản lý. Việc mở rộng đối tượng tham gia BHXH tự nguyện ở khu vực lao động phi chính thức cũng còn nhiều vấn đề cần làm rõ như quy định mức hỗ trợ của Nhà nước, đặc biệt, khi đời sống của người dân còn khó khăn thì việc vận động họ tham gia BHXH tự nguyện để bảo đảm ASXH khi về già sẽ thật sự là một bài toán khó. Quy định về việc thu hẹp đối tượng hưởng trợ cấp BHXH một lần nhằm bảo đảm ASXH về lâu dài cho NLĐ theo Điều 60, vừa qua đã gặp trở ngại khi một bộ phận nhỏ NLĐ chưa đồng tình. Tuy nhiên, thể theo nguyện vọng của một bộ phận NLĐ có khó khăn về kinh tế và có nguyện vọng được nhận BHXH một lần theo quy định hiện hành, Quốc hội thống nhất thông qua Nghị quyết về việc cho phép NLĐ sau một năm nghỉ việc hoặc không tham gia BHXH tự nguyện mà có nguyện vọng thì được lựa chọn nhận BHXH một lần. Về lâu dài, cần nghiên cứu, bổ sung quy định về mức hưởng trợ cấp BHXH một lần cho phù hợp với mức đóng và tỷ lệ đóng BHXH của NLĐ; đồng thời cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền để NLĐ nhận thức rõ hơn về tính ưu việt của việc hưởng lương hưu và tiếp tục tham gia BHXH để có cơ hội được hưởng lương hưu với nhiều quyền lợi hơn, bảo đảm an sinh bền vững hơn đối với bản thân họ, gia đình và xã hội... Để Luật BHXH 2014 đi vào cuộc sống và triển khai hiệu quả, đòi hỏi sự nỗ lực của các cấp, ngành và sự cộng tác của người dân. Với vai trò là đơn vị trực tiếp tổ chức thực hiện chính sách, hiện nay cơ quan BHXH Việt Nam đã chuẩn bị sẵn sàng cho thời điểm 1-1-2016. Ngành đã chủ động phối hợp với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và các bộ, ngành liên quan trong việc xây dựng các văn bản hướng dẫn thi hành Luật BHXH. Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật BHXH đến mọi người sử dụng lao động và NLĐ. Tiếp tục rà soát, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động nghiệp vụ BHXH. Trước mắt, đẩy nhanh tiến độ ứng dụng giao dịch điện tử trong thực hiện thủ tục hành chính về BHXH để giảm thời gian giao dịch của các doanh nghiệp, phấn đấu đến hết năm 2015 giảm xuống còn 49,5 giờ cho các giao dịch của doanh nghiệp với cơ quan BHXH. Đồng thời, ngành BHXH cũng kiện toàn bộ máy tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của ngành theo quy định của Luật BHXH 2014. Trong đó, tập trung xây dựng một đội ngũ cán bộ, công chức đủ năng lực, trình độ chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp, nâng cao chất lượng phục vụ; góp phần tích cực vào sự nghiệp bảo đảm ASXH... TS Nguyễn Thị Minh     http://www.nhandan.com.vn/xahoi/bhxh-va-cuoc-song/item/27861702-doi-moi-phat-trien-chinh-sach-bao-hiem-xa-hoi-trong-tinh-hinh-moi.html

Đặt câu hỏi

Họ tên:
Email:
Điện thoại:
Tiêu đề:
Nội dung:

Tư vấn pháp luật