Chia sẻ niềm tin - Nâng cao vị thế

Những sửa đổi bổ sung về sở hữu đất đai trong Luật đất đai năm 2013

  • Thực hiện: Administrator
  • 28/09/2018

Mặc dù Luật đất đai năm 2013 tiếp tục kế thừa  và  khẳng định quy định của Luật đất đai năm 2003: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lí song chế định này chứa đựng những sửa đổi, bổ sung (những điểm mới) cơ bản sau đây:

1. Về mối quan hệ giữa chủ sở hữu toàn dân và đại diện chủ sở hữu toàn dân là Nhà nước

Xét về phương diện pháp lí, mặc dù pháp luật đất đai quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân song toàn dân không phải là pháp nhân nên phải chủ thể hoá thông qua chế định pháp lí về quyền sở hữu toàn dân. Nhà nước với tư cách là một pháp nhân công được trao quyền thực hiện đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai. Như vậy, ở đây cần phân biệt rạch ròi giữa Nhà nước - đại diện chủ sở hữu đất đai với toàn dân là chủ sở hữu đất đai. Điều này có nghĩa Nhà nước không phải là chủ sở hữu đất đai mà chỉ là người đại diện chủ sở hữu đất đai. Tư cách đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai của Nhà nước được pháp luật quy định. Nhà nước chỉ được thực hiện các quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai do pháp luật quy định. Nói cách khác, với tư cách một cộng đồng, toàn dân không thể tự đứng ra thực hiện các quyền năng của chủ sở hữu đối với đất đai mà phải uỷ quyền (bằng các quy định của pháp luật) cho Nhà nước thay mặt mình thực hiện quyền năng này. Tuy nhiên, việc ủy quyền này không hoàn toàn trao cho Nhà nước thực hiện tất cả các quyền của chủ sở hữu đối với đất đai mà toàn dân cũng trực tiếp thực hiện quyền sở hữu chủ về đất đai như cho ý kiến về chế độ sở hữu đất đai, về các chính sách quản lí và sử dụng đất v.v.. Trên thực tế, dường như các cơ quan nhà nước khi thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu đã tự coi mình như là chủ sở hữu đất đai. Họ tự quyết định việc phân phối đất đai, chuyển mục đích sử dụng đất, tự đưa ra phương án bồi thường… mà không coi trọng việc hỏi ý kiến của người dân - chủ sở hữu đất đai hoặc lạm dụng việc được giao quyền đại diện chủ sở hữu để giao, cho thuê đất; chuyển mục đích sử dụng đất và thu hồi đất tuỳ tiện vì lợi ích nhóm v.v.. Điều này có nguyên nhân do pháp luật đất đai không làm rõ mối quan hệ giữa chủ sở hữu toàn dân và đại diện chủ sở hữu toàn dân là Nhà nước. Khắc phục tồn tại này, Luật đất đai năm 2013 đã làm rõ hơn mối quan hệ giữa chủ sở hữu toàn dân và đại diện chủ sở hữu toàn dân là Nhà nước thông qua các quy định cụ thể sau:

Thứ nhất, quy định rõ quyền và trách nhiệm của Nhà nước đối với đất đai. Cụ thể:

Một là quyền của Nhà nước với tư cách đại diện chủ sở hữu về đất đai bao gồm các quyền năng cụ thể sau: 1) Quyết định quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất; 2) Quyết định mục đích sử dụng đất; 3) Quy định hạn mức sử dụng đất, thời hạn sử dụng đất; 4) Quyết định thu hồi đất, trưng dụng đất; 5) Quyết định giá đất; 6) Quyết định trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất; 7) Quyết định chính sách tài chính về đất đai; 8) Quy định quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất.

Hai là trách nhiệm của Nhà nước đối với đất đai được biểu hiện trên các khía cạnh cụ thể như: 1) Trách nhiệm quản lí nhà nước về đất đai; 2) Bảo đảm của Nhà nước đối với người sử dụng đất; 3) Trách nhiệm của Nhà nước về đất ở, đất sản xuất nông nghiệp đối với đồng bào dân tộc thiểu số; 4) Trách nhiệm của Nhà nước trong việc xây dựng, cung cấp thông tin đất đai.

Thứ hai, mặc dù chủ sở hữu toàn dân về đất đai trao quy chế đại diện chủ sở hữu đất đai cho Nhà nước song sở hữu chủ vẫn không mất đi các quyền năng của chủ sở hữu. Điều này có nghĩa là trong quá trình thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu đất đai, Nhà nước vẫn không “thoát li” khỏi sự chi phối của chủ sở hữu toàn dân. Cụ thể;

Một là trong quá trình lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải lấy ý kiến đóng góp của nhân dân.(1) Mặt khác, sau khi quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cấp có thẩm quyền xét duyệt, cơ quan nhà nước phải công bố rộng rãi cho công chúng biết.(2)

Hai là người dân với tư cách là chủ sở hữu đất đai có quyền giám sát, theo dõi và đánh giá việc quản lí, sử dụng đất đai của các cơ quan nhà nước. Việc giám sát này được thực hiện theo hai hình thức: 1) Giám sát trực tiếp, theo đó công dân trực tiếp thực hiện quyền giám sát thông qua việc phản ánh, gửi đơn kiến nghị đến các cơ quan, người có thẩm quyền giải quyết; 2) Giám sát gián tiếp; theo đó công dân gửi đơn kiến nghị đến các tổ chức đại diện được pháp luật công nhận để các tổ chức này thực hiện việc giám sát. Các tổ chức đại diện bao gồm Quốc hội, hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận.(3)

Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi nhận được ý kiến của công dân và tổ chức đại diện cho người dân có trách nhiệm: Kiểm tra, xử lí, trả lời bằng văn bản theo thẩm quyền; chuyển đơn đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để giải quyết trong trường hợp không thuộc thẩm quyền; thông báo kết quả cho tổ chức, cá nhân đã phản ánh.(4) Nếu cơ chế giám sát, theo dõi và đánh giá việc quản lí, sử dụng đất đai thực hiện có hiệu quả sẽ góp phần ngăn ngừa, kiềm chế được sự lạm dụng (tha hoá) quyền lực của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc thực hiện chức năng đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai vì lợi ích nhóm, lợi ích cục bộ.

Thứ ba, việc thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân trong quyết định số phận pháp lí của đất đai của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải dựa trên khuôn khổ quy định của pháp luật đất đai. Cụ thể:

Một là Luật đất đai năm 2013 quy định cụ thể căn cứ, hình thức, thẩm quyền giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, điều kiện chuyển mục đích sử dụng đất. Theo đó:

-       Giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất phải dựa trên căn cứ kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt và nhu cầu sử dụng đất thể hiện trong dự án đầu tư, đơn xin giao đất, thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất.(5)

-       Không phải cơ quan nhà nước nào cũng có thẩm quyền giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất mà thẩm quyền này được trao cho uỷ ban nhân dân (UBND) cấp tỉnh và UBND cấp huyện.(6)

-       Quy định các trường hợp chuyển mục đích sử dụng đất phải được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.(7)

-       Bổ sung quy định về điều kiện giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư, bao gồm:

1) Đối với dự án có sử dụng đất trồng lúa, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng vào các mục đích khác mà không thuộc trường hợp được Quốc hội quyết định, Thủ tướng Chính phủ chấp thuận chủ trương đầu tư thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền chỉ được quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất khi có một trong các văn bản sau đây: Văn bản chấp thuận của Thủ tướng Chính phủ đối với trường hợp chuyển mục đích sử dụng từ 10 ha đất trồng lúa trở lên, từ 20 ha đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng trở lên; nghị quyết của HĐND cấp tỉnh đối với trường hợp chuyển mục đích sử dụng dưới 10 ha đất trồng lúa trở lên, dưới 20 ha đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng;

2) Đối với dự án sử dụng đất tại đảo và xã, phường, thị trấn biên giới, ven biển, cơ quan nhà nước có thẩm quyền chỉ được quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất khi được sự chấp thuận bằng văn bản của các bộ, ngành liên quan;

3) Người được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư phải có các điều kiện sau đây: Có năng lực tài chính để bảo đảm việc sử dụng đất theo tiến độ của dự án đầu tư; kí quỹ theo quy định của pháp luật về đầu tư; không vi phạm quy định của pháp luật về đất đai đối với trường hợp đang sử dụng đất do Nhà nước giao đất, cho thuê đất để thực hiện dự án đầu tư khác.

Hai là việc thu hồi đất, trưng dụng đất (thu lại vĩnh viễn hoặc thu lại có thời hạn quyền sử dụng đất đã giao cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân) được thực hiện theo quy định của pháp luật. Theo đó:

-       Việc thu hồi đất không áp dụng trong mọi trường hợp có nhu cầu sử dụng đất mà Nhà nước chỉ thu hồi đất trong các trường hợp sau: 1) Thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh;(8) 2) Thu hồi đất để phát triển kinh tế- xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng;(9) 3) Thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai;(10) 4) Thu hồi đất do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật, tự nguyện trả lại đất, có nguy cơ đe dọa tính mạng con người.(11)

Đối với việc sử dụng đất để thực hiện dự án, công trình sản xuất, kinh doanh không thuộc trường hợp Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh hoặc thu hồi đất để phát triển kinh tế-xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng mà phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt thì chủ đầu tư được nhận chuyển nhượng, thuê quyền sử dụng đất, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

-       Việc thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế-xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng phải dựa trên các căn cứ sau: 1) Dự án thuộc các trường hợp thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế-xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng; 2) Kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt; 3) Tiến độ sử dụng đất thực hiện dự án.

-       Người bị thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế-xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng được Nhà nước bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo quy định của pháp luật.

-       Quy định cụ thể trình tự, thủ tục thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế-xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng.(12)

-       Bổ sung quy định về nguyên tắc, điều kiện, thẩm quyền và trình tự cưỡng chế thực hiện quyết định kiểm đếm bắt buộc, cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất nhằm đảm bảo tính uy quyền trong thực thi quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai của Nhà nước; đồng thời bảo hộ quyền sử dụng đất hợp pháp của người sử dụng.(13)

-       Không phải cơ quan nhà nước nào cũng có thẩm quyền thu hồi đất mà chỉ có UBND cấp tỉnh và UBND cấp huyện mới có thẩm quyền này.(14) Việc giới hạn thẩm quyền thu hồi đất nhằm ngăn ngừa tình trạng thu hồi đất tràn lan đồng thời ràng buộc trách nhiệm pháp lí của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nếu thực hiện việc thu hồi đất trái pháp luật.

-       Sửa đổi, bổ sung quy định về trưng dụng đất, trong đó xác định rõ điều kiện, thẩm quyền, trình tự, thời gian thực hiện việc trưng dụng đất và trách nhiệm bồi thường thiệt hại do việc trưng dụng đất gây ra cho người sử dụng đất.(15)

2. Về vai trò đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai

Luật đất đai năm 2003 quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu.(16) Tiếp đó, Luật quy định Nhà nước thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai và thống nhất quản lí nhà nước về đất đai thông qua các cơ quan bao gồm: Quốc hội, Chính phủ, HĐND các cấp và UBND các cấp.(17) Như vậy, trong hệ thống tổ chức nhà nước, các tổ chức sau liên quan đến việc thực hiện chức năng đại diện chủ sở hữu đất đai: Quốc hội, HĐND các cấp; Chính phủ và UBND các cấp.

Tuy nhiên, Chính phủ và UBND các cấp không chỉ thực hiện chức năng đại diện chủ sở hữu đất đai mà còn thực hiện chức năng thống nhất quản lí nhà nước về đất đai. Việc Luật đất đai năm 2003 quy định Nhà nước thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai và thống nhất quản lí nhà nước về đất đai trong cùng một điều luật đã không tách bạch vai trò đại diện chủ sở hữu nói chung và chưa minh định giữa chức năng đại diện chủ sở hữu đất đai với chức năng thống nhất quản lí nhà nước về đất đai của Chính phủ và UBND các cấp nói riêng. Điều này dễ dẫn đến tình trạng các cơ quan nhà nước có thẩm quyền lạm quyền, tiêu cực, chuyên quyền độc đoán trong việc quyết định số phận pháp lí của đất đai, tiềm ẩn nguy cơ tham nhũng; đồng thời “làm mờ nhạt” vai trò chủ sở hữu đất đai của toàn dân. Khắc phục tồn tại này, Luật đất đai năm 2013 đã sửa đổi, bổ sung làm rõ hơn vai trò đại diện chủ sở hữu. Theo đó, Luật quy định việc thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu về đất đai của Nhà nước được thực hiện thông qua các cơ quan gồm Quốc hội, HĐND các cấp, Chính phủ và UBND các cấp với định chế rõ ràng hơn, cụ thể hơn về quyền hạn của các cơ quan này. Cụ thể:

-       Quốc hội ban hành luật, nghị quyết về đất đai; quyết định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp quốc gia; thực hiện quyền giám sát tối cao đối với việc quản lí và sử dụng đất trong phạm vi cả nước;

-       HĐND các cấp thực hiện quyền thông qua quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của địa phương mình trước khi trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt; thông qua bảng giá đất, việc thu hồi đất thực hiện các dự án phát triển kinh tế-xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng của địa phương theo thẩm quyền quy định tại Luật này; giám sát việc thi hành pháp luật về đất đai tại địa phương;

-       Chính phủ và UBND các cấp thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu về đất đai theo thẩm quyền quy định tại Luật này.

Qua đây, chúng ta có thể nhận thấy rằng vai trò đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai đề cập trong Luật đất đai năm 2013 được xác định cụ thể, rõ ràng hơn chức năng thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu; trong đó, nhấn mạnh vai trò của các cơ quan đại diện (cơ quan dân cử) thay mặt người dân thực hiện quyền năng của chủ sở hữu đối với đất đai.

3. Về quyền hạn, nhiệm vụ của đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai

Như phần trên đã đề cập, ở nước ta, vai trò của Nhà nước trong lĩnh vực đất đai được xem xét, đánh giá với ba tư cách: 1) Tư cách đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai; 2) Tư cách thống nhất quản lí đất đai; 3) Tư cách của người sử dụng đất trong từng trường hợp cụ thể. Trong mỗi tư cách, Nhà nước có các quyền hạn và nhiệm vụ không giống nhau. Luật đất đai năm 2003 chưa chế định rõ các quyền và nhiệm vụ của Nhà nước trong từng tư cách này. Luật này quy định quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai với quyền thống nhất quản lí nhà nước về đất đai. Điều này chưa làm nổi bật quyền hạn và trách nhiệm của Nhà nước trong vai trò đại diện chủ sở hữu đất đai dẫn đến trong quá trình quản lí, một số cơ quan nhà nước đã không phân biệt khi nào thì thực hiện các quyền năng đại diện chủ sở hữu, khi nào thực hiện nội dung quản lí nhà nước về đất đai và khi nào thực hiện tư cách của người sử dụng đất trong từng trường hợp cụ thể. Hậu quả là hiệu quả thực thi vai trò đại diện chủ sở hữu đất đai của Nhà nước không như mong muốn. Vì vậy, yêu cầu đặt ra là “cần phải phân định rõ vai trò của Nhà nước trong tư cách “đại diện chủ sở hữu” và trách nhiệm của các tổ chức, đơn vị nhà nước với tư cách là “người sử dụng đất”. Không phân định rõ điều này dễ dẫn đến không tường minh, không bình đẳng trong thực thi quan hệ đất đai”.(18) Khắc phục hạn chế này, Luật đất đai năm 2013 đã có quy định đề cập rõ hơn quyền hạn, nhiệm vụ của Nhà nước dưới khía cạnh thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai. Theo đó, Nhà nước thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu đất đai thể hiện ở 08 quyền năng quy định tại Điều 13, tập trung vào việc phân phối đất đai, quyết định số phận pháp lí của đất đai; đồng thời việc thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu đất đai của Nhà nước phải tuân theo các quy định của pháp luật đất đai hiện hành.

4. Về phân định chức năng đại diện chủ sở hữu với chức năng quản lí nhà nước về đất đai của các cơ quan nhà nước

Một trong những nội dung sửa đổi, bổ sung của Luật đất đai năm 2013 là phân định rõ vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện chức năng đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai với chức năng quản lí nhà nước về đất đai. Đây là vấn đề rất quan trọng vì “nếu không phân định và chế định rõ sẽ rất dễ lẫn lộn trong thực hiện các chức năng của Nhà nước về quyền của đại diện chủ sở hữu và quyền quản lí nhà nước về đất đai, trong thực hiện các chính sách và cơ chế quản lí đất đai”.(19) Điều này thể hiện ở Mục 1 Chương II (từ Điều 13 đến Điều 21) quy định quyền của Nhà nước với tư cách đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai và Mục 2 Chương II (từ Điều 22 đến Điều 28) quy định trách nhiệm của Nhà nước trong thống nhất quản lí đất đai. Việc phân định rạch ròi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong chức năng thực hiện vai trò đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai với chức năng quản lí nhà nước về đất đai đem lại các ý nghĩa chủ yếu sau đây:

Thứ nhất, như phần trên đã đề cập, không phải bất cứ cơ quan nhà nước nào cũng có thẩm quyền thực hiện vai trò đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai. Ví dụ: Giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất và thu hồi đất; xác định giá đất… là những hoạt động thể hiện quyền của Nhà nước trong việc thực hiện vai trò đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai được pháp luật đất đai quy định thẩm quyền thuộc UBND cấp tỉnh hoặc UBND cấp huyện.(20) Trong khi đó, chức năng quản lí nhà nước về đất đai được pháp luật quy định cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền chung (Chính phủ và UBND các cấp) và cơ quan nhà nước có thẩm quyền riêng (thẩm quyền chuyên môn) gồm: Bộ tài nguyên và môi trường, sở tài nguyên và môi trường, phòng tài nguyên và môi trường và đội ngũ cán bộ địa chính cấp xã thực hiện.(21) Việc quy định rạch ròi giữa vai trò đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai với vai trò quản lí đất đai của Nhà nước sẽ giúp các cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhận diện được phạm vi và thẩm quyền, chức năng, nhiệm vụ của mình trong quản lí đất đai; góp phần ngăn ngừa tình trạng giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất và thu hồi đất… trái thẩm quyền.

Thứ hai, Luật đất đai năm 2003 quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lí.(22) Tuy nhiên, trên thực tế việc thực hiện vai trò đại diện chủ sở hữu đất đai và quản lí đất đai lại do các cơ quan nhà nước và cán bộ, công chức  nhà  nước  có  thẩm  quyền  thực  hiện. Như vậy, từ chế định đại diện chủ sở hữu đất đai do một pháp nhân công (Nhà nước) đã chuyển giao cho một tổ chức, cá nhân cụ thể (cơ quan nhà nước, công chức nhà nước có thẩm quyền) thực hiện. Quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai trong giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất và thu hồi đất v.v do cơ quan nhà nước thực hiện trên cơ sở quy định của pháp luật đất đai. Song trong quá trình quản lí, các cơ quan quản lí nhà nước về đất đai nhiều khi tự cho mình có những quyền năng đại diện chủ sở hữu trong việc quyết định số phận pháp lí của đất đai thông qua hoạt động giao đất, cho thuê đất và thu hồi đất v.v. Điều này làm nảy sinh tình trạng giao đất, cho thuê đất và thu hồi đất không đúng pháp luật hoặc vượt quá thẩm quyền. Khắc phục tình trạng này, Luật đất đai năm 2013 đã quy định rõ quyền của Nhà nước đối với đất đai và trách nhiệm của Nhà nước đối với đất đai.

Hơn nữa, việc minh định quyền của Nhà nước đối với đất đai và trách nhiệm của Nhà nước đối với đất đai trong Luật đất đai năm 2013 còn thể hiện nguyên tắc bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong lĩnh vực đất đai. Theo đó, không chỉ các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất được pháp luật cho hưởng quyền và phải thực hiện nghĩa vụ pháp lí mà Nhà nước cho dù với tư cách đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai cũng có quyền và trách nhiệm đối với đất đai. Điều này thể hiện sự đối xử bình đẳng giữa các chủ thể trong quan hệ đất đai, không phân biệt đó là người sử dụng đất hay người đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai. Ở khía cạnh khác, Nhà nước không phải là chủ sở hữu đất đai mà chỉ là đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai. Nhà nước thực hiện vai trò đại diện chủ sở hữu đất đai dựa trên các quy định của pháp luật đồng thời Nhà nước thực hiện chức năng quản lí đất đai. Việc thực hiện song hành hai chức năng này của Nhà nước dựa trên bản chất dân chủ nhân dân của Nhà nước ta và là một tổ chức do nhân dân lao động thiết lập nên thay mặt xã hội quản lí đất đai vì lợi ích chung. Do vậy, Nhà nước phải ý thức được bổn phận và trách nhiệm của mình đối với đất đai để làm tròn sứ mạng mà nhân dân giao phó./.

Nguyễn Quang Tuyến[1]

 

 

[1] Tiến sĩ luật học, phó giáo sư Trường Đại học Luật Hà Nội 

(1).Xem: Điều 43 Luật đất đai năm 2013.

 

(2).Xem: Điều 48 Luật đất đai năm 2013.

 

(3).Xem: Điều 198, Điều 199 Luật đất đai năm 2013.

 

(4).Xem: Khoản 5 Điều 199 Luật đất đai năm 2013.

 

(5).Xem: Điều 52 Luật đất đai năm 2013.

 

(6).Xem: Điều 59 Luật đất đai năm 2013.

 

(7).Xem: Điều 57 Luật đất đai năm 2013.

 

(8).Xem: Điều 61 Luật đất đai năm 2013.

 

(9).Xem: Điều 62 Luật đất đai năm 2013.

(10).Xem: Điều 64 Luật đất đai năm 2013.

(11).Xem: Điều 65 Luật đất đai năm 2013.

(12).Xem: Điều 69 Luật đất đai năm 2013.

 

(13).Xem: Điều 70, Điều 71 Luật đất đai năm 2013.

(14).Xem: Điều 66 Luật đất đai năm 2013.

(15).Xem: Điều 72 Luật đất đai năm 2013.

(16).Xem: Khoản 1 Điều 5 Luật đai năm 2003.

(17).Xem: Điều 7 Luật đất đai năm 2003.

 

(18).Xem: PGS.TS. Trần Quốc Toản (chủ biên), Đổi mới quan hệ sở hữu đất đai - Lí luận và thực tiễn, Nxb. Chính trị quốc gia-Sự thật, Hà Nội, 2013, tr. 245.

(19).Xem: PGS.TS. Trần Quốc Toản (chủ biên), sđd, tr. 256.

 

(20).Xem: Điều 59, Điều 66, Điều 114 Luật đất đai năm 2013.

 

(21).Xem: Điều 23, Điều 24, Điều 25 Luật đất đai năm 2013.

 

(22).Xem: Điều 5 Luật đất đai năm 2003.