Chia sẻ niềm tin - Nâng cao vị thế

Sửa đổi bổ sung của Luật đất đai năm 2013 về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

  • Thực hiện: Administrator
  • 28/09/2018

1. Khái quát về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

1.1. Khái niệm quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

“Quy hoạch”, “kế hoạch sử dụng đất” là những thuật ngữ được sử dụng phổ biến trong Luật đất đai năm 1993, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đất đai năm 1998 và năm 2001, Luật đất đai năm 2003. Tuy nhiên, chỉ đến khi Luật đất đai năm 2013 được ban hành, những thuật ngữ này mới được giải thích một cách chính thức và cụ thể tại Điều 3, theo đó: “Quy hoạch sử dụng đất là việc phân bổ và khoanh vùng đất đai theo không gian sử dụng cho các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội, quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường và thích ứng biến đổi khí hậu trên cơ sở tiềm năng đất đai và nhu cầu sử dụng đất của các ngành, lĩnh vực đối với từng vùng kinh tế-xã hội và đơn vị hành chính trong một khoảng thời gian xác định”;(1) “kế hoạch sử dụng đất là việc phân chia quy hoạch sử dụng đất theo thời gian để thực hiện trong kì quy hoạch sử dụng đất”.(2)

“Quy hoạch”, “kế hoạch sử dụng đất” là những thuật ngữ thường đi kèm với nhau. Chúng được sử dụng để biểu đạt một trong những phương thức thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai của Nhà nước
 cũng như một trong những phương thức quản lí nhà nước đối với đất đai. Song về bản chất, giữa hai thuật ngữ này cũng có một số điểm khác biệt chủ yếu sau đây:

Thứ nhất, quy hoạch sử dụng đất ra đời trước và kế hoạch sử dụng đất ra đời sau. Điều này có nghĩa là quy hoạch sử dụng đất được xây dựng trước. Sau đó, dựa trên quy hoạch sử dụng đất, cơ quan nhà nước có thẩm quyền mới xây dựng kế hoạch sử dụng đất.

Thứ hai, quy hoạch sử dụng đất thường mang tính dài hạn. Kì quy hoạch sử dụng đất là 10 năm.(3) Trong khi đó, kế hoạch sử dụng đất mang tính ngắn hạn hơn, thường là 5 năm hoặc hàng năm.(4)

Thứ ba, quy hoạch sử dụng đất mang tính vĩ mô. Quy hoạch sử dụng đất là sự định hướng chiến lược cho công tác quản lí và sử dụng đất trong tương lai, thể hiện ở việc phân bổ và khoanh vùng đất đai theo không gian sử dụng cho các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội, an ninh-quốc phòng, bảo vệ môi trường v.v.. Trong khi đó, kế hoạch sử dụng đất lại mang tính cụ thể với thời gian xác định, thể hiện ở việc phân chia quy hoạch sử dụng đất theo thời gian để thực hiện.

1.2. Vai trò, ý nghĩa của quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

Vai trò, ý nghĩa của quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được thể hiện trên các khía cạnh cơ bản sau đây:

Thứ nhất, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất  là  một  trong  những  phương  thức  thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai của Nhà nước.(5) Chỉ Nhà nước với tư cách đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai mới có quyền quyết định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nhằm phân bổ và khoanh vùng đất đai theo không gian sử dụng cho các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội; an ninh-quốc phòng; bảo vệ môi trường… Điều này có nghĩa là thông qua quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, Nhà nước xác định mục đích sử dụng cụ thể cho từng loại đất, đáp ứng các nhu cầu sử dụng đất khác nhau trong xã hội.(6)

Thứ hai, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là một trong những nguyên tắc sử dụng đất,(7) nó định hướng cho việc sử dụng đất phù hợp với các mục tiêu phát triển của đất nước hoặc ở mỗi địa phương, ngăn ngừa tình trạng sử dụng đất đai bừa bãi, lãng phí và kém hiệu quả. Ngoài ra, thông qua quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, đất đai trở thành nguồn lực quan trọng, nguồn vốn to lớn để phát triển đất nước.

Thứ ba, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cùng với quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội, quy hoạch không gian vùng, quy hoạch xây dựng và quy hoạch đô thị… tạo thành hệ thống quy hoạch đồng bộ, thống nhất, phục vụ cho việc thực hiện kế hoạch kinh tế-xã hội 5 năm của cả nước và từng địa phương. Điều này có nghĩa là quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất góp phần thực hiện các chỉ tiêu phát triển kinh tế-xã hội trong 5 năm của cả nước và ở từng địa phương.

2. Những sửa đổi, bổ sung về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong Luật đất đai năm 2013

Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được quy định tại Chương IV Luật đất đai năm 2013, bao gồm 17 điều (từ Điều 35 đến Điều 51). Tìm hiểu nội dung các quy định về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong Luật đất đai năm 2013, đặt trong mối quan hệ so sánh, đối chiếu với những quy định về vấn đề này của Luật đất đai năm 2003 cho thấy có một số sửa đổi, bổ sung chủ yếu sau đây:

Thứ nhất, về hệ thống quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

So với Luật đất đai năm 2003, Luật đất đai năm 2013 bổ sung quy định hệ thống quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất bao gồm: 1) Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp quốc gia; 2) Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp tỉnh; 3) Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp huyện; 4) Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất quốc phòng; 5) Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất an ninh.(8) Việc bổ sung này nhằm tạo sự thống nhất và tính kết nối giữa quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp quốc gia; quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp tỉnh; quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp huyện với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất quốc phòng-an ninh.

Ngoài ra, Luật đất đai năm 2013 đã lược bỏ quy định về quy hoạch sử dụng đất chi tiết đến từng thửa của các xã không nằm trong quy hoạch phát triển đô thị. Theo đó, nội dung sử dụng đất của cấp xã được thể hiện trong quy hoạch sử dụng đất cấp huyện. Điều này có nghĩa là UBND cấp huyện lập quy hoạch sử dụng đất của cấp huyện thì đồng thời lập cả quy hoạch sử dụng đất của cấp xã. Việc sửa đổi quy định này xuất phát từ lí do cơ bản sau đây: Việc lập quy hoạch sử dụng đất chi tiết đến từng thửa là công việc đòi hỏi tính chuyên môn, kỹ thuật, nghiệp vụ cao. Điều này đòi hỏi người lập quy hoạch sử dụng đất phải là người am hiểu sâu sắc về chuyên môn, kĩ thuật, nghiệp vụ của quy hoạch sử dụng đất. Tuy nhiên trên thực tế, đội ngũ cán bộ cấp xã nói chung và cán bộ địa chính cấp xã nói riêng hầu như không có đủ năng lực, kiến thức và trình độ chuyên môn về quy hoạch sử dụng đất, vì vậy không thể thực hiện được công việc này hoặc thực hiện không có hiệu quả. Hơn nữa, để thực hiện việc lập quy hoạch sử dụng đất chi tiết đến từng thửa đòi hỏi nguồn kinh phí lớn, lên đến hàng tỉ đồng mà năng lực tài chính của cấp xã không đáp ứng được.

Thứ hai, về nguyên tắc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

Trong Luật đất đai năm 2013, nguyên tắc này được quy định tại Điều 35 với những sửa đổi, bổ sung như sau:

Một là bổ sung một trong những nguyên tắc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đó là: “Quy hoạch sử dụng đất cấp quốc gia phải đảm bảo tính đặc thù, liên kết của các vùng kinh tế-xã hội; quy hoạch sử dụng đất cấp huyện phải thể hiện nội dung sử dụng đất của cấp xã”.(9) Đây là bổ sung quan trọng bởi lẽ thực tiễn thi hành các quy định về quy hoạch sử dụng đất của Luật đất đai năm 2003 cho thấy các địa phương lập quy hoạch sử dụng đất nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng đất và phù hợp với điều kiện đặc thù của địa phương mình. Do thiếu tính liên kết giữa các vùng, địa phương nên khó tránh khỏi tính bình quân trong quy hoạch sử dụng đất, mà điều dễ nhận thấy nhất là việc quy hoạch khu công nghiệp. Hiện nay, ở tất cả các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đều xây dựng khu công nghiệp. Tuy nhiên, không phải ở tỉnh nào khu công nghiệp cũng có tỉ lệ “lấp đầy” đạt 100%. Có không ít khu công nghiệp ở các tỉnh do không có lợi thế về điều kiện tự nhiên như xa các trung tâm kinh tế lớn, xa cảng biển, ga đường sắt, trình độ dân trí thấp, hệ thống cơ sở hạ tầng kĩ thuật và hạ tầng xã hội nghèo nàn, thiếu đồng bộ v.v. nên tỉ lệ “lấp đầy” các khu công nghiệp đạt thấp, phần lớn đất đai tại đây bị bỏ hoang, hoá. Như vậy, có thể thấy “… quy hoạch sử dụng đất được lập theo đơn vị hành chính không đảm bảo tính kết nối liên vùng, không phát huy được thế mạnh của từng vùng và bảo đảm sự phát triển hài hoà giữa các vùng; quy hoạch sử dụng đất chưa thực hiện phân vùng chức năng sử dụng đất theo không gian mà mới chỉ chú ý đến việc phân bổ các chỉ tiêu loại đất”.(10)

Việc bổ sung nguyên tắc này trong lập quy hoạch sử dụng đất sẽ đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ của quy hoạch sử dụng đất cấp quốc gia đồng thời phát huy được những lợi thế, tiềm năng, thế mạnh đặc thù của mỗi địa phương và khắc phục tình trạng lập quy hoạch sử dụng đất theo kiểu “phong trào”, không chú trọng đến yếu tố hiệu quả kinh tế trong sử dụng đất đai.

Hai là bổ sung quy định việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất phải đảm bảo một trong những nguyên tắc là không chỉ khai thác hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường mà còn đáp ứng đòi hỏi của thích ứng với biến đổi khí hậu (11). Một trong những thách thức mà hiện nay nhân loại đang phải đối mặt, đó là biến đổi khí hậu trên phạm vi toàn cầu. Theo đánh giá của các chuyên gia môi trường thì Việt Nam là một trong 5 nước chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của việc biến đổi khí hậu. Để đối phó với biến đổi khí hậu, nước ta đã xây dựng kịch bản về vấn đề này. Việc phòng, chống biến đổi khí hậu có ý nghĩa lớn về chính trị, kinh tế-xã hội, an ninh-quốc phòng và bảo vệ môi trường, vì vậy Việt Nam không chỉ chuẩn bị các điều kiện vật chất, phương tiện, con người… mà còn phải quy hoạch quỹ đất cần thiết để đáp ứng nhu cầu của quá trình này.

Ba là bổ sung nguyên tắc bảo đảm ưu tiên quỹ đất cho mục đích quốc phòng-an ninh, phục vụ lợi ích quốc gia, công cộng, an ninh lương thực và bảo vệ môi trường trong lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.(12) Sử dụng đất vào mục đích quốc phòng, an ninh, phục vụ lợi ích quốc gia, công cộng, an ninh lương thực và bảo vệ môi trường mang lại lợi ích thiết thực và giá trị xã hội to lớn cho cộng đồng. Vì vậy, việc bổ sung nguyên tắc này trong lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là cần thiết và dễ nhận được sự đồng thuận của xã hội.

Bốn là bổ sung nguyên tắc “quy hoạch, kế hoạch của ngành, lĩnh vực, địa phương có sử dụng đất phải bảo đảm phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định, xét duyệt(13) trong lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nhằm đảm bảo tính thống nhất, tương thích giữa quy hoạch sử dụng đất của cấp dưới với quy hoạch sử dụng đất của cấp trên; giữa quy hoạch sử dụng đất của các ngành với quy hoạch sử dụng đất của các địa phương và giữa quy hoạch sử dụng đất của địa phương với quy hoạch sử dụng đất của trung ương.

Thứ ba, nếu như Luật đất đai năm 2003 có hai điều luật quy định chung về căn cứ để lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất (Điều 22) và quy định chung về nội dung quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất (Điều 23) thì Luật đất đai năm 2013 quy định căn cứ lập quy hoạch sử dụng đất và nội dung quy hoạch sử dụng đất; căn cứ lập kế hoạch sử dụng đất và nội dung kế hoạch sử dụng đất của từng cấp quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất ở từng điều luật cụ thể. Theo đó, Điều 38 quy định căn cứ lập quy hoạch sử dụng đất và nội dung quy hoạch sử dụng đất; căn cứ lập kế hoạch sử dụng đất và nội dung kế hoạch sử dụng đất cấp quốc gia;(14) Điều 39 quy định căn cứ lập quy hoạch sử dụng đất và nội dung quy hoạch sử dụng đất; căn cứ lập kế hoạch sử dụng đất và nội dung kế hoạch sử dụng đất cấp tỉnh;(15)Điều 40 quy định căn cứ lập quy hoạch sử dụng đất và nội dung quy hoạch sử dụng đất; căn cứ lập kế hoạch sử dụng đất và nội dung kế hoạch sử dụng đất cấp huyện;(16) Điều 41 quy định căn cứ lập quy hoạch sử dụng đất và nội dung quy hoạch sử dụng đất; căn cứ lập kế hoạch sử dụng đất và nội dung kế hoạch sử dụng đất quốc phòng-an ninh.(17) Quy định này của Luật đất đai năm 2013 mang tính khoa học hơn và thể hiện được một số đặc thù trong căn cứ, nội dung quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất giữa các cấp quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; đồng thời khắc phục tình trạng “Luật còn quy định chung vềnguyên tắc, căn cứ và nội dung quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cho các cấp, do đó chưa thể hiện tính vĩ mô, định hướng của quy hoạch cấp trên và tính chi tiết, cụ thể của quy hoạch cấp dưới”.(18)

Ngoài ra, khi so sánh giữa Luật đất đai năm 2003 và Luật đất đai năm 2013 về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất giữa các cấp lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, chúng ta có thể thấy một số điểm khác biệt như sau:

Một là theo Luật đất đai năm 2013, một trong những căn cứ lập quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh, cấp huyện và quy hoạch sử dụng đất quốc phòng-an ninh là dựa vào định mức sử dụng đất. Tuy nhiên, nội dung này không phải là một trong những căn cứ lập quy hoạch sử dụng đất cấp quốc gia.

Hai là trong Luật đất đai năm 2013, một trong những nội dung của quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh, cấp huyện và quy hoạch sử dụng đất quốc phòng-an ninh là xác định các khu vực sử dụng đất theo chức năng sử dụng hoặc xác định các khu vực sử dụng đất theo chức năng sử dụng đến từng đơn vị hành chính cấp xã hoặc xác định nhu cầu sử dụng đất quốc phòng-an ninh trong kì quy hoạch sử dụng đất phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội, quốc phòng-an ninh và kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của quốc gia. Trong khi đó, nội dung của quy hoạch sử dụng đất cấp quốc gia lại không có vấn đề này.

Ba là một trong những nội dung của quy hoạch sử dụng đất cấp quốc gia là xác định các chỉ tiêu sử dụng đất đối với nhóm đất nông nghiệp, nhóm đất phi nông nghiệp và nhóm đất chưa sử dụng. Trong khi đó, một trong những nội dung quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh đề cập là việc xác định diện tích các loại đất đã được phân bổ trong quy hoạch sử dụng đất cấp quốc gia và diện tích các loại đất theo nhu cầu sử dụng đất cấp tỉnh; nội dung của quy hoạch sử dụng đất cấp huyện đề cập là việc xác định diện tích các loại đất đã được phân bổ trong quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh và diện tích các loại đất theo nhu cầu sử dụng đất của cấp huyện và cấp xã; nội dung của quy hoạch sử dụng đất quốc phòng-an ninh đề cập là xác định nhu cầu sử dụng đất quốc phòng-an ninh trong kì quy hoạch sử dụng đất phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội, quốc phòng-an ninh và kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của quốc gia. Điều này cho thấy sự khác biệt giữa nội dung quy hoạch sử dụng đất cấp quốc gia với nội dung quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh, cấp huyện và quy hoạch sử dụng đất quốc phòng-an ninh. Quy hoạch sử dụng đất cấp quốc gia hướng đến việc xác định chỉ tiêu sử dụng đất đối với các loại đất (mang tính vĩ mô); quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh, cấp huyện và quy hoạch sử dụng đất quốc phòng-an ninh tập trung vào việc xác định diện tích các loại đất đã được phân bổ trong quy hoạch sử dụng đất cấp quốc gia hoặc trong quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh và diện tích các loại đất theo nhu cầu của cấp tỉnh, của cấp huyện và cấp xã.

Bốn là điểm đáng chú ý của Luật đất đai năm 2013 về quy hoạch sử dụng đất là quy định đối với quận có quy hoạch đô thị đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt thì không lập quy hoạch sử dụng đất nhưng phải lập kế hoạch sử dụng đất hàng năm. Trường hợp quy hoạch đô thị của quận không phù hợp với diện tích đã được phân bổ trong quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh thì phải điều chỉnh quy hoạch đô thị cho phù hợp với quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh.(19) Quy định này góp phần đảm bảo tính bền vững, tránh gây xáo trộn của quy hoạch đô thị đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt, đồng thời tiết kiệm kinh phí sử dụng vào việc xây dựng quy hoạch sử dụng đất trong bối cảnh quy hoạch đô thị của UBND quận đã được cấp có thẩm quyền xét duyệt và triển khai thực hiện.

Thứ tư, Luật đất đai năm 2013 sửa đổi, bổ sung quy định về kì kế hoạch sử dụng đất cấp huyện.

Luật  đất  đai năm 2003 quy định kì kế hoạch sử dụng đất của cả nước, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, huyện quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, xã, phường, thị trấn là 5 năm.(20) Trong Luật đất đai năm 2013, quy định này được sửa đổi như sau: “Kì kế hoạch sử dụng đất cấp quốc gia, cấp tỉnh và kì kế hoạch sử dụng đất quốc phòng, đất an ninh là 05 năm. Kế hoạch sử dụng đất cấp huyện lập hàng năm”.(21) Điều này nhằm nâng cao tính khả thi của kì kế hoạch sử dụng đất do UBND cấp huyện lập.

Thứ năm, bên cạnh việc kế thừa nội dung của Luật đất đai năm 2003 về trách nhiệm tổ chức lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của Chính phủ, UBND cấp tỉnh, UBND cấp huyện, Luật đất đai năm 2013 bổ sung quy định Bộ tài nguyên và môi trường chủ trì giúp Chính phủ trong việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp quốc gia; cơ quan quản lí đất đai cấp tỉnh, cấp huyện chủ trì giúp UBND cùng cấp trong việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.(22) Điều này góp phần tăng cường trách nhiệm của cơ quan quản lí đất đai các cấp trong việc giúp Chính phủ và UBND các cấp thực hiện quản lí nhà nước về đất đai.

Thứ sáu, Luật đất đai năm 2013 bổ sung quy định về lấy ý kiến về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.

Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trực tiếp tác động đến việc sử dụng đất của người dân và tiềm ẩn nguy cơ làm đảo lộn cuộc sống, sản xuất của họ; bởi lẽ, do quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là cơ sở để Nhà nước phân định mục đích sử dụng đất, chuyển  đổi mục  đích sử  dụng đất.  Vì vậy, để đảm bảo việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất phù hợp với mong muốn, lợi ích hợp pháp của người dân qua đó tạo sự đồng thuận xã hội, pháp luật đất đai đề cập nội dung lấy ý kiến đóng góp của nhân dân trong lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Tuy nhiên, Luật đất đai năm 2003 quy định vấn đề này trong một khoản (khoản 5 Điều 25), với phạm vi lấy ý kiến đóng góp hạn chế, đó là chỉ thực hiện đối với quy hoạch sử dụng đất của xã không nằm trong khu vực quy hoạch phát triển đô thị được lập chi tiết gắn với thửa đất. Trong Luật đất đai năm 2013, nội dung này được quy định thành điều luật riêng (Điều 45) và việc lấy ý kiến được thực hiện ở tất cả hệ thống quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, với quy định cụ thể về hình thức, nội dung và thời hạn lấy ý kiến nhân dân.

Điều này cho thấy Nhà nước rất coi trọng việc tham vấn ý kiến người dân trong quá trình lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nhằm nâng cao tính khả thi của quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, đồng thời tạo cơ sở pháp lí xác lập trách nhiệm của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc tham vấn ý kiến của người dân khi lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.

Thứ bảy, để đảm bảo việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất mang tính khoa học, tính thống nhất, tính hợp lí và tính khả thi, Luật đất đai năm 2013 bổ sung quy định về thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất với những nội dung như sau:

Một là Thủ tướng Chính phủ thành lập hội đồng thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp quốc gia. Bộ tài nguyên và môi trường có trách nhiệm giúp hội đồng thẩm định trong quá trình thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.

Hai là Bộ trưởng Bộ tài nguyên và môi trường thành lập hội đồng thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất quốc phòng-an ninh và quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp tỉnh. Cơ quan quản lí đất đai ở trung ương có trách nhiệm giúp hội đồng thẩm định trong quá trình thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.

Ba là chủ tịch UBND cấp tỉnh thành lập hội đồng thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp huyện. Cơ quan quản lí đất đai cấp tỉnh, cấp huyện có trách nhiệm giúp hội đồng thẩm định trong quá trình thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.

Bốn là nội dung thẩm định quy hoạch sử dụng đất bao gồm: 1) Cơ sở pháp lí, cơ sở khoa học của việc lập quy hoạch sử dụng đất; 2) Mức độ phù hợp của phương án quy hoạch sử dụng đất với chiến lược, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội, quốc phòng-an ninh của quốc gia và địa phương; quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực; 3) Hiệu quả kinh tế-xã hội, môi trường; 4) Tính khả thi của phương án quy hoạch sử dụng đất.

Năm là nội dung thẩm định kế hoạch sử dụng đất bao gồm: 1) Mức độ phù hợp của kế hoạch sử dụng đất với quy hoạch sử dụng đất; 2) Mức độ phù hợp của kế hoạch sử dụng đất với kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội; 3) Tính khả thi của kế hoạch sử dụng đất.

Thứ tám, Luật đất đai năm 2013 bổ sung quy định về tư vấn lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, theo đó: 1) Trong quá trình lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, cơ quan chịu trách nhiệm chủ trì việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được thuê tư vấn lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; 2) Chính phủ quy định điều kiện của tổ chức, cá nhân hoạt động tư vấn lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Như vậy, việc bổ sung quy định về tư vấn lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất sẽ giúp tháo gỡ khó khăn cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi thực hiện việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.

Thứ chín, Luật đất đai năm 2013 sửa đổi, bổ sung quy định về công bố công khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.

Luật đất đai năm 2013 quy định cụ thể hơn trách nhiệm công bố công khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất (Điều 48). Đây là một trong những giải pháp nhằm đảm bảo tính công khai, minh bạch trong lĩnh vực đất đai, đảm bảo sự bình đẳng trong tiếp cận thông tin đất đai.

Thứ mười, về thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, Luật đất đai năm 2013 có những sửa đổi, bổ sung như sau:

Một là Luật đất đai năm 2013 bổ sung nội dung Thủ tướng Chính phủ phân bổ chỉ tiêu sử dụng đất cho các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Bộ quốc phòng, Bộ công an trên cơ sở các chỉ tiêu sử dụng đất cấp quốc gia đã được Quốc hội quyết định.

Hai là trường hợp quy hoạch sử dụng đất đã được công bố mà chưa có kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện thì người sử dụng đất được tiếp tục sử dụng và được thực hiện các quyền của người sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

Trường hợp đã có kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện thì người sử dụng đất trong khu vực phải chuyển mục đích sử dụng đất và thu hồi đất theo kế hoạch, được tiếp tục thực hiện các quyền của người sử dụng đất nhưng không được xây dựng mới nhà ở, công trình, trồng cây lâu năm. Nếu người sử dụng đất có nhu cầu cải tạo, sửa chữa nhà ở, công trình hiện có thì phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép theo quy định của pháp luật. Điều này tạo cơ sở pháp lí để người sử dụng đất được thực hiện các quyền do pháp luật đất đai quy định.

Ba là diện tích đất ghi trong kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện đã được công bố phải thu hồi để thực hiện dự án hoặc phải chuyển mục đích sử dụng đất mà sau 3 năm chưa có quyết định thu hồi đất hoặc chưa được phép chuyển mục đích sử dụng đất thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt kế hoạch sử dụng đất phải điều chỉnh, huỷ bỏ và phải công bố việc điều chỉnh, huỷ bỏ việc thu hồi hoặc chuyển mục đích đối với phần diện tích đất ghi trong kế hoạch sử dụng đất.

Trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt kế hoạch sử dụng đất không điều chỉnh, huỷ bỏ hoặc có điều chỉnh, huỷ bỏ nhưng không công bố việc điều chỉnh, huỷ bỏ thì người sử dụng đất không bị hạn chế về quyền của người sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Đây là sửa đổi, bổ sung quan trọng nhằm xử lí tình trạng quy hoạch sử dụng đất “treo” đã tồn tại trong nhiều năm qua ở nước ta, gây khó khăn cho quá trình sử dụng đất của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong khu vực quy hoạch, đồng thời nâng cao tính khả thi đối với việc thực hiện quyền của người sử dụng đất được ghi nhận trong pháp luật đất đai hiện hành.

Bốn là khi kết thúc kì quy hoạch sử dụng đất mà các chỉ tiêu quy hoạch sử dụng đất chưa thực hiện hết thì vẫn được tiếp tục thực hiện đến khi quy hoạch sử dụng đất kì tiếp theo được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định, phê duyệt.

Thứ mười một, Luật đất đai năm 2013 bổ sung quy định về báo cáo thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Theo đó, đề cập trách nhiệm báo cáo hàng năm về kết quả thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của các cơ quan nhà nước; báo cáo kết quả thực hiện kế hoạch sử dụng đất hàng năm đối với năm cuối của kế hoạch sử dụng đất kì đầu phải kèm theo báo cáo tổng hợp việc thực hiện cả kì kế hoạch sử dụng đất; báo cáo kết quả thực hiện kế hoạch sử dụng đất hàng năm đối với năm cuối của kì quy hoạch sử dụng đất phải kèm theo báo cáo tổng hợp việc thực hiện cả kế hoạch sử dụng đất kì cuối và báo cáo tổng hợp việc thực hiện cả kì quy hoạch sử dụng đất. Điều này góp phần đề cao trách nhiệm của các cấp, ngành và địa phương trong việc tổ chức thực hiện nghiêm chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt.

Thứ mười hai, Luật đất đai năm 2013 bổ sung quy định về giải quyết phát sinh về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất sau khi Luật đất đai năm 2013 có hiệu lực thi hành(23)./.

 ĐỖ VIỆT CƯỜNG[1]

 

[1] Thạc sĩ luật học, Khoa luật, Trường đại học kinh tế, Đại học Đà Nẵng

(1).Xem: Khoản 2 Điều 3 Luật đất đai năm 2013.

 

(2).Xem: Khoản 3 Điều 3 Luật đất đai năm 2013.

 

(3).Xem: Khoản 1 Điều 37 Luật đất đai năm 2013.

 

(4). ì kế hoạch sử dụng đất cấp quốc gia, cấp tỉnh và kì kế hoạch sử dụng đất quốc phòng, an ninh là 5 năm. ế hoạch sử dụng đất cấp huyện được lập hàng năm (khoản 2 Điều 37 Luật đất đai năm 2013).

 

(5).Xem: Khoản 1 Điều 13 Luật đất đai năm 2013.

 

(6). Nhà nước quyết định mục đích sử dụng đất thông qua quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất và cho phép chuyển mục đích sử dụng đất (Điều 14 Luật

 

đất đai năm 2013).

 

(7). Đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và đúng mục đích sử dụng đất (khoản 1 Điều 6 Luật đất đai năm 2013).

 

(8).Xem: Điều 36 Luật đất đai năm 2013.

 

(9).Xem: Khoản 2 Điều 35 Luật đất đai năm 2013. (10). Đến cuối năm 2011 đã có 11 quy hoạch xây dựng vùng liên tỉnh được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, 9 quy hoạch xây dựng vùng dọc theo các tuyến đường cao tốc đang lập. Xem: Bộ tài nguyên và môi trường, Báo cáo số 193/BC-BTNMT về tổng k ết tình hình thi hành Luật đất đai 2003 và định hướng sửa đổi Luật đất đai, ngày 06/9/2012, tr. 14.

 

(11).Xem: Khoản 4 Điều 35 Luật đất đai năm 2013. (12).Xem: Khoản 7 Điều 35 Luật đất đai năm 2013. (13).Xem: Khoản 8 Điều 35 Luật đất đai năm 2013. (14).Xem: Điều 38 Luật đất đai năm 2013.

 

(15).Xem: Điều 39 Luật đất đai năm 2013. (16).Xem: Điều 40 Luật đất đai năm 2013. (17).Xem: Điều 41 Luật đất đai năm 2013.

 

(18).Xem: Bộ tài nguyên và môi trường, tlđd, tr.15.

(19).Xem: Khoản 5 Điều 40 Luật đất đai năm 2013.

(20).Xem: Khoản 2 Điều 24 Luật đất đai năm 2003.

(21).Xem: Khoản 2 Điều 37 Luật đất đai năm 2013.

(22).Xem: Điều 42 Luật đất đai năm 2013.

(23).Xem: Điều 51 Luật đất đai năm 2013.